THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THỊ XÃ BẮC GIANG - Pdf 64

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN THỊ XÃ BẮC GIANG
I. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU
TƯ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THỊ XÃ
BẮC GIANG.
1.1. Nhân tố khách quan.
1.1.1 Môi trường pháp luật.
Các văn bản pháp luật là yếu tố trực tiếp định hướng và ảnh hưởng đến
công tác thẩm định. Các văn bản pháp luật liên quan đến công tác thẩm định
các dự án đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đã được quy định cụ thể và
gần đây đã được bổ sung sửa đổi để ngày càng phù hợp và cập nhật hơn với
thực tế hiện nay. Những tiến bộ hay những mặt còn hạn chế của các văn bản
pháp luật chính là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của công tác
thẩm định cũng như việc ra quyết định đầu tư.
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thị xã Bắc Giang cần có
những trao đổi trực tiếp với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
tỉnh Bắc Giang để có những điểu chỉnh và bổ sung hợp lý đối với những văn
bản pháp luật về thẩm định dự án đầu tư,để có những quy định thực sự chặt
chẽ phù hợp với đặc thù của địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Bắc Giang là một tỉnh miền núi nhưng có một môi trường pháp luật ưu
đãi và khuyến khích đầu tư rất thông thoáng tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi
cho các dự án đầu tư dẫn đến thuận lợi rất lớn cho hoạt động thẩm định dự án
đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thị xã Bắc Giang.
Tuy nhiên, một số cá nhân doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thường có ý thức
trông chờ ỷ lại vào ưu đãi đầu tư của nhà nước dẫn đến hoạt động kinh doanh
thua lỗ không có khả năng hoàn vốn và trả lãi cho ngân hàng. Vì thế đối với
những dự án có ưu đãi, cán bộ thẩm định cần quan tâm và giám sát sắt sao và
có ý kiến ngay nếu trong công việc thực hiện ưu đãi chủ dự án có thái độ lơ là.
Tóm lại môi trường pháp luật là một nhân tố khách quan tác động nhiều
đến thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn thị xã Bắc Giang. Vậy kính mong các ban ngành có thẩm quyền có những

Việc lựa chọn phương pháp thẩm định phù hợp đối với từng dự án là một yếu
tố quan trọng nâng cao chất lượng thẩm định. Các phương pháp thường được
sử dụng đó là phương pháp so sánh, phương pháp thẩm định theo trình tự,
phương pháp phân tích độ nhạy của dự án. Tuy nhiên phương pháp chung để
thẩm định là so sánh, đối chiếu nội dung dự án với các chuẩn mực đã được quy
định bởi pháp luật và các tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật thích hợp hoặc thông lệ
(quốc tế, trong nước) cũng như các kinh nghiệm thực tế.
Để hoàn thiện nhiệm vụ thẩm định về mặt chuyên môn như đã nói ở trên
(đảm bảo không đầu tư dự án tồi và không bỏ sót các dự án tốt), công tác
thẩm định phải thực hiện 2 nhiệm vụ cụ thể sau:
-Xem xét, kiểm tra :Nhằm xác định tính đúng đắn của dự án so với các quy
định của pháp luật, các chuẩn mực về kinh tế, kỹ thuật.
- Đánh giá : Nhằm xác định mức độ khả thi của dự án (tốt, tồi) đến mức
nào để xếp thứ bậc, lựa chọn.
Thực hiện các nhiệm vụ nói trên, trong thẩm định dự án cần có các
phương pháp thích hợp. Việc lựa chọn phương pháp thẩm định tác động rất
nhiều đến hoạt động thẩm định dự án đầu tư.
Phương pháp chung để thẩm định, đánh giá là so sánh, đối chiếu nội dung
dự án với các chuẩn mực đă được quy định bởi luật pháp và các tiêu chuẩn
kinh tế kỹ thuật thích hợp hoặc thông lệ (quốc tế, trong nước) cũng như các
kinh nghiệm thực tế.
Đối chiếu các nội dung thẩm định nêu trên có một số nội dung thẩm định
bằng cách đối chiếu so sánh với luật pháp, chính sách ( những vấn đề thuộc về
pháp lý, nghĩa vụ tài chính, đền bù giải phóng mặt bằng,…); một số nội dung
phải so sánh với các tiêu chuẩn quy phạm (sử dụng đất đai, công nghệ thiết bị,
môi trường…); một số nội dung phải so sánh đối chiếu với các điều kiện thông
lệ hoặc thực tế đã thực hiện (các chỉ tiêu về kinh tế, tài chính, về hiệu quả đầu
tư,…)
Cán bộ thẩm định Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thị xã
Bắc Giang dùng phương pháp thống kê kinh nghiệm và kiểm tra tính hợp lý,

