luận văn thạc sĩ chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế thành phố vĩnh yên, tỉnh vĩnh phúc năm 2018 - Pdf 62

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH HẢI

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH
ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ
TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ VĨNH YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

HÀ NỘI - 2019


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH HẢI

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH

thành phố Vĩnh Yên, cùng tập thể Lãnh đạo, nhân viên Khoa khám bệnh và
các điều tra viên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, cũng như giúp đỡ tôi trong
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin được gửi tình yêu thương tới gia đình, người bạn đời thân yêu, các
con yêu quý là chỗ dựa tinh thần để tôi phấn đấu.
Cuối cùng, xin cảm ơn anh chị em, bạn bè đồng nghiệp tại lớp Cao học
khóa 26, chuyên ngành Quản lý bệnh viện đã luôn bên cạnh động viên, khích
lệ tôi quyết tâm trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 22 tháng 6 năm 2019

Nguyễn Thị Bích Hải


4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Thị Bích Hải, học viên cao học khóa 26 Trường Đại học
Y Hà Nội, chuyên ngành Quản lý bệnh viện, xin cam đoan:
1.

Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn
của PGS. TS. Nguyễn Đăng Vững.

2.

Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã
được công bố tại Việt Nam.

3.

Đối tượng nghiên cứu
Điều tra viên
Giám sát viên
Subjective Happiness Scale
Tổ chức Y tế Thế giới
World Health Organization quality of life


6

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG


7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ


8

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh
hiểm nghèo như bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận,
liệt dương hoặc hoại thư [1]. Các biến chứng liên quan đến bệnh Đái tháo
đường (ĐTĐ) gây tử vong và tăng gánh nặng chi phí cho người bệnh, gia đình
và xã hội. Tất cả các biến chứng dù nhẹ nhất đều ảnh hưởng đáng kể đến chất
lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh [2].
Năm 2013, trên thế giới đã có khoảng 382 triệu người mắc đái tháo

điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết, Khoa Khám bệnh của
Trung tâm Y tế thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của
người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại địa điểm
nghiên cứu trên.


10

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Bệnh đái tháo đường
1.1.1. Định nghĩa
Theo Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ năm 2008: “ĐTĐ là một nhóm các
bệnh chuyển hóa được đặc trưng bởi tăng đường máu mạn tính do hậu quả
của sự thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của insulin hoặc kết hợp cả hai. Tăng
đường máu mạn tính trong đái tháo đường làm tổn thương, rối loạn và suy
chức năng của nhiều cơ quan khác nhau đặc biệt là các tổn thương ở mắt,
thận, thần kinh, tim mạch” [3].
ĐTĐ type 2 là bệnh về rối loạn chuyển hóa chất đường (glucose) mạn
tính. Khoảng thời gian từ khi rối loạn dung nạp glucose.
1.1.2. Chẩn đoán bệnh đái tháo đường
Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ theo hiệp hội ĐTĐ Mỹ (2010) thì tiêu
chuẩn chẩn đoán xác định ĐTĐ nếu có 1 trong 4 tiêu chuẩn dưới đây [10].
+ Gulucose máu lúc đói (nhịn ăn 8-14 giờ) 1,26g/l (≈7mmol/l), trong 2
buổi sáng khác nhau.
+ Gulucose máu ở thời điểm bất kỳ ≥ 2g/l (≈11,1 mmol/l) có kèm theo
triệu chứng lâm sàng ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, sụt cân.
+ Gulucose máu sau 2 giờ làm nghiệm pháp tăng đường huyết ≥11,1
mmol/l (sau khi uống 75g glucose).

điều trị nhưng sau nhiều năm mắc bệnh, vẫn cần insulin để cân bằng đường
máu [3].


