Sông Tiêu Tương với văn hoá Kinh Bắc
CN. Phạm Thị Thuỷ Chung(*)
Kinh Bắc là quê hương của Lý Công Uẩn, vị vua đã có công sáng lập nên triều đại nhà Lý, triều đại huy
hoàng mở đầu lịch sử nền quân chủ của quốc gia Đại Việt. Kinh Bắc cũng là quê hương của những làn điệu
dân ca Quan họ đằm thắm - trữ tình. Kinh Bắc còn là cái nôi văn hoá của người Việt, vùng đất của các nhà
khoa bảng, các danh nhân, các nghệ sĩ tài năng về thơ ca, nhạc họa. Bởi vậy, nói đến Kinh Bắc, chúng ta
thường liên tưởng ngay đến một “kinh đô văn hoá” của người Việt suốt từ Cổ, Trung đến Cận đại. Vậy yếu
tố nào đã kiến tạo nên vùng văn hoá Kinh Bắc rực rỡ trong suốt hàng nghìn năm qua? Câu trả lời: Đó là do
“khí thiêng” của một vùng
địa linh - nhân kiệt đã hun đúc nên văn hoá Kinh Bắc.
Câu trả lời nghe thật đơn giản, nhưng để đi tìm cái “khí thiêng” của vùng địa linh - nhân kiệt này, đã có
nhiều nhà nghiên cứu với hàng trăm công trình khảo cứu - nghiên cứu đề cập tới. Vậy mà cho đến nay, văn
hoá Kinh Bắc vẫn còn chứa đựng trong nó nhiều
điều bí ẩn. Chính những điều bí ẩn này đã tạo nên sức hấp
dẫn của văn hoá Kinh Bắc trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Trong rất nhiều bí ẩn đang ẩn chứa trong
lòng văn hoá Kinh Bắc, có một yếu tố văn hoá đặc biệt của vùng đất này mà cho tới nay vẫn còn là một dấu
hỏi lớn đối với các nhà nghiên cứu, đó là dòng sông có tên gọi Tiêu Tương.
Tiêu Tương là một dòng sông cổ đã “chết” nhưng lại đang “sống” trong tâm thức người dân Kinh Bắc với
những huyền thoại, những câu chuyện kể, những áng văn thơ và những làn điệu dân ca trữ tình. Tiêu
Tương không phải là một con sông lớn nhưng lại được nhắc đến rất nhiều trong các tài liệu và các tác phẩm
văn học suốt hàng nghìn năm qua. Tiêu Tương có lúc được nhắc đến rất cụ thể, có lúc lại rất mơ hồ như
chưa từng tồn tại... Chính những yếu tố này đã khiến cho Tiêu Tương giống một dòng sông huyền thoại
hơn là một chứng cứ lịch sử. Có lẽ vì vậy mà cho đến nay, các tài liệu thành văn nói về dòng Tiêu Tương
rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau.
Để có được một cái nhìn cụ thể về dòng sông này, rất khó để chúng ta có thể đọc được một cách đầy đủ
thông tin qua các tài liệu trong chính sử. Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng những thông tin đã thu thập được
qua các nguồn tư liệu thành văn, chúng tôi đã sử dụng phương pháp tiếp cận địa - văn hoá để xác định
như Tô Lịch với Thăng Long - Hà Nội, Thu Bồn với Hội An hay Hương Giang với Huế, Tiêu Tương là
một dòng sông mang đầy ắp các yếu tố văn hoá và là nguồn cảm hứng vô tận của những sáng tạo vượt thời
gian và không gian. Tiếc thay, Tiêu Tương đã “chết” và sử sách thì rất ít nhắc tới. Mặc dù vậy, những giá
trị văn hoá dân gian mà dòng sông này chứa đựng vẫn đang sống một cách hết sức mãnh liệt. Đó chính là
nguồn tư liệu vô giá để chúng ta có thể làm “sống” lại dòng sông một thời vang bóng. Thông qua bài viết này, chúng tôi hy vọng bước đầu sẽ tiếp cận được một phần trong những mối quan hệ
của sông Tiêu Tương với văn hoá Kinh Bắc để xác định vai trò và vị trí của dòng sông này với văn hoá
Kinh Bắc xưa và nay.