nghiệm cá nhân của từng cán bộ thẩm định và thực hiện mang tính hình thức
trên văn bản là chủ yếu.
Lựa chọn đối tác là một nhân tố chủ quan có thể điểu chỉnh được từ Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thị xã Bắc Giang và cán bộ thẩm
định cho nên Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thị xã Bắc Giang
cần trú trọng tập chung nhiều hơn và cần có những qui định chặt chẽ hơn.
1.2.3. Thông tin.
Thông tin là một yếu tố cực kỳ quan trọng và không thể thiếu được trong
công tác thẩm định. Thông tin đầy đủ và chính xác là cơ sở cho việc thẩm định
đạt kết quả cao. Ngược lại thông tin không đầy đủ và phiến diện sẽ dẫn đến
những quyết định sai lầm về tính khả thi của dự án, từ đó có thể đưa đến
những quyết định đầu tư sai lầm. Đặc biệt đối với dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài, đối tác là người nước ngoài ở nhiều khu vực khác nhau nên việc tìm
hiểu, thu thập thông tin chính xác về họ lại càng trở nên cần thiết. Các thông
tin cần thiết cho việc thẩm định một dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài bao
gồm cả các thông tin về đối tác trong nước cũng như nước ngoài. Đối với bên
Việt Nam cần tìm hiểu các thông tin đầy đủ về các doanh nghiệp và cá nhân
Việt Nam tham gia liên doanh như tư cách pháp lý, ngành nghề định kinh
doanh, khả năng tài chính trong tham gia liên doanh…Đối với bên nước ngoài,
các thông tin không thể thiếu được là tư cách pháp lý, năng lực tài chính, lịch
sử phát triển, uy tín, vị thế của đối tác trong kinh doanh, đạo đức doanh
nghiệp, công nghệ áp dụng vào Việt Nam…Ngoài ra cũng cần có những thông
tin chính xác liên quan đến các chính sách mới, các quan điểm của Đảng và
Nhà nước về phát triển kinh tế.
Để có được nguồn thông tin có chất lượng thì phương pháp thu thập, xử
lý, lưu trữ thông tin cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Vì vậy bên cạnh
việc phối hợp giữa các Nhà nước, cơ quan, công ty để thu được những thông
tin từ nhiều nguồn và nhiều chiều, vấn đề xử lý, phân tích và lưu ttữ thông tin
cũng cần được cân nhắc kỹ lưỡng và từng bước nâng cao chất lượng của hoạt
động này.

