MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................................................. 5
NỘI DUNG............................................................................................................................................ 7
Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH VÀ BIẾN ĐỔI GIA ĐÌNH..........7
1.1. Gia đình và chức năng của gia đình........................................................................... 7
1.1.1 Khái niệm gia đình....................................................................................................... 7
1.1.2. Chức năng của gia đình.......................................................................................... 13
1.2. Biến đổi gia đình và những nhân tố tác động đến sự biến đổi của
gia đình............................................................................................................................................. 19
1.2.1. Khái niệm biến đổi gia đình................................................................................ 19
1.2.2. Những nhân tố tác động đến sự biến đổi của gia đình Việt Nam.....23
Kết luận chương 1...................................................................................................................... 47
Chương 2. BIẾN ĐỔI GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY DƯỚI SỰ
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP................49
2.1. Thực trạng một số biến đổi của gia đình ở nước ta hiện nay......................49
2.1.1. Những mặt tích cực của sự biến đổi gia đình ở nước ta hiện nay....49
2.1.2. Những mặt tiêu cực của sự biến đổi gia đình ở nước ta hiện nay....64
2.2. Một số giải pháp chủ yếu xây dựng gia đình Việt Nam thời kỳ
công nghiệp hóa và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa......................................................................................................................................... 72
2.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, quản lý của các cấp
chính quyền và hoạt động của các tổ chức xã hội đối với công tác gia
đình................................................................................................................................................. 72
2.2.2. Đổi mới chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước để hỗ trợ
cho các gia đình....................................................................................................................... 76
2.2.3. Kế thừa những di sản đạo đức truyền thống của gia đình Việt
Nam và tiếp thu những giá trị nhân văn của gia đình hiện đại trong
xây dựng gia đình................................................................................................................... 78
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, các số liệu trích dẫn trong luận văn là chính xác
và trung thực.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Hương
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Mỗi người luôn luôn nhớ về tổ ấm gia đình, nơi mình được sinh ra, lớn
lên trong tiếng ru hời của mẹ, tình thương yêu trầm lặng vô bờ bến của cha.
Để rồi khi lớn lên và trưởng thành hòa mình vào sắc màu muôn vẻ của cuộc
sống, bộn bề công việc giữa đời thường, nhưng mối quan hệ với gia đình vẫn
được duy trì bền chặt theo suốt cuộc đời mình. Cái nôi gia đình được kết hợp
với nhà trường và xã hội là ba môi trường giáo dục cần thiết cho sự hoàn thiện
của mỗi người. Các nhà nghiên cứu đã khẳng định: giai đoạn giáo dục trong
gia đình là cơ sở quan trọng để hình thành tài năng, nhân cách con người. Gia
đình cũng là nơi con người cảm thấy yên bình nhất, là nơi nuôi dưỡng cả thể
chất và tâm hồn khi chúng ta còn nhỏ, là nơi có những phút giây đầm ấm sau
những bộn bề lo toan công việc khi đã trưởng thành và là nơi nương tựa khi
con người ta về già.
Gia đình là một vấn đề đang thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều quốc
gia trên thế giới. Càng quan tâm đến con người, chúng ta càng phải suy nghĩ
về nó. Là một yếu tố cấu thành của xã hội, gia đình phản ánh một cách chân
hệ trẻ, để nhân cách và văn hóa của thế hệ trẻ sớm được nảy nở và phát huy.
Vì vậy việc làm rõ “những nhân tố tác động đến sự biến đổi của gia đình Việt
Nam hiện nay” vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nên tôi đã chọn đề tài này
làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình.
2.
Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về gia đình
dưới nhiều góc độ và quy mô khác nhau. Liên quan đến đề tài của luận văn có
thể phân chia các công trình này thành các nhóm cơ bản như sau:
Nhóm vấn đề quan hệ giới và sự bất bình đẳng, bạo lực gia đình, có
một số công trình như: “Một số vấn đề về bạo lực gia đình hiện nay” của Lê
Thị Quý, Tạp chí khoa học về phụ nữ, số 4 - 1991; “Bất bình đẳng nam nữ
nhìn từ góc độ lịch sử” của Lê Thị Quý, Tạp chí khoa học về phụ nữ, số 32 –
1998; “Bạo lực gia đình - bất bình đẳng trong quan hệ giới” của Lê Thị Quý,
Tạp chí khoa học về phụ nữ, số 42 – 2000; “Bạo lực gia đình - một sự sai lệch
2
giá trị”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007…Qua các bài viết này, các tác
giả đã chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, ảnh hưởng và hậu quả của sự bất bình
đẳng giữa các thành viên, nạn bạo lực gia đình đang diễn biến nghiêm trọng
đang tác động đến gia đình và xã hội ở nước ta hiện nay.