12

1.1.3.3. Đái tháo đường khác
ĐTĐ thai kỳ thường gặp ở phụ nữ có thai (chiếm khoảng 1-2% người
mang thai), do đường huyết tăng hoặc giảm dung nạp glucose, thường gặp khi
có thai lần đầu và mất đi sau đẻ. Người mẹ bị ĐTĐ thai kỳ có nguy cơ cao
mắc bệnh ĐTĐ thực sự sau này (ĐTĐ type 2). Một số thể khác nhau như
khiếm khuyết chức năng tế bào do gen, giảm hoạt tính của insulin do khiếm
khuyết gen, bệnh lý của tụy ngoại tiết, do các bệnh nội tiết khác nhau…[3].
1.1.4. Yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường
Qua tổng quan tài liệu, chúng tôi nhận thấy có nhiều yếu tố nguy cơ của
người bệnh ĐTĐ và người ta thường chia ra thành các nhóm chính như sau:
Trước tiên là yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong bệnh ĐTĐ
type 2. Có tới 60% đến 100% các cặp sinh đôi cùng trứng mắc bệnh ĐTĐ
type 2. Bố mẹ bị ĐTĐ thì con (hoặc ngược lại tức là thế hệ cận kề) có khả
năng mắc ĐTĐ lên tới 40%, nếu mẹ bị mắc ĐTĐ, khả năng con bị mắc cao
hơn so với bố. Nếu cả bố và mẹ cùng mắc bệnh ĐTĐ thì con có khả năng mắc
bệnh tới 70% [3].
Tiếp theo, các nguyên nhân về nhân khẩu học cũng là yếu tố nguy cơ
của bệnh ĐTĐ như tỷ lệ mắc và tuổi mắc bệnh ĐTĐ thay đổi theo sắc tộc, có
những nhóm sắc tộc nhạy bén với ĐTĐ như ở Tây Ban Nha, người da đen,
người Nam Á.
Đặc biệt, các yếu tố liên quan đến hành vi, lối sống, béo phì, ít hoạt
động thể lực, chế độ ăn uống không hợp lý, hút thuốc lá, uống rượu bia
nhiều…cũng là yếu tố nguy cơ gây bệnh ĐTĐ. Tình trạng thiếu hụt các yếu tố
vi lượng hoặc vitamin góp phần làm thúc đẩy sự tiến triển bệnh ở người trẻ

1.1.5.2. Biến chứng mãn tính
Người bị bệnh ĐTĐ thường hay gặp các biến chứng lâu dài, thậm chí
các biến chứng này xuất hiện ngay tại thời điểm bệnh được phát hiện, nhất là


14

ở những người bệnh ĐTĐ type 2. Đây là nguyên nhân không chỉ làm tăng
gánh nặng kinh tế của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mà còn là lý do chủ yếu
làm suy giảm chất lượng cuộc sống của người mắc bệnh ĐTĐ [3]. Người ta
có thể chia các biến chứng mạn tính của bệnh ĐTĐ theo nhiều cách khác
nhau. Thường người ta phân loại biến chứng mạn tính theo mạch máu và thần
kinh. Biến chứng mạch máu bao gồm các biến chứng mạch máu lớn (xơ vữa
mạch vành, xơ vữa mạch não, bệnh mạch máu ngoại vi) và biến chứng mạch
nhỏ (bệnh võng mạc, bệnh lý cầu thận). Biến chứng thần kinh bao gồm bệnh
lý thần kinh giác quan- vận động (đoạn xa- chi dưới, đoạn xa- chi trên, bệnh
lý một dây thần kinh, loét thần kinh, teo cơ ĐTĐ, chứng suy mòn thần kinh),
bệnh lý thần kinh tự động (liệt dạ dày, ỉa chảy do ĐTĐ, bệnh bàng quang do
thần kinh, liệt dương, thần kinh tự động tim), bệnh lý phối hợp giữa thần kinh
và mạch máu (loét ổ gà, loét chân) [3].
1.1.6. Phòng chống biến chứng ở người bệnh đái tháo đường
Biến chứng của bệnh ĐTĐ là điều không thể tránh khỏi nhưng có thể
can thiệp để giảm mức độ các biến chứng và làm chậm quá trình xảy ra các
biến chứng ở người bệnh ĐTĐ.
1.1.6.1. Phòng ngừa biến chứng cấp tính
Các biến chứng cấp tính được phòng ngừa bằng cách người bệnh phải
được hướng dẫn cách tự theo dõi lượng glucose máu và ceton niệu, tuân thủ
chế độ điều trị, chế độ ăn uống, liên hệ ngay với thầy thuốc khi mắc các bệnh
khác, khi xuất hiện các triệu chứng bất thường như buồn nôn, sốt, tiêu chảy,
hoặc nồng độ glucose trong máu cao, có ceton niệu dai dẳng… Đối với thầy


