luận văn thạc sĩ quản lý dự trữ mặt hàng gạo của tổng cục dự trữ nhà nước - Pdf 59

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập
của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Thị Phương


ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại trường Đại học thương mại. Tôi xin chân
thành cảm ơn TS. Trần Thị Hoàng Hà đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo Tổng cục Dự trữ Nhà nước, thủ trưởng các đơn vị
thuộc và trực thuộc Tổng cục Dự trữ Nhà nước cùng các đồng nghiệp đã tạo điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn.


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.....................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN..........................................................................................................ii
MỤC LỤC..............................................................................................................iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT...............................................................................v
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài......................................................................................1
2. Mục đích của đề tài..............................................................................................2

2.2.2. Thực trạng quản lý Nhà nước dự trữ mặt hàng gạo của Tổng cục Dự trữ Nhà
nước......................................................................................................................... 37
2.2.3. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước dự trữ mặt hàng gạo
................................................................................................................................. 66
2.2.4. Đánh giá công tác quản lý nhà nước mặt hàng gạo dự trữ quốc gia.............70
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÔNG
TÁC QUẢN LÝ VỀ DỰ TRỮ MẶT HÀNG GẠO CỦA TỔNG CỤC DỰ TRỮ
NHÀ NƯỚC...........................................................................................................79
3.1. ĐỊNH HƯỚNG CỦA TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT
TRIỂN NGÀNH DỰ TRỮ QUỐC GIA...............................................................79
3.1.1. Quan điểm và mục tiêu dự trữ quốc gia.........................................................79
3.1.2. Căn cứ định hướng phát triển quỹ dự trữ......................................................80
3.1.4. Định hướng về dự trữ quốc gia đến năm 2020..............................................81
3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC DỰ
TRỮ QUỐC GIA ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GẠO TẠI TỔNG CỤC DỰ TRỮ
NHÀ NƯỚC...........................................................................................................82
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với mặt hàng gạo của Tổng
cục Dự trữ Nhà nước.............................................................................................82
3.2.2. Kiến nghị.......................................................................................................89
KẾT LUẬN............................................................................................................91
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................92


v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AN- PCCC-PCBL: An ninh, phòng cháy chữa cháy, phòng chống bão lụt
CCDC: Công cụ, dụng cụ
CBCC: Cán bộ công chức
DTNN: Dự trữ Nhà nước

ứng yêu cầu của quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Thực tiễn quá trình phát
triển của DTQG đã chỉ ra rằng quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia có vai trò to lớn
cho triển khai thực hiện các quan điểm, chính sách mới của Đảng, Nhà nước về
DTQG, kiểm tra, giám sát thúc đẩy hoạt động DTQG có hiệu quả, có lợi cho nhân
dân và xã hội, góp phần đắc lực cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ
quốc.


2
Mặt hàng gạo là hàng dự trữ quốc gia nằm trong nhóm hàng lương thực thuộc
danh mục dự trữ quốc gia do Bộ Tài chính (Tổng cục Dự trữ Nhà nước) quản lý, có
tổng mức dự trữ quốc gia lớn, nhằm đáp ứng yêu cầu về cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ
trong nước nhằm giải quyết khó khăn trong đời sống của người dân, giảm thiểu tối
đa thiệt hại về người và của, sớm khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm an sinh xã
hội, cũng như hỗ trợ, viện trợ nước ngoài nhằm thắt chặt tình đoàn kết các quốc gia
trên thế giới. Tuy nhiên, công tác quản lý dự trữ nhà nước đối với mặt hàng gạo còn
nhiều hạn chế: cơ chế chính sách còn chưa đồng bộ, công tác lập kế hoạch còn chưa
sát với thực tế, công nghệ bảo quản lạc hậu, …chưa phù hợp với xu hướng đẩy
mạnh công nghiệp hóa (CNH) hiện đại hóa đất nước (HĐH), hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng, chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách nhiệm vụ nhà nước đề ra. Do
đó, Tôi chọn đề tài: “Quản lý dự trữ mặt hàng gạo của Tổng cục Dự trữ Nhà nước”
làm luận văn cao học.
2. Mục đích của đề tài.
Mục đích của đề tài là đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện
công tác quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia đối với mặt hàng gạo tại Tổng cục Dự
trữ Nhà nước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước trong hoạt
động dự trữ nhà nước và thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động dự trữ mặt hàng
gạo tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước.