2. Đôi nét về dòng sông cổ Tiêu Tương qua thư tịch và truyền thuyết dân gian
Nguồn sử liệu qua các thư tịch cổ cho đến nay chỉ nhắc đến sông Tiêu Tương một cách rất khiêm tốn.
Trong đó, có rất nhiều tài liệu chỉ đề cập đến tên sông mà không nói rõ vị trí của nó nằm ở đâu trong hệ
thống sông ngòi chằng chịt ở phía bắc sông Hồng. Vì vậy, trong bài viết này chúng tôi không trích dẫn
những nguồn tài liệu đó. Tuy nhiên, trong số các tài liệu thành văn đã sưu tầm, chúng tôi cũng đã tìm ra
được một số ghi chép tương đối cẩn thận. Sách
Đại Nam nhất thống chí(1) chép: “sông Tiêu Lương cũ ở
địa giới phủ Từ Sơn, phát nguyên từ cái đầm lớn xã Phù Lưu huyện Đông Ngàn, chảy từ phía tây sang đông
bắc qua xã Tiêu Sơn huyện Yên Phong, chuyển sang địa phận hai huyện Tiên Du và Quế Dương vào sông
Thiên Đức". Sách
Địa chí Hà Bắc(1) ghi rằng: “Sông Tiêu Lương, còn gọi là sông Tiêu Tương, ở địa giới
huyện Tiên Sơn phát nguyên từ hồ Lãng Bạc chảy từ phía tây sang đông bắc qua xã Tương Giang, Vân
Tương, qua các làng quan họ nổi tiếng như Lim, Bưởi, Ó, Se, Bò... rồi chảy vào sông Cầu”... Ngoài ra, các
công trình nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu quen biết như: Đào Duy Anh (lịch sử), Nguyễn
Văn Huyên (văn hoá), Lê Bá Thảo, Nguyễn Văn Tiệp (địa lý), Trần Quốc Vượng (lịch sử)
(2)
v.v... cũng có
đề cập đến sông Tiêu Tương, nhưng cũng như những chi tiết chúng tôi đã trích ở trên, đều chưa đi đến
thống nhất. Vì vậy, khi tiến hành khảo sát sông Tiêu Tương theo các tài liệu này chúng tôi gặp rất nhiều
Trương Chi chuyển tới đánh cá ở một khúc sông khác. Mỵ Nương vì nhớ mong tiếng hát của chàng mà
sinh ốm tương tư. Thừa tướng cho mời biết bao thầy thuốc tài giỏi trong vùng tới cứu chữa cho con gái yêu,
thế nhưng chẳng thầy thuốc nào chữa khỏi được bệnh cho nàng. Biết được uẩn khúc trong lòng Mỵ Nương,
quan Thừa tướng cho người tìm Trương Chi đưa về dinh của mình. Hằng ngày, Thừa tướng giao cho chàng
nhiệm vụ sắc thuốc và hát cho Mỵ Nương nghe. Gặp mặt chàng đánh cá xấu xí và nghèo khổ, Mỵ Nương
thất vọng và từ đó khỏi bệnh.
Chàng Trương Chi lại trở về với dòng Tiêu Tương thơ mộng. Từ đó, đến lượt chàng thầm yêu trộm nhớ
nàng Mỵ Nương xinh đẹp. Ôm mối tình vô vọng, giận cho duyên phận hẩm hiu, chàng nhảy xuống sông tự
vẫn. Hồn chàng sau khi chết nhập vào cây bạch đàn.
Quan Thừa tướng vô tình mua cây bạch đàn về, sai người tiện một bộ ấm chén uống trà rất đẹp. Lạ kỳ thay,
mỗi khi rót nước vào chén, người ta lại thấy thấp thoáng hình bóng chàng đánh cá xấu xí trong lòng chén
nước. Mỵ Nương cầm chiếc chén trên tay, cảm động vì chuyện xưa, giọt nước mắt của nàng nhỏ vào trong
chén. Và, chiếc chén bỗng tan ra thành nước".