Nhóm vấn đề tiếp cận và nghiên cứu gia đình dưới góc độ văn hóa, đạo
đức có một số công trình như: “Nho giáo và gia đình”, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội 1995; “Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới” Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007; “Văn hóa gia đình và xây dựng gia đình
văn hóa trong thời kỳ hội nhập quốc tế” của Th.S Trần Thị Tuyết Mai, Tạp chí
Cộng sản, số 161 – 2008. Qua các công trình này, các tác giả đã khái quát
biến đổi gia đình ở Việt Nam” của tác giả Lê Ngọc Văn. Đây là công trình có
cái nhìn khá sâu sắc và toàn diện về biến đổi gia đình ở Việt Nam hiện nay.
Tác giả đã chỉ ra được một số nhân tố tác động đến sự biến đổi của gia đình
hiện nay, phân tích xu hướng biến đổi của gia đình. Tuy nhiên, tác giả chưa đi
phân tích một cách cụ thể sự biến đổi của gia đình và chưa đưa ra được các
biện pháp để xây dựng gia đình trong điều kiện bị các nhân tố tác động. Từ
công trình nghiên cứu và bài viết trên, các tác giả đã khái quát một cách có hệ
thống về sự biến đổi quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đình trong công
cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, các công
trình nêu trên chỉ đề cập tới sự tác động của từng yếu tố đơn lẻ đến gia đình
và đưa ra một số giải pháp còn chung chung để giải quyết những vấn đề đang
tồn tại trong các gia đình. Cho đến nay, còn rất thiếu những công trình nghiên
cứu cơ bản và có hệ thống về những yếu tố cơ bản tác động đến sự biến đổi
của gia đình Việt Nam hiện nay.
3.
Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích một số nhân tố cơ bản tác động đến sự biến đổi
của gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, luận văn đưa ra những giải pháp
nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của những
tác động đó.
4
3.2. Nhiệm vụ
-
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những nhân tố tác động đến sự biến đổi
của gia đình Việt Nam hiện nay.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào nghiên cứu những nhân tố chính tác động đến
sự biến đổi của gia đình Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đến nay.
6.
Đóng góp của luận văn
Luận văn đã làm rõ những yếu tố tác động đến sự biến đổi của gia đình
từ đó đề xuất ra những phương hướng nhằm phát huy những mặt tích cực và
hạn chế những mặt tiêu cực đến sự biến đổi của gia đình.
5
7.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: luận văn làm rõ những yếu tố tác động đến gia đình Việt
Nam gây ra những biến đổi tích cực và tiêu cực của gia đình. Vì vậy, luận văn
có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu về vấn
đề gia đình Việt Nam.
Về thực tiễn: luận văn có thể được vận dụng để phát huy những mặt tích
cực, hạn chế những mặt tiêu cực đến sự thay đổi của gia đình Việt Nam hiện nay
để xây dựng gia đình Việt Nam: ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
8.
Kết cấu của luận văn
các tác phẩm của mình, C. Mác và Ph.Ăngghen đã không ít lần đề cập tới vấn
đề gia đình. C. Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét gia đình với tư cách một xã
hội thu nhỏ, các hình thức lịch sử của gia đình, nhất là gia đình với sự xuất
hiện của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; nghiên cứu mối quan hệ giữa gia
đình và nhà nước, sự khác biệt giữa gia đình dưới chế độ tư bản chủ nghĩa và
7
gia đình dưới chế độ xã hội chủ nghĩa trong tương lai. Không những thế, C.
