luận văn thạc sĩ quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố hải dương” - Pdf 59

1

1

LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn “Quản lý nợ thuế đối với Doanh nghiệp tư nhân
trên địa bàn Thành phố Hải Dương” là công trình nghiên cứu độc lập, các tài liệu tham
khảo, số liệu thống kê phục vụ mục đích nghiên cứu trong công trình này được sử dụng
đúng quy định, không vi phạm quy chế bảo mật của Nhà nước. Tác giả xin cam đoan
những vấn đề nêu trên là đúng sự thật. Nếu sai, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước pháp luật.
Tác giả luận văn

Trần Thị tuyết

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


2

2

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Thương
Mại, xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Sau đại học đã giảng dạy tạo điều
kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn của mình.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS. TS Nguyễn Hoàng Long đã

Thuế tiêu thụ đặc biệt

2

NSNN

Ngân sách Nhà nước

3

TNDN

Thu nhập doanh nghiệp

4

KBNN

Kho bạc Nhà nước

5

UBNN

Ủy ban nhân dân

6

MST


Quản lý thuế

12

TCT

Tổng cục thuế

13

SXKD

Sản xuất kinh doanh

14

DN

Doanh nghiệp

15

DNTT

Doanh nghiệp tư nhân

16

CCT


Thu nhập cá nhân


5

PHỤ LỤC BẢNG BIỂU
Bảng
Bảng 2.1

Tên bảng

Trang

Cơ cấu tổ chức lao động phân theo đội thuế
Cơ cấu lao động phân theo ngạch công chức và chức danh

44

Bảng 2.3

Cơ cấu lao động phân theo trình độ và độ tuổi

47

Bảng 2.4

Kết quả thu NSNN của Chi cục thuế Thành phố Hải Dương
giai đoạn 2013- 2015

50

giai đoạn 2013-2015
Tình hình tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế
giai đoạn 2013-2015
Tình hình thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ thuế tại
Chi cục thuế Thành phố Hải Dương giai đoạn 2013-2015
Kết quả thu nợ đọng các DNTN giai đoạn 2013 - 2015
Hiệu quả của biện pháp đôn đốc thu nợ đối với các
DNTN giai đoạn 2013 - 2015
Đánh giá của doanh nghiệp tư nhân về công tác quản lý
nợ thuế của Chi cục thuế Thành phố Hải Dương
Đánh giá của doanh nghiệp tư nhân về năng lực của cán bộ
thuế trong công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế Thành
phố Hải Dương
Tự đánh giá của cán bộ thuế trong công tác quản lý nợ
tại Chi cục thuế Thành phố Hải Dương

45

51
54
54
55
59
60
62
64
65
66
68
69

59


7

7

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế không chỉ là nguồn thu chủ yếu cho Ngân sách Nhà nước, mà thuế còn là
một công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực hiện điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế góp phần điều
hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội.
Thuế là khoản thu bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế nên
trong thực tế có nhiều các nhân, tổ chức, doanh nghiệp… vẫn còn tâm lý chây ỳ nộp thuế,
chiếm dụng tiền thuế, thậm chí còn có hiện tượng trốn thuế làm cho số nợ đọng thuế còn
rất lớn, nhiều khoản nợ thuế tồn tại nhiều năm không có khả năng thu, nhiều đối tượng có
nợ thuế đã không còn tồn tại do bị giải thể, mất tích… gây thất thu lớn cho NSNN. Do
vậy, công tác quản lý nợ thuế là một khâu quan trọng trong quản lý thuế, là một trong
những chức năng chính của mô hình quản lý thuế theo chức năng trong cơ chế tự khai tự
nộp. Kết quả đem lại từ việc đôn đốc thu nợ thuế là một trong những thước đo cơ bản để
đánh giá chất lượng và hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý thuế. Đồng thời, công tác
quản lý nợ thuế có vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế
của đối tượng nộp thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế cho Ngân sách
Nhà nước nhằm chống thất thu thuế, đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế.
Luật quản lý thuế được thực hiện tạo ra cơ sở pháp lý để đổi mới quản lý nợ thuế.
Ngược lại, việc quản lý nợ đọng thuế tốt lại có tác động to lớn với quản lý thuế nói chung,
tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả từ phía đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế.
Trong bối cảnh đó Chi cục Thuế (CCT) Thành phố Hải Dương đã và đang triển
khai quản lý thuế nói chung, trong đó có quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tư nhân
(DNTN). Thực tế thời gian qua cho thấy quản lý nợ thuế ở Chi cục Thuế Thành phố Hải