(1)
Câu chuyện trên đây cũng giống như rất nhiều câu chuyện tình lãng mạn khác, nhưng điều đặc biệt là
những cái tên Trương Chi, Mỵ Nương, Tiêu Tương... trong câu chuyện này đã trở nên rất đỗi quen thuộc
đối với người dân Kinh Bắc; quen thuộc tới mức hầu như bất cứ một người già nào ở nơi này cũng đều
thuộc một giai thoại hay một khúc hát về Mỵ Nương, Trương Chi hay Tiêu Tương. Điều đó cho thấy, sông
Tiêu Tương mặc dù tới nay là con sông “chết” nhưng đã in sâu trong tiềm thức của người dân xứ Bắc. Hay
nói cách khác, sông Tiêu Tương đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình kiến tạo nên bản sắc
văn hoá xứ Bắc và là một trong những yếu tố tiền đề cho sự ra đời của vùng văn hoá Kinh Bắc.
3. Mối quan hệ của sông Tiêu Tương với vùng văn hoá xứ Bắc
Theo các thư tịch cổ (như Đại Nam nhất thống chí, Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt
sử thông giám cương mục
...) Kinh Bắc là nơi dân cư đông đúc, kinh tế phát triển, giao thông thuận lợi (chủ
yếu là đường thuỷ dựa trên hệ thống các sông ngòi ở phía bắc sông Hồng). Nhà Hán mở con đường bộ từ
người Việt từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Khi nhà nước Âu Lạc sụp đổ, đất nước lại rơi vào tay nhà
Hán. Trải qua hơn một nghìn năm bị đô hộ, chiến thắng lừng lẫy của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng đã
đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc. Với ý chí xây dựng lại cơ đồ của cha ông, Ngô Quyền
tiếp tục định đô tại Cổ Loa
(2)
. Và Cổ Loa lại trở thành kinh đô của người Việt và là đất Kinh Bắc trong giai
đoạn thuộc Hán. Ngày nay, Cổ Loa thuộc địa phận Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam. Vùng đất này đã trở
thành một địa danh lịch sử - văn hoá quan trọng của thủ đô, chứa đựng trong lòng mình một kho tàng văn
hoá vô cùng quý giá có thể minh chứng cho bao sự đổi thay của đất nước trên những chặng đường lịch sử.
Nối liền với Cổ Loa, Dục Tú là một trong những địa danh văn hoá quan trọng tiếp theo nằm ven bờ sông
cổ. Một điều rất lý thú là Dục Tú trong hơn hai nghìn năm qua đã ngẫu nhiên trở thành mảnh đất ngoại
thành của ba trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá quan trọng của người Việt từ thời An Dương Vương
đến nay, đó là Cổ Loa, Kinh Bắc và Thăng Long - Hà Nội. Do không đóng vai trò là trung tâm chính trị nên
Dục Tú ít bị tàn phá bởi các thế lực đối kháng như với Cổ Loa và Thăng Long - Hà Nội. Chính điều này đã
khiến cho các di sản văn hoá của người Việt nơi đây tồn tại một cách liền mạch.
(1)
Một truyền thuyết trong dân gian còn lưu lại cho biết: Trong thời gian ở Cổ Loa, Ngô Quyền đã lấy vợ là
một cô gái cắt cỏ nghèo mang họ Đỗ, quê ở Dục Tú. Do người vợ này không thể có con nên sau đó đã được
ông ban lộc và cho về quê sinh sống. Bà phi họ Đỗ đã xin với Ngô vương cho mở mang quê nhà. Lúc bấy
giờ, Dục Tú còn ở trên bãi sông. Bà phi thả một quả bưởi xuống dòng Hoàng Giang, xin rằng quả bưởi trôi
đến đâu, sẽ được cắm địa giới làng Dục Tú đến đó. Quả bưởi của bà đã trôi tới sát chân thành Cổ Loa rồi
dừng lại. Hoàng Giang đã trở thành gạch nối gắn kết giữa Cổ Loa và Dục Tú từ đó.