16

Bảng 1.1: Số người bệnh Đái tháo đường tại 10 nước [11]
Số người bệnh ĐTĐ năm 1995

Số người bệnh ĐTĐ dự báo

(triệu người)
19,4

đến năm 2025 (triệu người)

Trung Quốc
Mỹ

16,0
13,9

37,6
21,9

Nga
Nhật Bản
Indonesia
Brazil

8,9
6,3
4,5

Kỳ (2013) thì khoảng 11,6% những người trưởng thành Trung Quốc bị bệnh
ĐTĐ, tức là khoảng 114 triệu người. Một nửa những người trưởng thành đang
ở trong thời kỳ tiền ĐTĐ đã rối loạn chuyển hóa lượng đường nhưng chưa
được phát hiện ra [1].


17

1.2.2. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường tại Việt Nam
Tại Huế, năm 1996 là 0,96% (nội thành 1,05%, ngoại thành là 0,6%), tỷ
lệ nữ nhiều hơn nam, năm 2006 tỷ lệ này cho kết quả là 1%, nhưng đến năm
2003 tỷ lệ này lên tới xấp xỉ 5% dân số [15]. Tại thành phố Hồ Chí Minh
(1993) tỷ lệ ĐTĐ type 2 là 2,52%, năm 2001 tỷ lệ ĐTĐ ở nội thành là 2,5%
và tỷ lệ này tăng gấp 2,5 lần sau 8 năm (6,9% so với 2,5%) [13]. Năm 2001,
một cuộc điều tra dịch tễ về bệnh ĐTĐ theo quy chuẩn quốc tế tại 4 thành phố
lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh) cho kết quả tỷ lệ
mắc ĐTĐ là 4,0%, riêng Quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) tỷ lệ này lên tới 7%.
Theo điều tra quốc gia về ĐTĐ năm 2002 cho thấy tỷ lệ người bệnh ĐTĐ
tăng lên so với nghiên cứu ở thập niên 90. Năm 2002, tỷ lệ ĐTĐ trên toàn
quốc chiếm 2,7% (khu vực thành phố 4,4%, miền núi và trung du 2,1%, đồng
bằng 2,7%) [16]. Kết quả điều tra dịch tễ học bệnh ĐTĐ toàn quốc năm 2012
do Bệnh viện Nội tiết Trung Ương tiến hành, tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ toàn quốc ở
người trưởng thành là 5,42%. Tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ tăng dần theo nhóm tuổi,
cụ thể là 1,7% ở nhóm tuổi từ 30-39; 3,7% ở nhóm tuổi từ 40-49; 7,5% ở
nhóm tuổi từ 50-59 và 9,9% ở nhóm tuổi từ 60 đến 69 tuổi [17].
1.3. Chất lượng cuộc sống
1.3.1. Khái niệm chất lượng cuộc sống
Chúng ta ngày nay đang chứng kiến sự biến chuyển của mô hình bệnh
tật trong dân số. Trước năm 1950 là thời kỳ của các bệnh nhiễm trùng, tiếp
đến là giai đoạn của các bệnh mạn tính kéo dài khoảng 30 năm đến năm 1980.

hài lòng hoặc không hài lòng được cảm nhận bởi con người với các khía cạnh
khác nhau trong cuộc sống của họ [23] và Andrew (1974), CLCS như là mức
độ niềm vui và sự hài lòng đặc trưng cho sự tồn tại của con người [24].
Trong những năm 1980 và những năm 1990, định nghĩa về CLCS
thường được chia thành một loạt các khía cạnh và xu hướng này vẫn còn tiếp