- “Reform of Tax Administration in Developing Nations” của By Amardeep
Dhillon, Accenture Jan G. Bouwer, Accenture có đề cập đến cải cách trong quản lý thuế,
tuy nhiên chưa phân tích cụ thể đầy đủ về lý luận và thực tiễn của quản lý nợ thuế.
- “The Role Administrative Issues in Tax Reform: Simplicity, Compliance and
Administration” của William G. Gale Janet Holtzblatt. Công trình này xem xét vai trò
phức tạp của quản lý và cải cách thuế, vai trò của các yếu tố hành chính trong chính sách
thuế và cải cách thuế tuy nhiên chưa nghiên cứu cụ thể về quản lý nợ thuế.
2.2. Tình hình nghiên cứu đề tài trong nước
Quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế nói riêng thuế ở
Việt Nam đã thu hút được sự quan tâm của khá nhiều nhà khoa học, nhiều học viên Đại
học, sau đại học viết các đề tài nghiên cứu, bài viết có liên quan đến quản lý nợ thuế. Cụ
có một số công trình nghiên cứu, bài báo liên quan, đề cập đến những khía cạnh nhất định
đến vấn đề quản lý nợ thuế như:
Một số công trình hướng nghiên cứu liên quan đến đề tài quản lý nợ thuế:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


9

9

- “Nghiên cứu quản lý kinh tế doanh nghiệp”: những vấn đề về cải cách doanh
nghiệp Nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước của PGS.TS Phan Thị Thu Hoài Trường Đại học Thương Mại chủ nhiệm.
- “ Nghiên cứu phát triển thương mại hàng hóa dịch vụ hiện đại phát triển cơ sở
hạ tầng thương mại” của GS.TS Đinh Văn Sơn - Trường Đại học Thương Mại chủ nhiệm
- “ Nghiên cứu các phương thức, loại hình kinh tế thương mại các hoạt động đầu tư và
sở hữu trí tuế ở Việt Nam” của GS.TS Đinh Văn Sơn, PGS.TS Nguyễn Hoàng Long - Trường
Đại học Thương Mại.