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỰ TRỮ
QUỐC GIA VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỰ TRỮ
QUỐC GIA VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA
1.1. DỰ TRỮ QUỐC GIA VÀ HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA
1.1.1. Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia
1.1.1.1. Khái niệm dự trữ quốc gia
Dự trữ quốc gia (dự trữ nhà nước) là hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo ổn
định, an toàn đối với các lĩnh vực thuộc quốc kế dân sinh và một số lĩnh vực trọng
yếu khác của một quốc gia.
“Dự trữ quốc gia, dự trữ của một nước do nhà nước nắm giữ và quản lý, bao
gồm dự trữ các loại vật tư - hàng hóa quan trọng nhất; nhằm mục đích khắc phục
những tổn thất do thiên tai, địch họa gây ra trên quy mô lớn trong một thời gian
nhất định. Dự trữ quốc gia là nguồn tích lũy của quốc gia, sức mạnh của đất nước”
(Từ điển bách khoa Việt Nam, 2011, bachkhoatoanthu.vass.gov.vn)
Hoạt động dự trữ quốc gia là việc xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch, dự toán ngân sách về dự trữ quốc gia; xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật; quản lý, điều hành và sử dụng dự trữ quốc gia.
Hàng dự trữ quốc gia là vật tư, thiết bị, hàng hóa trong Danh mục hàng dự
trữ quốc gia do Nhà nước quản lý, nắm giữ để sử dụng vào mục tiêu dự trữ quốc gia.
Danh mục hàng dự trữ quốc gia là tên nhóm hàng hóa, tên vật tư, tên thiết bị
dự trữ quốc gia.
Điều hành dự trữ quốc gia bao gồm: hoạt động quản lý, nhập, xuất, mua, bán,
bảo quản, bảo vệ hàng dự trữ quốc gia.
Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia bao gồm bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ trực tiếp quản lý hàng dự trữ quốc gia theo phân công của
Chính phủ.
Đơn vị dự trữ quốc gia là tổ chức thuộc bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc
gia được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý, nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, bảo vệ
hàng dự trữ quốc gia.


dự trữ nhà nước.


6
Một quốc gia, một xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu đảm bảo an toàn, ổn
định ngày càng cao, do đó, dự trữ quốc gia ngày càng quan trọng, quỹ dự trữ quốc
gia phải được tích lũy phù hợp.
 Hoạt động của dự trữ quốc gia không vì lợi nhuận.
Đây là đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia. Khác với loại hình kinh tế khác,
dự trữ quốc gia là ngành kinh tế đặc biệt, không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh,
không nhằm tạo ra lợi nhuận. Mục tiêu của dự trữ quốc gia nhằm đảm bảo cho lợi
ích, an toàn của cả quốc gia, của toàn xã hội.
Khác với dự trữ quốc gia, các loại quỹ dự trữ khác như dự trữ sản xuất kinh
doanh, quỹ dự trữ hàng hóa tồn tại nhằm mục đích đảm bảo cho qua trình sản xuất,
phân phối, trao đổi hàng hóa của các tổ cức kinh tế liên tục và ổn định nhằm tối đa
hóa năng lực sản xuất kinh doanh, đảm bảo lợi nhuận của tổ chức kinh tế.
Dự trữ quốc gia, do nhà nước quản lý nhằm ổn định cả nền kinh tế. Dự trữ
quốc gia là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước nhằm khắc phục những
khiếm khuyết của kinh tế thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện an sinh xã hội,
đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn cho đời sống của người dân. Nguồn lực dự trữ
không mang lại lợi nhuận cho nhà nước với tư cách là chủ sở hữu, sử dụng nguồn
lực dự trữ.
Như vậy, dự trữ quốc gia là nguồn lực vật chất do nhà nước quản lý và sử
dụng không vì mục đích lợi nhuận. Hiệu quả của dự trữ quốc gia mang lại có tính
chất tổng hợp, hiệu quả kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, đó là lợi ích quốc gia,
lợi ích xã hội.
 Quỹ dự trữ quốc gia không tự bảo toàn vốn
Các quỹ dự trữ của các tổ chức kinh tế hoạt động trên cơ sở, nguyên tắc bảo
toàn vốn do xuất phát từ mục tiêu tồn tại và hoạt động của nó, đó là đảm bảo cho
quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi hàng hóa được diễn ra liên tục và ổn định,

thực, an ninh năng lượng; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;
tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế, đảm
bảo an sinh xã hội và thực hiện các nhiệm vụ cấp bách khác.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Danh mục, số lượng hàng dự trữ quốc gia đảm bảo yêu cầu thiết yếu, chiến
lược, quan trọng và có quy mô đủ mạnh để can thiệp khi có tình huống cấp bách.
+ Hiện đại hóa công nghệ bảo quản, nghiên cứu, chuyển giao, áp dụng công
nghệ bảo quản tiên tiến của các nước trong khu vực, phù hợp với điều kiện khí hậu