Trong khi điền dã, chúng tôi đã được nghe các cụ già ở Dục Tú kể lại là cách đây vài chục năm, giữa hai
thôn Tiền và Hậu là một dãy ao chạy dọc theo chiều dài của làng. Dân hai thôn chiều chiều ra cầu ao rửa
rau vẫn thường trao đổi những câu chuyện lợn gà, tấm cám... Ấy vậy mà giọng nói của hai thôn lại hoàn
toàn khác biệt. Như vậy, có thể dãy ao đó xưa kia chính là khúc sông Hoàng (Hoàng Giang) chảy qua
DụcTú. Một dấu vết khác của dòng sông đã từng chảy qua Dục Tú là cánh đồng Rộc Sổ. Lúa trồng ở đây
thì đầm làng Phù Lưu là dấu tích của sông Đuống. Vào thế kỷ XV, do Hồ Quý Ly cho đào lòng
sông để uốn thẳng dòng chảy, sông Đuống đổi dòng, từ đấy sông Tiêu Tương bị mất nguồn nước và bị bồi
lấp dần
. Chứng cứ này về thời điểm lịch sử thì đáng tin vì việc nắn dòng sông Đuống là có thật. Tuy nhiên,
về vị trí địa lý có đúng như đã dẫn ở đây hay không thì còn phải tìm hiểu thêm.
Ngày nay, sông Tiêu Tương đã bị lấp gần hết, có chỗ bồi thành ruộng, có đoạn đắp thành đường. Chỉ còn
đây đó một vài khúc sông còn sót lại và được gọi là ao, đầm... Nhưng, dòng sông đẹp gắn với những truyền
thuyết và mạch nguồn văn hoá cổ truyền của vùng đất Kinh Bắc xưa vẫn còn sống động trong lòng văn hoá
dân gian. Điều gì đã khiến cho con sông này trở nên hấp dẫn đến vậy? Đó chính là sức sống mãnh liệt của
các giá trị văn hoá dân gian và sự cuốn hút của một dòng sông đã đi vào huyền thoại.
Như vậy, sông Tiêu Tương không chỉ là một dòng sông mang đầy ắp những yếu tố huyền thoại mà còn là
một dòng sông chứa đựng trong nó rất nhiều những yếu tố lịch sử. Rõ ràng, mối quan hệ giữa sông Tiêu
Tương với văn hoá Kinh Bắc là một mối quan hệ lịch sử văn hoá hết sức chặt chẽ: Sông Tiêu Tương góp
phần kiến tạo nên văn hoá Kinh Bắc và chính văn hoá Kinh Bắc đã lưu giữ lại dòng sông huyền thoại trong
tiềm thức của người dân Kinh Bắc. Có thể nói, sông Tiêu Tương đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng
trong sự hình thành nên các địa danh văn hoá ở Kinh Bắc và chính những địa danh văn hoá này đã cấu
thành vùng văn hoá Kinh Bắc rực rỡ trong suốt hàng nghìn năm qua.
4. Một vài kết luận bước đầu và một số nghi vấn
4.1. Một vài kết luận
a) Sông Tiêu Tương là một dòng sông có thực nhưng đã “chết”. Tạm thời, chúng ta có thể hình dung dòng
chảy của sông Tiêu Tương bắt nguồn từ một nhánh sông Hồng đi qua Cổ Loa, Dục Tú, Phù Lưu, Dương
Lôi, Tam Sơn, Tương Giang, Lim, Xuân Ổ,... tạo nên một dải văn hoá
làng ven sông mang đặc trưng của
văn hoá Kinh Bắc.
b) Sông Tiêu Tương, cùng với sông Đuống, sông Cầu... đã hình thành nên một hệ thống giao thông thuỷ có
vai trò đặc biệt quan trọng với Kinh Bắc trong quá trình dựng nước và giữ nước của người Việt kể từ khi
đối với văn hoá Kinh Bắc cũng như văn hoá của người Việt trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc.
Hà Nội, 18/9/2005