học “ Đi tìm lời giải cho bài toán nợ thuế tại Việt Nam”, Tạp chí tài chính số 3 (569)
2012. Nhóm tác giả đã tìm hiểu, phân tích về thực trạng nợ thuế, những nỗ lực đôn đốc
và quản lý nợ thuế, đưa ra những hạn chế, nguyên nhân của nợ thuế và trong quản lý nợ
thuế bao gồm những nguyên nhân khách quan và những nguyên nhân chủ quan để từ đó
đưa ra giải pháp hạn chế nợ thuế.
- Hoài Phương (2013) với bài báo khoa học “ Chống nợ đọng thuế cần cơ chế
quản lý cứng rắn hơn”, Tạp chí tài chính số 3 (569) 2012. Tác giả đã phân tích về cơ chế
quản lý thuế và phân tích khá rõ ràng tác động của lãi suất đến hành vi nợ thuế từ đó đề
xuất một số giải pháp.
Ngoài ra còn có các luận văn thạc sỹ đã được bảo vệ thành công tại các trường Đại
học, viện nghiên cứu như:
Luận văn Thạc sỹ “Quản lý nợ thuế trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương”
(2015) của tác giả Nguyễn Viết Trung. Tác giả đã đưa ra nội dung của nợ thuế nhưng phần
quy trình quản lý nợ thuế trình bày còn hạn chế.
Luận văn Thạc sỹ “Quản lý thu thuế trên địa bàn tỉnh Hải Dương” (2015) của tác
giả Phạm Ngọc Dũng. Tác giả đã đưa ra nội dung của quản lý thuế.
Luận văn Thạc sỹ “Tăng cường quản lý nợ thuế tại Cục Thuế thành phố Hà Nội
hiện nay” (2014) của tác giả Phạm Ngọc Thạch. Tác giả mới chỉ đề cấp đến quy trình
quản lý nợ thuế trong phần lý luận còn thực tiễn tại thành phố Hà Nội chưa được cụ thể.
Luận văn Thạc sỹ “Giảm thiểu nợ thuế tại Chi cục thuế huyện Yên Châu, tỉnh Sơn
La” (2015) của tác giả Phạm Ngọc Hải. Về lý luận tác giả đã đề cập đến quy trình quản
lý nợ thuế nhưng trong thực trạng chưa đưa ra quy trình cụ thể.
Luận văn Thạc sỹ “Nâng cao hiệu quản quản lý nợ thuế tại Cục thuế tỉnh Điện Biên”
(2014) của tác giả Nguyễn Tuấn Anh. Tác giả đã trình bày phần quy trình quản lý nợ thuế
của Cục thuế tỉnh Điện Biên.Tuy nhiên, phần giải pháp đưa ra vẫn còn chung chung.
Tóm lại những nghiên cứu nêu trên đã làm nổi bật lên những khía cạnh riêng và đưa
ra những giải pháp đối với vấn đề quản lý nợ thuế. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu nêu
trên chỉ nghiên cứu ở một vấn đề hoặc có nghiên cứu đầy đủ nhưng chưa đưa ra giải pháp
trong dài hạn. Riêng đề tài nghiên cứu khoa học cấp học viện của TS Lê Xuân Trường có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về quản lý nợ thuế đối với
doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương và do Chi cục Thuế Thành phố
Hải Dương quản lý.
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu quản lý nợ thuế của doanh nghiệp tư nhân
trên địa bàn Thành phố Hải Dương của Chi cục Thuế Thành phố Hải Dương.
- Phạm vi về thời gian:
+ Khảo sát các số liệu thứ cấp từ 2013 - 2015. Số liệu sơ cấp điều tra năm 2013;
+ Kiến nghị giải pháp dự kiến đến năm 2020.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


12

1
2
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận là phép duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm
của Đảng, Nhà nước ta về quản lý Thuế; sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết
hợp với phân tích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu so sánh trên cơ sở phân tích tình hình
thực tế của hệ thống quản lý Nợ thuế đối với các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn
Thành phố Hải Dương từ đó xác định các tồn tại, đưa ra những giải pháp cụ thể.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nợ thuế

Theo quan điểm của phân phối thu nhập: “Thuế hình thức phân phối và phân phối
lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung
của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm
vụ của Nhà nước”.
Theo quan điểm của người nộp thuế: “Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc
mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp
ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


14

1
4

Theo giáo trình Lý thuyết thuế của Học viện Tài chính định nghĩa: “Thuế là một
khoản thu nhập được chuyển giao một cách bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho
Nhà nước, do pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”.
Hiện nay, tuy chưa có một khái niệm về thuế thống nhất nhưng các nhà kinh tế đều
nhất trí cho rằng, để làm rõ bản chất của thuế thì khái niệm về thuế phải nêu bật được các
khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách
quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt – việc chuyển giao thu nhập có tính bắt buộc do quyền
lực của Nhà nước chi phối.
Thứ hai, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa
Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp.
Thứ ba, việc sử dụng tiền thuế phải dùng cho mục đích chi tiêu công.
Thứ tư, các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã

hoá, dịch vụ công cộng do Nhà nước cung cấp mà người nộp thuế được hưởng;
- Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hoá, dịch vụ
trực tiếp cho mình rồi mới nộp thuế;
- Mức độ cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng không nhất thiết phải ngang bằng
với mức độ đóng góp của người nộp thuế;
Mức chuyển giao thu nhập nhiều hay ít chỉ căn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế
và mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội cũng như nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước.
Thứ ba, Thuế chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị trong từng
thời kỳ nhất định:
- Nguồn thu của thuế là kết quả của quá trình hoạt động kinh tế;
- Thuế là công cụ quản lý của Nhà nước nên nó chịu sự chi phối của thể chế
chính trị;
- Đối tượng nộp thuế là các thành viên trong xã hội nên chịu sự chi phối chung
của các quy luật xã hội.
Thứ tư, Thuế có tính lãnh thổ:
- Tính lãnh thổ của thuế thể hiện phạm vi và quyền hạn đánh thuế của một
quốc gia;
- Thuế được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia bằng quyền lực pháp lý của
Nhà nước với tài sản và con người.
Những đặc điểm của thuế phản ánh bản chất và nội dung bên trong của thuế
1.1.1.2. Phân loại thuế
Phân loại theo tính chất chuyển dịch về thuế:
Bao gồm thuế gián thu và thuế trực thu để phân biệt đối tượng nộp thuế:
Thuế gián thu:
Là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là người chịu thuế. Thuế gián
thu là loại thuế được cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành trong giá mua hàng hóa,
nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu đung. Thực chất người tiêu dùng phải trả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Thuế đảm bảo nguồn thu lớn, ổn định và thường xuyên cho NSNN vì nguồn thu
vào NSNN qua thuế là tổng sản phẩm xã hội;
- Phương thức huy động của thuế là phương thức chuyển giao bắt buộc nên đảm
bảo khả năng huy động cao.
Thuế là công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
Nền kinh tế thị trường bên cạnh những mặt tích cực còn chứa đựng những khuyết
tật vốn có: mất công bằng, thiếu ổn định, thất nghiệp…vì vậy để khắc phục những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


17

1
7

khuyết tật đó Nhà nước có thể sử dụng thuế là một trong các công cụ để can thiệp vào
quá trình hoạt động của nền kinh tế.
- Giảm bớt tính chu kỳ của nền kinh tế thị trường, đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổn
định, cụ thể như sau: Khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến hạ thuế, hạ giá hàng hoá, kích
cầu, tăng đầu tư, mở rộng sản xuất,tăng nhu cầu lao động, tăng việc làm. Khi nền kinh tế
phát triển quá nóng (mất cân đối) thì ngược lại;
- Điều tiết việc làm và thất nghiệp: Thất nghiệp cao dẫn đến tăng chi tiêu của Chính
phủ, giảm thuế,tăng tổng cầu,tăng đầu tư, mở rộng sản xuất, tăng việc làm;
- Lạm phát dẫn đến tăng thuế, giảm tổng cầu, giảm lạm phát;
- Thuế có vị trí quan trọng trong việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý, hướng dẫn và
khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng quan hệ kinh tế giữa các thành phần kinh tế
theo định hướng phát triển của Nhà nước;
- Thuế được sử dụng như một công cụ thực hiện chính sách đối ngoại bảo hộ sản

Khái niệm quản lý thuế:
Có nhiều định nghĩa về quản lý thuế, mỗi loại định nghĩa đề cập đến một khía
cạch của quản lý thuế. Có thuế đưa ra khái niệm về quản Lý thuế theo giáo trình lý thuyết
thuế của Học viện Tài chính định nghĩa như sau: “Quản lý thuế là hoạt động của Hệ
thống cơ quan công quyền quản lý thuế nhằm đảm bảo thực thi pháp luật về thuế đối với
các đối tượng nộp thuế”.
Chức năng của quản lý thuế:
- Chủ thể quản lý: là thuế là Nhà nước mà trực tiếp là Hệ thống các cơ quan thuế
các cấp.
- Đối tượng bị quản lý: là các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ về thuế.
- Mục đích quản lý: là để đối tượng nộp thuế và các đối tượng các liên quan phải
thực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế của mình.
- Phương tiện quản lý thuế: là sử dụng luật định của thuế như các quy định về
đăng ký thuế, nộp thuế, hoàn thuế, thanh tra thuế...với bộ máy, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật
chất cần thiết để quản lý.
- Chức năng chủ yếu của quản lý thuế: là kiểm soát sự tuân thủ và áp dụng các
khoản phạt theo Luật thuế để răn đe những đối tượng nộp thuế vị phạm.
Vai trò phải quản lý thuế:
Như đã biết thuế là nguồn thu chủ yếu của Nhà nước. Trong quản lý thu ngân sách
Nhà nước thì việc đảm bảo quản lý thu thuế là quan trọng nhất và mang tính quyết định.
Do đó quản lý thuế là việc làm hết sức cần thiết:
Thứ nhất, Quản lý thuế quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập
trung chính xác, kịp thời, thời xuyên ổn định vào ngân sách Nhà nước.
Quản lý thuế hiệu quả, đảm bảo được các yêu cầu nguyện vọng của nhân dân thì
việc thu thuế được tiến hành một cách nhanh chóng, dễ dàng. Nguồn thu từ thuế kịp thời,
ổn định góp phần phát triển kinh tế xã hội bởi Nhà nước có đủ kinh phí để chi trả cho
những chi tiêu của mình, phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích xã hội. Vì vậy quản lý thuế sẽ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN


Chính sách là hệ thống quan điểm và đường lối đạt được những mục tiêu nhất định
trong quản lý một tổ chức hay quản lý Nhà nước. Như vậy, nói đến chính sách là nói đến
việc cần làm gì và tại sao phải làm như vậy. Tức là, có thể hiểu, là một hệ thống những
quan điểm, đường lối, phương châm điều tiết thu nhập tổ chức và các cá nhân xã hội
thông qua thuế.
Nội dung chính sách thuế:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


20

2
0

- Mục tiêu của chính sách thuế: xác định mức độ điều tiết qua thuế, những tác
động kinh tế - xã hội của chính sách như thế nào và tại sao lại điều tiết ở mức độ đó cũng
như có tác động kinh tế - xã hội đó.
- Phạm vi tác động của chính sách thuế: chính sách thuế sẽ tác động đến những tổ
chức cá nhân nào trong xã hội. Việc xác định rõ phạm vi tác động của chính sách thuế
cho phép tập chung những mục tiêu quan trọng của chính sách, đồng thời, tránh được hậu
quả không mong muốn của chính sách.
- Thời gian hiệu lực của chính sách: xác định rõ chính sách thuế được áp dụng
trong thời kỳ nào xác định rõ thời điểm bắt đầu và kết thúc của chính sách.
- Trách nhiệm thực hiện chính sách thuế: Chỉ rõ tổ chức, cá nhân nào có trách
nhiệm thực hiện chính sách như: cụ thuể hóa chính sách thuế thành pháp luật thuế, tôt
chức thực hiện pháp luật thuế...
- Phương châm chính sách: chỉ rõ những quy tắc, yêu cầu đạt được của chính sách

nghĩa vụ kê khai nộp thuế cho Nhà nước thì cơ quan thuế cần tác động vào tất cả những
yếu tố đều khiến hành vi tuân thủ thuế của NNT. Để làm được điều đó cần tổ chức thực
hiện các chức năng quản lý nợ thuế. Đó là các chức năng chủ yếu sau:
- Chức năng tuyên truyền hỗ trợ NNT: Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT được
xem là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược cải cách và hiện đại hóa
ngành thuế cho phù hợp với tiến trình hội nhập và phát điển kinh tế.
Hoạt động tuyên truyền pháp luật về thuế được xem là việc cơ quan thuế sử dụng
các hình thức, phương tiện để cung cấp, truyền bá thông tin về pháp luật thuế đối với mọi
người dân, các tổ chức, cá nhân kinh doanh nhằm giúp cho họ hiểu rõ được bản chất và ý
nghĩa của việc nộp thuế, quyền và nghĩa vụ của minh trong việc nộp thuế.
Dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế là loại dịch vụ công do cơ quan thuế cung cấp để
hôc trợ NNT thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, bao gồm các dịch vụ giải thích pháp luật, tư
vấn hỗ trợ việc chuẩn bị kê khai, tính thuế và xác định nghĩa vụ thuế. Vì vậy, cơ quan
thuế phải tuyên truyền, giải thích, giáo dục pháp luật thuế cho NNT và toàn dân để mội
công dân, người nộp thuế hiểu về thuế, pháp luật thuế...
Trong bối cảnh hiện nay, tình trạng trốn thuế, tránh thuế và các sai phạm về thuế
còn khá phổ biến. Một trong những nguyên nhân trên là do công tác tuyên truyền hỗ trợ
NNT chưa thực sự được coi trọng đúng mức làm cho nhận thức và hiểu biết của người
dân nói chung và NNT nói riêng về thuế còn hạn chế
- Chức năng quản lý kê khai và kế toán thuế:
Trực tiếp tiếp nhận và xử lý hồ sơ khai thuế, hồ sơ hoàn thuế, các tài liệu chứng từ
có liên quan đến nghĩa vụ thuế của NNT theo quy định, nhập dự liệu, hạch toán ghi chép
toàn bộ các thông tin trên tờ khai, chức từ nộp thuế và các tài liệu lên quan đến nghĩa vụ
thuế của NNT.
Tiếp nhận và đề xuất giải quyết các hồ sơ xin gia hạn thời hạn kê khai thuế, thời
hạn nộp thuế.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trái phép, trốn lậu thuế. Lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thầm quyền khởi tố các tổ chức, cá
nhân vi phạm pháp luật về thuế theo quy định.
1.2. Nội dung quản lý nợ thuế
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ thuế
1.2.1.1. Khái niệm và đặc điểm nợ thuế
Khái niệm nợ thuế:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