Mác và Ph.Ăngghen còn nghiên cứu gia đình trong quan hệ tính giao - vấn đề
trong hôn nhân, và gia đình với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất
trong lịch sử phát triển xã hội.
Có thể nói, vấn đề gia đình trong di sản lý luận của C. Mác và
Ph.Ăngghen không chỉ dừng lại ở khái niệm “gia đình” thuần túy, mà còn
khám phá nguồn gốc gia đình, ảnh hưởng của những biến đổi xã hội tới gia
đình, tác động của gia đình tới xã hội và đặc biệt là ảnh hưởng của sự biến đổi
kinh tế, của tiến trình công nghiệp hóa.
Trong Hệ tư tưởng Đức, khi nói về tiến trình phát triển của lịch sử nhân
loại, C. Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét ba mối quan hệ con người đã được
hình thành trong lịch sử nhân loại. Quan hệ thứ nhất là quan hệ giữa con
người với tự nhiên, phản ảnh khát vọng chinh phục tự nhiên, nghiên cứu tự
nhiên để tồn tại và cũng để thỏa mãn những nhu cầu không ngừng nảy sinh
của con người. Quan hệ thứ hai là quan hệ giữa con người với con người
trong quá trình sản xuất, phản ánh các quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất,
các quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, các quan hệ trong phân phối
sản phẩm lao động. Quan hệ thứ ba là quan hệ gia đình. Cũng theo C. Mác và
Ph.Ăngghen, ba quan hệ này tồn tại đan xen với nhau, hòa vào nhau, cùng tồn
tại bên nhau. Nhờ những nghiên cứu của C. Mác và Ph.Ăngghen về các hình
thức gia đình, chúng ta mới có thể hiểu rõ hơn nội dung của lực lượng sản
xuất (quan hệ thứ nhất), nội dung của quan hệ sản xuất (quan hệ thứ hai) và
nghề của xã hội và do vậy sự “yên ấm” của từng gia đình cũng bị phá vỡ theo
dòng xoáy của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Không chỉ thế, nó còn làm thay
đổi vị trí và điều kiện sinh sống của gia đình, thay đổi nhu cầu thưởng thức
những giá trị vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong gia đình. Nếu
trước đây, nhu cầu tiêu dùng được thỏa mãn bằng những sản phẩm trong
nước, thì nay đã nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thỏa mãn bằng
những sản phẩm từ những miền và xứ xa xôi nhất về và một khi “sản xuất vật
chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế”, nó làm cho
những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản
9
chung của tất cả các dân tộc. Nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa còn tạo ra
một chế độ xã hội và chính trị thích ứng với quan hệ sản xuất mới, với cơ sở
hạ tầng mới. Nó xóa bỏ mọi phẩm chất và đức hạnh do chế độ phong kiến tạo
dựng; nó “tước hết hào quang thần thánh của tất cả những hoạt động xưa nay
vẫn được trọng vọng và tôn sùng” [28,tr 600]; nó biến đổi cả quan hệ gia đình
vốn được xem là thiêng liêng nhất, “xé toang tấm màn tình cảm bao phủ
những quan hệ gia đình và làm cho những quan hệ ấy chỉ còn là những quan
hệ tiền nong đơn thuần” [28, tr 600].
Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C. Mác và Ph.Ăngghen cũng đã
khẳng định, với sự hình thành và phát triển của nền đại công nghiệp thì không
chỉ các quan hệ xã hội, mà cả quan hệ gia đình cũng đã bị thay đổi.
Tiếp tục nghiên cứu về gia đình, trong một tác phẩm chuyên khảo đặc
biệt có giá trị Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
(1884), Ph.Ăngghen đã chỉ ra vị trí quy định của gia đình đối với các thiết chế
xã hội. Ông chỉ ra rằng: “Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong
lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Nhưng
bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại. Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh
hoạt: thực phẩm, quần áo và nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra
cảm), giữa họ có những điều kiện ràng buộc có tính pháp lý, được nhà nước
thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong Luật hôn nhân và gia đình nước ta).
Đồng thời trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và
cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên” [46, tr 7].
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về gia đình, mỗi khái niệm đều nhằm
mục đích khái quát lên những yếu tố cơ bản, đặc thù. Sau đây là một số khái
niệm:
a.