19

tục cho đến ngày nay. George và Bearon (1980) định nghĩa CLCS theo 4 khía
cạnh cơ bản là: sức khỏe chung, tình trạng chức năng và tình trạng xã hội, sự
hài lòng với cuộc sống và các yếu tố liên quan, sự tự tin và các yếu tố liên
quan [25]. Clark và Bowling (1989) định nghĩa CLCS không chỉ có năng lực
chức năng, mức độ hoạt động, trạng thái tinh thần, tuổi thọ mà còn bao gồm
các khái niệm về sự riêng tư, tự do, tôn trọng cá nhân, tự do lựa chọn, cảm
xúc hạnh phúc và duy trì phẩm giá [26]. Ferrans và Power (1985), định nghĩa
CLCS như là nhận thức hay cảm giác hạnh phúc của con người bắt nguồn từ
sự hài lòng hoặc không hài lòng với các lĩnh vực của cuộc sống quan trọng
đối với họ. Mô hình này bao gồm lĩnh vực: sức khỏe và chức năng, tâm lý và
tâm linh, kinh tế xã hội và gia đình [27]. Mặc dù có rất nhiều định nghĩa về
CLCS của các tác giả, tuy nhiên định nghĩa của TCYTTG được sử dụng khá
phổ biến và toàn diện hơn so với các tác giả khác. Theo đó, CLCS là sự hiểu
biết của cá nhân về vị trí xã hội của họ trong bối cảnh văn hóa và hệ thống các
giá trị mà họ thuộc về; và trong mối quan hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn
mực và mối quan tâm của họ [28].
Từ định nghĩa trên cho ta thấy, các khía cạnh của sức khỏe thường phụ
thuộc vào quan điểm hay nhận thức mà người bệnh, cán bộ y tế hay các nhà
nghiên cứu muốn đánh giá về sức khỏe. Tuy nhiên một số khía cạnh của
CLCS như mức thu nhập hay môi trường sống không được coi là sức khỏe dù
chúng có thể có những tác động bất lợi lên sức khỏe.

CLCS liên quan đến sức khỏe và viết ngắn gọn là CLCS.
1.3.2. Các phương pháp đo lường chất lượng cuộc sống
CLCS liên quan đến sức khỏe cùng với tình trạng ốm đau và tử vong là
các chỉ số được sử dụng để đo lường sức khỏe của các cá nhân và quần thể.
Có hai cách tiếp cận thường được sử dụng để đo lường CLCS đó là: trực tiếp
và gián tiếp [30].


21

1.3.2.1. Phương pháp trực tiếp
Theo phương pháp này CLCS được đo trực tiếp và tổng thể thông qua
hệ số chất lượng sống liên quan đến một điều kiện sức khỏe nhất định. Hiện
nay có ba phương pháp được sử dụng khá phổ biến là phương pháp trao đổi
thời gian, phương pháp thang điểm trực giác và phương pháp đặt cược. Các
phương pháp đo lường chất lượng cuộc sống trực tiếp có ưu điểm là ngắn
gọn, cho kết quả nhanh chóng và không làm mất nhiều công sức và thời gian
của người được phỏng vấn. Phương pháp trực tiếp thường được áp dụng trong
các trường hợp đánh giá kinh tế y tế [29].
1.3.2.2. Phương pháp gián tiếp
Phương pháp gián tiếp đánh giá CLCS qua các chỉ số đo lường các khía
cạnh khác nhau của cuộc sống như khía cạnh thể chất, tinh thần, xã hội, môi
trường…Cho đến nay, các thang đo CLCS vẫn tiếp tục được phát triển và hoàn
thiện [29]. Có hằng trăm công cụ được triển khai và sử dụng để đánh giá
CLCS, nhưng hiện nay chỉ có khoảng 50 công cụ được sử dụng thường
xuyên. Có điểm giống nhau và cũng có những khác biệt ở từng bộ công cụ
[33]. Tuy nhiên, các bộ công cụ dùng để đo lường CLCS gián tiếp được chia
làm hai loại: bộ công cụ đo lường CLCS tổng quát và bộ công cụ đo lường
CLCS chuyên biệt [31].
Bộ công cụ đo lường CLCS tổng quát thường được áp dụng cho các đối