23

2
3

Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao. Mỗi
khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của người nộp thuế và sẽ trở
thành khoản nộp bắt buộc mà người nộp thuế phải có nghĩa vụ chuyển giao cho Nhà
nước. Tuy nhiên, trong thực tiễn do nhiều lý do khác nhau, người nộp thuế chưa nộp hoặc
không nộp thuế cho Nhà nước theo thời hạn quy định, từ đó hình thành nên khoản nợ
thuế.
Nợ thuế là số tiền được xác định phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật
nhưng chưa được nộp vào NSNN.
Người nợ thuế là các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế còn nợ các khoản
thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật.
Mức nợ thuế là số tiền thuế còn nợ của người nợ thuế tại một thời điểm, ở một
ngưỡng nào đó khi phân loại nợ thuế.
Để hiểu rõ hơn bản chất của nợ thuế, cần thiết phải nghiên cứu đặc điểm của nợ thuế.

Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm vi điều
chỉnh như: mức nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế.
Như vậy, hành vi nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của người nộp thuế bằng
cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp
luật thuế.
Thứ ba, nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế:
Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọi hình
thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN. Còn nợ thuế mới chỉ là hành vi
dây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật. Tất nhiên,
trong một số trường hợp việc nợ thuế có thể là một hành vi nằm trong chuỗi hành vi
nhằm trốn thuế. Chẳng hạn như, một số doanh nghiệp cố tình nợ một số thuế lớn sau đó
bỏ trốn không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.
Thứ tư, nợ thuế khác với hành vi tránh thuế:
Tránh thuế là hành vi lợi dụng sơ hở của luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế. Đây
không phải là hành vi vi phạm pháp luật. Còn nợ thuế thì khác hoàn toàn về bản chất, đó là
nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tình dây dưa, chậm nộp.
1.2.1.2. Phân loại nợ thuế
Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ:
Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ dựa trên những thông tin về người nợ thuế theo
mức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuế thì nợ thuế được
phân loại thành: nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ không có khả năng thu.
Thứ nhất, nợ có khả năng thu:
Theo thống kê, khoản nợ thuộc nhóm này thường chủ yếu là các khoản nợ mới phát
sinh sau thời hạn nộp thuế được quy định tại các văn bản pháp quy về thuế.
Do vậy, nợ có khả năng thu được hiểu là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được
xác định phải nộp vào NSNN nhưng đã hết thời hạn nộp theo quy định của pháp luật mà
chưa nộp, đồng thời không thuộc nhóm nợ khó thu và nhóm nợ không có khả năng thu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Việc phân loại nợ vào nhóm này chủ yếu căn cứ vào tình trạng tồn tại của người
nộp thuế. Người nộp thuế hầu hết đã ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc không
còn tồn tại trong thực tế, bao gồm các khoản nợ thuộc các trường hợp như nợ của người
nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sản nhưng không làm các thủ tục, trình tự giải thể
phá sản đúng pháp luật nên chưa có đủ căn cứ pháp lý để xử lý theo quy định của pháp
luật. Đặc điểm của trường hợp này là khó khăn về tài chính, kinh doanh thua lỗ dẫn đến
không còn khả năng thanh toán. Trường hợp người nộp thuế lâm vào tình trạng giải thể
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status