Gia đình là tập hợp những người cùng chung sống thành một đơn vị
nhỏ nhất trong xã hôi, họ gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng
máu, thường gồm vợ chồng, cha mẹ và con cái.
b.
Gia đình là nhóm người chung sống với nhau dưới một mái nhà có quan hệ
hôn nhân, huyết thống và nền kinh tế chung.
11
c. Theo Levi strauss thì gia đình là một nhóm xã hội được quy định bởi
ba đặc điểm nổi bật là: bắt nguồn từ hôn nhân bao gồm vợ chồng, con cái phát
sinh từ sự hôn phối của đôi nam nữ, tuy nhiên trong gia đình có mặt của
những người họ hàng, bà con hoặc con nuôi, họ gắn bó với nhau bởi các nghĩa
vụ và quyền lợi có tính chất kinh tế và về sự cấm đoán tình dục giữa các thành
viên.
Hướng tới xây dựng gia đình bền vững, tổ chức UNESCO của Liên hợp
quốc đã quyết định lấy năm 1994 là năm Quốc tế gia đình và thống nhất
khẳng định: Gia đình là một yếu tố tự nhiên và cơ bản, một đơn vị kinh tế của
xã hội. Gia đình được coi như một giá trị vô cùng quý báu của nhân loại cần
tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam. Từ quan
niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về gia đình trong mối quan hệ với sự
phát triển kinh tế - xã hội, có thể khẳng định chủ trương đó của Đảng ta là định
hướng chiến lược đối với việc xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay.
1.1.2. Chức năng của gia đình
Gia đình được xem như là một xã hội thu nhỏ, là tổ chức tế bào của xã
hội, là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Xã hội Việt Nam với nền văn
minh lúa nước từ lâu đã sống định cư và lấy gia đình làm đơn vị gốc. Trải qua
bao biến thiên của lịch sử cho đến ngày nay, trên con đường đổi mới và tiếp
cận với văn hóa Phương Tây, gia đình Việt Nam vẫn giữ được được giá trị của
mình. Gia đình được sinh ra tồn tại và phát triển chính vì nó có sứ mệnh đảm
đương những chức năng đặc biệt mà xã hội và tự nhiên giao cho, không một
thiết chế xã hội nào khác có thể thay thế được. Các chức năng đó tồn tại trong
mối liên hệ thống nhất, tác động lẫn nhau để tạo nên con người và xã hội hóa
con người. Dù ở thời kỳ nào, gia đình bao giờ cũng có bốn chức năng cơ bản:
chức năng duy trì nòi giống; chức năng kinh tế; chức năng nuôi dưỡng, giáo
dục; chức năng tình cảm.
Thứ nhất: Chức năng duy trì nòi giống.
Chức năng sinh đẻ (tái sản xuất ra con người) là chức năng đặc thù của
gia đình như theo V. A Xukhômlinxki đã viết: Có hàng chục, hàng trăm ngành
nghề, công việc khác nhau: người xây dựng đường sắt, người kia làm
13
nhà ở, người làm bánh mỳ, người thì chữa bệnh…Nhưng có một công việc
phổ biến nhất, phức tạp nhất và cao quý nhất như nhau đối với mọi gia đình,
đồng thời lại có tính đặc thù và không lặp lại trong mỗi gia đình - sự sáng tạo
ra con người là nỗ lực cao nhất của tất cả các sứ mạng tình thần của bạn. Đó
là sự khôn ngoan, là tài nghệ, nghệ thuật trong cuộc sống của bạn.
hội của xã hội chủ nghĩa.
Trong xã hội Việt Nam của chúng ta ngày nay gia đình có một sứ mệnh
lớn lao là sản sinh ra những con người Việt Nam sau này khỏe về thể lực,
mạnh về trí tuệ và đẹp về nhân cách, vóc dáng. Cho nên, chức năng sinh đẻ
không chỉ đơn giản là “sinh sản” mà còn phải “dưỡng” để tạo ra những con
người Việt Nam mới về chất tạo nguồn lực tốt nhất cho đất nước. Đây cũng
chính là vấn đề mà Năm Quốc Tế về gia đình Việt Nam nhấn mạnh.