áp dụng cho những nghiên cứu cần đánh giá nhanh, người ta rút gọn để có bộ
công cụ SF-12, SF-12 là bộ câu hỏi đánh giá CLCS liên quan đến sức khỏe
với 12 câu hỏi và có ưu điểm ngắn gọn, dễ trả lời, được sử dụng để đánh giá
CLCS của người bệnh, bao gồm hai lĩnh vực sức khỏe thể chất và sức khỏe
tinh thần. SF-12 thường được sử dụng với những nghiên cứu có cỡ mẫu lớn
và khi nghiên cứu cần tìm hiểu nhiều thông tin khác nữa [29]. Tuy nhiên, SF12 chưa đi vào chi tiết các khía cạnh thể chất và tâm thần nên có hạn chế
trong việc đo lường các khía cạnh của CLCS một cách toàn diện và chi tiết.


23

Để đánh giá CLCS toàn diện hơn, TCYTTG nghiên cứu và cho ra đời
bộ công cụ WHOQOL-100. Đây là bộ công cụ cập nhật nhiều nhất các khía
cạnh của CLCS, bao gồm 6 khía cạnh: thể chất, tâm lý, tâm linh, kinh tế và
môi trường được xem là bộ công cụ đo lường CLCS toàn diện, chi tiết. Ở bộ
công cụ này, CLCS là cảm nhận có tính chủ quan của cá nhân đặt trong cũng
có hạn chế trong phạm vi sử dụng và TCYTTG đã rút gọn để có bộ công cụ
WHOQOL-26 [33].
Ngoài các bộ công cụ tổng quát còn có bộ công cụ đo lường CLCS
chuyên biệt. Những bộ công cụ này chú trọng vào các khía cạnh sức khỏe phù
hợp nhất với tình trạng bệnh tật đang được nghiên cứu và những đặc trưng
của nhóm bệnh nào đó, do vậy thang đo này thường được sử dụng trong các
nghiên cứu lâm sàng để đánh giá các can thiệp điều trị chuyên biệt. Nhà
nghiên cứu muốn tăng khả năng phát hiện sự thay đổi về CLCS do tác động
của các can thiệp lâm sàng do đó thường chỉ đưa vào nghiên cứu một số lĩnh
vực quan trọng của CLCS liên quan trực tiếp đến những bệnh cụ thể [34].
Bên cạnh đó, để nghiên cứu chất lượng cuộc sống đối với người bệnh
đái tháo đường, có bộ công cụ “Chất lượng cuộc sống của người bệnh đái
tháo đường Châu Á” - AsianDQOL [35]. Bộ công cụ này đã được xây dựng
và thử nghiệm tại Malaysia. Do vậy, chúng tôi đã lựa chọn bộ công cụ này để

Tác giả Lau và cộng sự (2000) sử dụng bộ câu hỏi SF-36 nghiên cứu
với 380 người bệnh ĐTĐ của 4 trung tâm y tế tại California để so sánh sự
thay đổi CLCS qua can thiệp sức khỏe cho người bệnh ĐTĐ sau một năm.
Kết quả nghiên cứu này cho thấy, điểm trung bình CLCS của người bệnh
ĐTĐ type 2 của 4 trung tâm y tế ở mức trung bình. Nghiên cứu đã chỉ ra điểm
trung bình CLCS về khía cạnh thể chất không có sự khác biệt có ý nghĩa trước
(45,13±0,65) và sau một năm can thiệp (44,12±0,73). Tuy nhiên điểm CLCS
về khía cạnh tinh thần có sự tăng lên có ý nghĩa lần lượt là 44,45±0,63 và
48,21±0,68 (p


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status