8
và kinh tế - xã hội của Việt Nam nhằm bảo đảm chất lượng hàng dự trữ quốc gia và
nâng cao hiệu quả công tác bảo quản.
+ Hoàn chỉnh hệ thống kho dự trữ quốc gia với trang thiết bị hiện đại, quy mô
tập trung, đảm bảo hình thành các vùng, tuyến chiến lược phù hợp với điều kiện về
kinh tế, quốc phòng của vùng, lãnh thổ.
+ Hệ thống thông tin thông suốt trong hoạt động dự trữ quốc gia, bảo đảm tin
học hóa 100% quy trình quản lý nghiệp vụ nhập, xuất, bảo quản.
+ Phát triển nguồn nhân lực dự trữ quốc gia bảo đảm đủ về số lượng, có cơ
cấu hợp lý, có phẩm chất chính trị và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý theo hướng tập trung thống nhất một cơ quan
quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia.
Như vậy, dự trữ quốc gia là một dạng dự trữ đặc biệt trong nền kinh tế quốc
dân, dự trữ những mặt hàng chiến lược quan trọng, thiết yếu đối với sản xuất và đời
sống là loại dự trữ thuộc sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước nắm giữ, quản lý và sử
dụng.
1.1.2.2. Vai trò của dự trữ quốc gia
Dự trữ quốc gia bao gồm tiền và hàng hóa, vật tư là nguồn dự trữ chiến lược
của Nhà nước nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục
hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; đảm bảo an ninh, quốc phòng; tham gia

đất nước. Sức mạnh của nền kinh tế đảm bảo trang bị cơ sở vật chất, vũ khí, khí
tài, máy móc, trang thiết bị ... đủ mạnh cho lực lượng vũ trang; nền kinh tế đủ
mạnh cũng là điều kiện để ngân sách nhà nước dành khoản tích lũy hợp lý dự trữ
quốc gia đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước. Dự trữ quốc gia thuộc lĩnh
vực quốc phòng, an ninh là lực lượng vật chất chiến lược trực tiếp đáp ứng nhanh
nhất, kịp thời nhất yêu cầu đảm bảo quốc phòng, an ninh trên những địa bàn nhất
định và trên toàn lãnh thổ của quốc gia.
Thứ tư, góp phần tăng cường quan hệ quốc tế. Trong điều kiện thế giới ngày
nay của một nền kinh tế phát triển, nguồn tài nguyên ngày một cạn kiệt, môi
trường ngày càng bị hủy hoại, khí hậu trái đất thay đổi thất thường và ngày càng
khắc nghiệt, kèm theo thiên tai ngày càng diễn ra trên diện rộng với sức tàn phá
mạnh mẽ làm thiệt hại về người và tài sản ở mức độ rất lớn, mà bản thân một quốc
gia khắc phục nhanh là rất khó khăn; do đó cần có sự trợ giúp kịp thời của các
nước khác bằng việc xuất hàng dự trữ quốc gia, quỹ dự trữ quốc gia. Việc làm
thiết thực này góp phần tăng cường tình hữu nghị và quan hệ hợp tác giữa các
nước.


10

1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA
1.2.1. Khái niệm về quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia
1.2.1.1. Khái niệm quản lý
Có nhiều quan niệm về quản lý:
“Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý
một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm
đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất” (Phạm Quang Lê, 2007, trang 8).
“Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý (người
quản lý) lên khách thể quản lý và đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm sử
dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu

yêu cầu: chủ động đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục
hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, bảo đảm an ninh quốc phòng, tham gia bình
ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ bức thiết
khác của Nhà nước.
1.2.2. Nguyên tắc quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia
1.2.2.1. Quỹ dự trữ quốc gia là lực lượng dự phòng chiến lược của Nhà nước,
được quản lý theo nguyên tắc tập trung, thống nhất trong phạm vi cả nước;
Để khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, các quốc gia trong đó có Việt Nam
luôn phải đối mặt với những thách thức to lớn do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn,
thảm họa môi trường, những nguy cơ tiềm ẩn về khủng bố quốc tế, tranh chấp lãnh
thổ và xung đột chính trị trên thế giới…, đe dọa đến sự phát triển bền vững của mỗi
quốc gia. Vì vậy, cần phải hình thành DTQG đủ mạnh, tổ chức quản lý, điều hành,
sử dụng hiệu quả, bảo đảm kịp thời, đầy đủ, minh bạch, đúng đối tượng và tiết kiệm
chi phí trong chỉ đạo điều hành phối hợp ứng cứu, bảo vệ người dân, tài sản và môi
trường.
Từ thực tiễn quản lý, điều hành dự trữ quốc gia thời gian qua cho thấy hoạt
động DTQG mang tính đặc thù về mức độ khó khăn trong tác nghiệp, yêu cầu khẩn
trương, có lúc gặp nguy hiểm, gần giống với hoạt động an ninh, quốc phòng, do đó
cần phải có cơ chế quản lý thích ứng và đồng bộ từ tổ chức bộ máy, con người,
phương thức thực hiện. Do đó cần được điều hành, quản lý của Nhà nước theo theo
nguyên tắc tập trung, thống nhất, có hiệu lực và hiệu quả.
Quỹ dự trữ quốc gia bao gồm cả về hàng và tiền được quản lý tập trung, thống
nhất dưới sự điều hành của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ có phân công cho
cán bộ, ngành quản lý hàng dự trữ nhà nước theo quy định. Việc quản lý tập trung


12
quỹ dự trữ quốc gia giúp nhà nước có sự bao quát, chỉ đạo, điều hành một cách chặt
chẽ, phù hợp, hoạt động của các tổ chức dự trữ quốc gia một cách thống nhất từ trên

13
1.2.2.3. Quản lý dự trữ quốc gia phải thực hiện nghiêm ngặt các quy định về
bảo vệ bí mật Nhà nước, bảo đảm an toàn, tiết kiệm, kịp thời, có hiệu quả
Dự trữ quốc gia thể hiện sức mạnh nội lực của một đất nước nhằm sẵn sàng
ứng phó với những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai,
hỏa hoạn, dịch bệnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh, tham gia bình ổn thị trường,
góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất bức thiết khác
của nhà nước, do đó cần được đảm bảo bí mật. Số lượng, chất lương hàng dự trữ
quốc gia phải được đảm bảo trong tất cả các khâu nhập vào, bảo quản, xuất ra theo
tiêu chuẩn quy định. Nhà nước ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, định
mức kinh tế kỹ thuật nhằm hướng dẫn và kiểm soát hoạt động dự trữ quốc gia, đảm
bảo an ninh, an toàn hàng dự trữ, tránh giảm phẩm chất, thất thoát ngân sách nhà
nước.
Công tác xuất hàng ra thực hiện cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ theo các quyết định
của cấp có thẩm quyền phải được khẩn trương triển khai thực hiện nhằm ứng phó,
hỗ trợ kịp thời, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ được giao.
1.2.2.4. Quỹ dự trữ quốc gia chỉ được sử dụng khi có quyết định của cấp có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Công tác quản lý hàng dự trữ quốc gia được quản lý tập trung thống nhất của
Chính phủ, có sự phân công, phân cấp đến các Bộ, Ngành, cơ quan dự trữ địa
phương. Mỗi cấp quản lý được quy định, phân công nhiệm vụ riêng và chịu trách
nhiệm với các quyết định của mình nhằm đảm bảo tăng cường công tác quản lý và
tính trách nhiệm trong công việc, tránh chồng chéo, thất thoát ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào thẩm quyền đã được phân cấp, các Bộ, Ngành, cơ quan dự trữ sẽ quyết
định xuất quỹ dự trữ quốc gia để thực hiện nhiệm vụ theo đúng quy định.
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về hàng dự trữ quốc gia
1.2.3.1 Xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia
- Xây dựng và chỉ dạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế,
chính sách, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động xây dựng quản lý, sử dụng quỹ
dự trữ quốc gia:

thác triệt để cơ hội, giảm thiểu tác động tiêu cực của thách thức để thực hiện mục
tiêu phát triển kinh tế- xã hội trong tương lai.
Chiến lược cung cấp một tầm nhìn và khuôn khổ chung cho xây dựng và triển
khai các văn bản hoạch định ở các cấp thấp hơn. Chiến lược đóng vai trò là ngọn
đèn hải đăng trên biển, nó được coi là một định hướng, là cơ sở cho xây dựng chính
sách, kế hoạch ngắn hạn, trung hạn. Chiến lược cũng cấp tầm nhìn và khuôn khổ