hợp nhất. Xây dựng được một quy trình thẩm định phù hợp sẽ đảm bảo được
các yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý ngành và phối hợp các ngành, các địa
phương trong việc đánh giá, thẩm định và xử lý những vấn đề tồn tại của dự
án; đồng thời đảm bảo tính khách quan trong việc thẩm định các dự án, cho
phép phân tích đánh giá sâu sắc các căn cứ khoa học và thực tế các vấn đề
chuyên môn; bên cạnh đó còn đơn giản hoá được công tác tổ chức thẩm định
mà vẫn nâng cao được chất lượng thẩm định
1.2.5. Đội ngũ cán bộ thẩm định.
Đội ngũ cán bộ thẩm định là nhân tố quyết định chất lượng công tác thẩm
định và góp phần không nhỏ trong việc giúp Chính phủ và cơ quan có thẩm
quyền đưa ra những quyết định đầu tư đúng đắn. Họ là những người trực tiếp
tổ chức, thực hiện công tác thẩm định và đưa ra những đánh giá, xem xét
mang tính chủ quan của mình về dự án đầu tư dựa trên những cơ sở khoa học
và tiêu thức chuẩn mực khác nhau.
Các tố chất của cán bộ thẩm định bao gồm cả năng lực, trình độ, kinh
nghiệm và tư cách đạo đức nghề nghiệp. Để công tác thẩm định đạt kết quả
cao đòi hỏi người cán bộ thẩm định phải biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa năng
lực sẵn có của bản thân, trình độ chuyên môn và những kinh nghiệm từ thực
tế, đặc biệt phải có một phẩm chất đạo đức nghề nghiệp vô tư trong sáng, biết
đặt lợi ích của công việc lên hàng đầu trong quá trình thực thi nhiệm vụ trách
nhiệm của mình để đưa ra những kết luận khách quan về dự án, làm cơ sở
đúng đắn cho việc ra quyết định đầu tư.
1.2.6. Vấn đề định lượng và tiêu chuẩn trong thẩm định dự án.
Để thẩm định đánh giá dự án, vấn đề quan trọng và cần thiết là việc sử
dụng các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật, mặc dù trong thẩm định đánh giá dự án
cũng có những vấn đề được phân tích lựa chọn trên cơ sở định tính. Việc sử
dụng các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật cần thiết phải giải quyết hai vấn đề là định
lượng và xây dựng tiêu chuẩn để đánh giá các chỉ tiêu đó. Để có cơ sở đánh giá
dự án thì việc nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn hoặc chỉ tiêu hướng dẫn là
rất cần thiết, trước hết là các chỉ tiêu về tài chính và tiêu chuẩn đánh giá hiệu

song với việc xem xét mục tiêu của dự án Ngân hàng cần xem xét về sự phù hợp
về phạm vi hoạt động quy mô đầu tư với quy hoạch phát triển của ngành và lãnh
thổ.
Trong địa bàn của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thị xã Bắc
Giang, có nhiều dự án đầu tư tại khu công nghiệp Đình Trám là một khu công
nghiệp được chính quyền địa phương tỉnh quan tâm nhiều trong một số năm gần
đây, đối với những dự án tại khu công nghiệp này cán bộ thẩm định dự án đầu tư
tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thị xã Bắc Giang có những ưu
tiên đáng kể so với những dự án đầu tư khác như tư vấn về hoạt động kinh doanh
cũng như những tư vấn về thực hiện dự án đầu tư trên văn bản để có kết quả thẩm
định cao khả năng nhận được vốn để thực hiện sản xuất kinh doanh là lớn.
Tỉnh Bắc Giang là một tỉnh miền núi cho nên phát triển kinh tế trang trại,
trồng trọt chăn nuôi luôn được chú trọng, tuy nhiên do trình độ dân trí chưa cao
cộng với kiến thức về hoạt động sản xuất kinh doanh chưa có nên cán bộ thẩm định
tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thị xã Bắc Giang luôn có những
tư vấn cần thiết đối với những khách hàng tham gia hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình. Đây là một phong cách làm việc rất đáng được hoan nghênh của
cán bộ thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
thị xã Bắc Giang.
Với những dự án đầu tư không đạt được yêu cầu thẩm định cán bộ thẩm định
tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thị xã Bắc Giang cũng có
những hướng đầu tư phù hợp để tư vấn những khách hàng có dự án đâu tư chưa
được vay vốn.
2.3. Thẩm định các yếu tố đầu vào (nguyên vật liệu, nhiên liệu,
động lực lao động...)
Khi thẩm định cần xem xét các mặt như, mặt cơ sở pháp lý kỹ thuật để xác
định qui mô trữ lượng và khả năng cung cấp của các yếu tố đầu vào, chất
lượng các yếu tố đầu vào và các hình thức khai thác yếu tố đầu vào là một
những yếu tố cán bộ thẩm định cần thẩm định. Tuy nhiên, do điều kiện thực tế
tại địa bàn nên cán bộ thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và