15
tổng quát cho việc thực hiện các quan hệ hợp tác hay hội nhập quốc tế một cách chủ
động và có hiệu quả.
Trong khi chiến lược phát triển đóng vai trò định hướng xác định tầm nhìn dài
hạn thì kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội là một công cụ quản lý và điều hành vĩ
mô nền kinh tế quốc dân, nó xác định một cách hệ thống những hoạt động nhằm
phát triển kinh tế xã hội theo những mục tiêu, chỉ tiêu và các cơ chế chính sách sử
dụng trong một thời kỳ nhất định.
Chiến lược dự trữ quốc gia được xây dựng bao gồm các nội dung:
+ Tổng mức dự trữ quốc gia trong từng thời kỳ;
+ Cơ cấu dự trữ quốc gia;
+ Danh mục, cơ cấu và mức dự trữ hàng dự trữ quốc gia;
+ Quy hoạch hệ thống kho chứa hàng dự trữ quốc gia;
+ Phát triển khoa học công nghệ phục vụ quản lý, bảo quản hàng dự trữ quốc gia;
Chiến lược dự trữ quốc gia là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng, phát triển,
quản lý dự trữ quốc gia.
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch dự trữ quốc gia hàng năm, trung
hạn, dài hạn;
Hoạt động dự trữ quốc gia luôn được phát triển và đổi mới, phù hợp với tình
hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế. Để dự
trữ quốc gia có hiệu quả và bảo đảm những nhiệm vụ được giao, điều quan trọng là
hoạt động dự trữ cần phải được xây dựng và thực hiện theo kế hoạch dự trữ hàng

vùng chiến lược, giúp Nhà nước nắm bắt cụ thể đặc điểm của từng địa phương,
quản lý hệ thống kho tàng, hàng dự trữ trên địa bàn, thực hiện các nhiệm vụ nhập,
xuất, bảo quản hàng dự trữ, sẵn sàng phối hợp với các địa phương thực hiện xuất
cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ khi có quyết định của các cấp có thẩm quyền, đồng thời
thực hiện các chế độ báo cáo tình hình triển khai nhiệm vụ được giao với cấp quản
lý trực tiếp giúp Nhà nước nắm bắt kịp thời, đưa ra chỉ đạo, đường hướng cho
những nhiệm vụ tiếp theo hoặc giúp giải quyết kịp thời các vướng mắc, khó khăn
xảy ra .
Các đơn vị dự trữ quốc gia đều nằm trong tổng thể hệ thống dự trữ quốc gia,
thực hiện nhiệm vụ chung do Nhà nước giao. Các đơn vị dự trữ quốc gia không chỉ
thực hiện nhiệm vụ trong địa bàn, địa lý của đơn vị mình, mà có thể mua, bán, xuất
cứu trợ, viện trợ trên địa bàn các địa phương khác. Ngoài ra, trong trường hợp cần
thiết, cần thực hiện nhập, xuất trong nội bộ ngành dự trữ nhằm thuận lợi, kịp thời


17
khi thực hiện nhiệm vụ, do đó việc phối hợp giữa các đơn vị quản lý hàng dự trữ
quốc gia vô cùng cần thiết. Nhà nước có các văn bản nhằm yêu cầu, hướng dẫn các
đơn vị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, tiết kiệm chi phí, thời gian, hoàn thành
nhiệm vụ chung được giao của toàn ngành.
- Xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hàng dự trữ quốc
gia, định mức kinh tế, kỹ thuật, làm cơ sở cho công tác quản lý nhà nước và bảo
quản hàng dự trữ quốc gia
Hàng dự trữ quốc gia nhập vào, bảo quản, xuất ra phải luôn đảm bảo yêu cầu
về loại hàng, số lượng, chất lượng, phải đáp ứng tiêu chuẩn do nhà nước quy định.
Mặt khác, trong quá trình bảo quản, toàn bộ kết cấu kho tàng, quy trình bảo quản,
các vật tư sử dụng đều phải thực hiện theo đúng quy chuẩn quốc gia, định mức kinh
tế, kỹ thuật để đảm bảo chất lượng hàng dự trữ khi xuất ra, cũng như đảm bảo mức
hao kho không vượt quá định mức quy định.
Khí hậu, môi trường biến đổi theo từng giai đoạn, theo các năm, công nghệ