độ sử dụng vốn hay không để đưa dự án đi vào sản xuất.
Về khả năng trả nợ: Các dự án khi lập tính toán nguồn vốn cho trả nợ rất
cao, để có thời gian trả nợ ngắn bước đầu tạo tâm lý cho Ngân hàng quan tâm
lưu ý. Nhưng thực tế khi đưa vào sản xuất kinh doanh thì gặp khó khăn trong
trả nợ, nhiều dự án xin ra hạn nợ. Vì vậy cần phải tính toán thời gian trả nợ
bằng nhiều phương án trong đó phải lường đến phương án xấu nhất từ đó
chọn phương án tối ưu khi đưa dự án vào sản xuất kinh doanh.
Vấn đề khả năng sinh lời: Sử dụng các chỉ tiêu NPV, IRR, R (lợi ích/chi phí)
để tính toán và đánh giá dự án.
Vấn đề rủi ro và quản lý rủi ro: Đây cũng là vấn đề khá quan trọng trong
phân tích tài chính dự án. Khi phân tích rủi ro Ngân hàng cần đưa ra các giả
định thay đổi, sản lượng, giá bán, chi phí sản xuất nó làm ảnh hưởng đến tính
hiệu quả, khả thi, độ ổn định và khả năng trả nợ của dự án như thế nào.
* Vai trò của thẩm định tài chính.
Thẩm định tài chính có vai trò quan trọng đối với Ngân hàng, thể hiện:
- Thông qua thẩm định tài chính Ngân hàng sẽ xác định được nhu cầu
về vốn cho dự án từ đó Ngân hàng sẽ có quyết định cho vay hay không? Mức
cho vay là bao nhiêu? Tránh trường hợp tính toán vốn quá cao hoặc quá thấp.
- Thông qua phân tích đánh giá tài chính dự án Ngân hàng sẽ đánh giá
được tình hình tài chính của dự án từ đó xác định được cá chỉ tiêu rất quan
trọng như: Khả năng thu hồi vốn, thời gian hoàn vốn và mức độ rủi ro.
- Giúp ngân hàng có kế hoạch cân đối nguồn vốn qua từng thời kỳ
* Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư:
Trong những năm qua đầu tư ở nước ta nói chung và tại địa bàn tỉnh
Bắc Giang phát triển mạnh mẽ. Rất nhiều dự án lớn hoạt động có hiệu quả.
Công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn trung và dài hạn đã có nhiều đổi
mới thích ứng với vốn cơ chế mới. Bên cạnh đó Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn thị xã Bắc Giang đã học hỏi nhiều kinh nghiệm thẩm định
dự án của nhà đầu tư nước ngoài cũng như kinh nghiệm thẩm định dự án đầu
tư của các tỉnh bạn làm cho phương pháp thẩm định ngày càng hoàn thiện.

gặp rủi ro.
Phân tích tình hình tài chính của khách hàng có vai trò quan trọng trong
hoạt động tín dụng ngân hàng. Do vậy trước khi cho vay thì một công việc hết
sức quan trọng đối với Ngân hàng là đánh giá tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Để tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, Ngân
hàng thường sử dụng các báo cáo tài chính bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán (Bảng tổng kết tài sản)
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Để tiến hành phân tích thường chia theo các chỉ tiêu sau:
* Phân tích tình hình và khả năng thanh toán:
Tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh rõ
nét chất lượng công tác tài chính. Nếu hoạt động tài chính tốt, doanh nghiệp sẽ
ít công nợ, khả năng thanh toán dồi dào, ít bị chiếm dụng vốn cũng như ít đi
chiếm dụng vốn và ngược lại.
Để đánh giá khả năng thanh toán ta dùng chỉ tiêu sau:

Hệ số thanh toán ngắn hạn =
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
(Hệ số thanh toán hiện hành)
Hệ số này phản ánh mức độ đảm bảo của tài sản lưu động đối với nợ ngắn
hạn. Hệ số lớn thì khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn càng cao và
ngược lại. Tuy nhiên hệ số này quá cao cũng không phải là tốt.