bảo quản; giảm chất lượng do thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh... giảm do bảo
quản không tuân thủ đúng quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật.
Mua bán hàng DTQG khác với việc mua bán hàng của các doanh nghiệp. Mua bán
hàng DTQG được thực hiện theo nguyên tắc:
- Đúng kế hoạch, đúng quyết định của cấp có thẩm quyền hoặc theo đúng hợp
đồng thuê bảo quản theo đơn đặt hàng của nhà nước tại thời điểm do nhà nước quy
định.
- Đúng chủng loại, số lượng, chất lượng, giá cả, địa điểm quy định.
- Nhập, xuất đúng thủ tục theo quy định của pháp luật.
Giá mua, bán hàng DTQG phải đảm bảo mua hàng kịp thời và chất lượng tốt,
bán đúng lúc và tránh thất thoát;
 Bảo quản hàng dự trữ quốc gia
Bảo quản hàng DTQG giữ vai trò quan trọng trong hoạt động DTQG trên các
mặt: Bảo vệ bí mật Nhà nước về DTQG (loại hàng, số lượng, nơi để hàng dự trữ...);
bảo đảm an toàn hàng DTQG; kịp thời đáp ứng các yêu cầu cứu hộ, cứu nạn, hỗ trợ,
viện trợ cấp thiết.
Để bảo quản hàng DTQG cần phải đảm bảo các điều kiện sau:
Thứ nhất, về kho tàng phải xây dựng đúng tiêu chuẩn, đảm bảo chất lượng
hàng DTQG trong thời gian dự trữ theo tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật
được cơ quan có thẩm quyền quy định.


19
Thứ hai, thực hiện bảo quản hàng DTQG theo quy chuẩn kỹ thuật và chi phí
theo định mức kinh tế - kỹ thuật và thời gian bảo quản hàng DTQG.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ nghiệp vụ chuyên môn được đào
tạo chuyên sâu theo từng mặt hàng cụ thể và tinh thần trách nhiệm cao.
Thứ tư, tăng cường nghiên cứu áp dụng khoa học và công nghệ bảo quản theo
hướng CNH, HĐH trong bảo quản đối với từng mặt hàng phù hợp với điều kiện
thực tế ở nước ta.

Nam và thông lệ Quốc tế.
 Xuất hàng dự trữ quốc gia bán luân phiên đổi hàng theo kế hoạch
Mỗi loại hàng DTQG được dự trữ trong kho theo thời hạn nhất định, theo quy
chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Hết thời gian bảo quản
dự trữ phải xuất bán để nhập hàng mới gọi là xuất hàng DTQG luân phiên đổi hàng
theo kế hoạch. Bán luân phiên đổi hàng DTQG được thực hiện theo phương thức đấu
giá.
- Xuất hàng DTQG thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao cho hoặc xuất luân phiên
đổi hàng, các kho dự trữ đều phải thực hiện mọi công việc theo quy trình công nghệ
về nhập hàng mới. Các công việc đó là:
+ Vệ sinh sạch sẽ toàn bộ nhà kho, trang thiết bị, công cụ vật tư... phục vụ cho xuất
hàng, kiểm tra cụ thể các trang thiết bị đó để phục vụ cho công tác xuất hàng.
+ Kiểm tra, làm mẫu xác định chất lượng hàng hóa trong kho, lô hàng chuẩn bị
xuất.
+ Kiểm tra danh mục, quy cách, số lượng, chất lượng, hồ sơ tài liệu có liên quan
đến số hàng dự trữ xuất kho.
+ Bố trí người kiểm tra giám sát tại các điểm kho xuất hàng, chuẩn bị sẵn sàng
nhân lực, phương tiện và các điều kiện cần thiết để tổ chức bốc xếp hàng lên phương
tiện vận chuyển.
 Điều chuyển nội bộ hàng dự trữ quốc gia
Hàng DTQG trong thời gian dự trữ cần thiết phải điều chuyển nội bộ trong
phạm vi hệ thống kho của toàn ngành. Điều chuyển nội bộ hàng DTQG được thực
hiện trong các trường hợp sau:
- Điều chuyển hàng DTQG ra khỏi vùng bị thiên tai, hỏa hoạn, hoặc không an
toàn;
- Điều chuyển hàng DTQG đến nơi cần thiết để sẵn sàng phục vụ cho các
nhiệm vụ phát sinh;




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status