Hệ số thanh toán nhanh =
Tài sản lưu động - Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn

( Hệ số thanh toán tức thời)

Ngân hàng quan tâm vì đây là nguồn quan trọng để trả nợ Ngân hàng. Do vậy
trước khi quyết định cho vay cán bộ tín dụng phải nắm rõ nguồn trả nợ trong
tương lai của khách hàng. Để đánh giá khả năng sinh lời của hoạt động sản
xuất kinh doanh người ta thường phân tích so sánh các chỉ tiêu.
Tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu
=
Lợi tức sau thuế
X 100
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng doanh thu thuần thì tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận ròng sau thuế.
Hệ số vòng quay tài sản =
Doanh thu thuần
Tài sản vốn bình quân
Nói chung hệ số này càng cao thì doanh nghiệp sử dụng tài sản càng hiệu
quả. Tuy nhiên khi đánh giá hai chỉ tiêu này phải kết hợp xem xét bản chất của
ngành kinh doanh và điều kiện kinh doanh.
Ngoài ra để đánh giá tài chính doanh nghiệp người ta còn dùng một số chỉ
tiêu như:
Hệ số an toàn =
Tổng vốn tự có
X
Tổng nợ
Tổng vốn tài sản nợ Tổng vốn tự có
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí =
Lợi nhuận ròng
Tổng chi phí
Hệ số vốn tự có tham gia đầu tư =
Tổng số vốn tự có tham gia đầu tư

điều lệ doanh nghiệp.
Sau đó so sánh nhu cầu với khả năng đảm bảo vốn cho dự án từ các nguồn
về số lượng và tiến độ. Nếu khả năng lớn hơn hoặc bằng nhu cầu thì dự án
chấp nhận được. Nếu khả năng nhỏ hơn nhu cầu thì phải giảm quy mô của dự
án. Khi giảm phải đảm bảo chú ý sự đồng bộ, để giảm được phải dựa trên cơ
sở kỹ thuật.
Sau khi xem xét các nguồn vốn và cơ cấu của nguồn vốn này, Ngân hàng
xem xét đến thời điểm tài trợ cho dự án. Quyết định tài trợ vốn cho dự án ảnh
hưởng đến việc sử dụng vốn có hiệu quả. Nếu xác định đúng thời điểm cho vay
làm cho dự án đảm bảo đúng tiến độ đã đề ra, tránh ứ đọng vốn nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn vay.
2.4.3. Thẩm định thời gian hoàn vốn của dự án.
Thời gian hoàn vốn là số năm mà doanh nghiệp còn hoạt động để tổng số
lợi nhuận và khấu hao thu được đủ bù đắp số vốn đầu tư bỏ ra ban đầu.
Để xác định được thời gian hoàn vốn ta có cách sau :
- Theo cách trừ lùi dần : Lấy tổng vốn đầu tư trừ đi lợi nhuận và khấu hao
theo thứ tự từ năm thứ nhất đến khi hiệu số bằng 0.
Vốn đầu tư (Vo) - (P + KH)
1
- (P + KH)
2
- .... (P + KH)
2
= 0
Trong đó (P + KH) là lợi nhuận khấu hao của 1 năm.
Cũng theo phương pháp này nếu tính theo phương pháp động, tức là có
tính tới giá trị tiền tệ theo thời gian ta có :
0)1(*
0
1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status