Thứ hai: Chức năng kinh tế.
Kinh tế gia đình đóng vai trò quyết định cho sự bền vững của gia đình.
Cùng với quá trình xã hội hóa lực lượng sản xuất ở từng lúc, từng nơi kinh tế
gia đình biến đổi với nhiều dạng phong phú và có vị trí khác nhau. Kinh tế gia
đình phát triển có ảnh hưởng đến các chức năng khác của gia đình, giúp con
người thỏa mãn nhu cầu của mình: ăn học, giải trí, nuôi dạy con, chăm sóc
cha mẹ…ngược lại kinh tế gia đình eo hẹp, không ổn định sẽ ảnh hưởng ngay
đến sự ổn định và hạnh phúc gia đình.
Trong xã hội nông nghiệp, gia đình là đơn vị sản xuất, một đơn vị kinh
tế độc lập. Mọi thành viên trong gia đình cùng ở trong một ngôi nhà, cùng
chung thu nhập vì vậy các thành viên có sự lệ thuộc vào nhau. Chức năng
kinh tế quyết định đến sự ổn định của gia đình. Trong xã hội công nghiệp hiện
nay, chức năng kinh tế của gia đình được chuyển hóa dưới dạng khác nhau.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiều gia đình có điều kiện (có sở
hữu hoặc tham gia sở hữu tư liệu sản xuất) đều có thể trở thành một đơn vị
kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Để có thể phát huy mọi tiềm năng
sáng tạo trong kinh tế, Đảng và Nhà nước đề ra và thực hiện các chính sách
sao cho mọi gia đình, mọi cá nhân có thể làm giàu chính đáng bằng hoạt động
sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật. Cùng với sản xuất kinh
15
doanh, các gia đình và hộ gia đình công nhân viên chức, cán bộ hành chính sự
Phần lớn thái độ của con người khi trưởng thành đối với xã hội phụ
thuộc nhiều vào kinh nghiệm từ tẹ hời thơ ấu sống trong gia đình. Phần lớn
những gì được cho là bẩm sinh đều là sản phẩm của văn hóa, kết hợp với nhân
cách thông qua quá trình xã hội hóa. Xã hội hóa vai trò giới tính luôn là một
trong những chức năng quan trọng nhất của gia đình.
Gia đình rất quan trọng trong quá trình xã hội hóa không phải đơn
thuần là định dạng nhân cách mà còn hình thành ở trẻ một quan điểm xã hội.
Nói cách khác, bố mẹ không chỉ đưa trẻ vào thế giới hữu hình mà còn đặt trẻ
vào trong xã hội hiện hữu. Nhiều nghiên cứu khẳng định đặc điểm của giai
cấp, xã hội, tôn giáo, chủng tộc, dân tộc đều được gia đình trực tiếp ảnh
hưởng, tác động và hình thành cho trẻ, đều trở thành một phần trong khái
niệm cái tôi của trẻ. Rất lâu trước khi mỗi người trưởng thành đủ khôn lớn để
hiểu rõ bản chất mọi vấn đề, thì chúng ta đã nắm giữ một ví trí trong cấu trúc
xã hội do gia đình mình xác định. Quan điểm xã hội mà trẻ có được từ phía
gia đình hầu như có thể tác động đến sự hình thành các khuôn khổ trong sự
tồn tại của cá nhân trong suốt cuộc đời.
Thực chất của công tác giáo dục gia đình là xã hội hóa đứa trẻ. Xã hội
hóa đứa trẻ trong đời sống gia đình là quá trình xã hội hóa cá nhân, đó là một
quá trình hai chiều, cá nhân học hỏi để thực hiện vai trò xã hội và ngược lại;
xã hội tác động đến cá nhân làm cho cá nhân tự điều chỉnh nhận thức, cảm
xúc, hành vi để thích ứng với môi trường xã hội mà cá nhân đó đang sống. Xã
hội hóa là một tiến trình rất dài của đời người, dựa trên sự tương tác xã hội.
Qua đó cá nhân được cung cấp kinh nghiệm sống, kỹ năng sống, để biến đổi
từ con người sinh vật sang con người xã hội. Gia đình tham gia vào tất cả các
giai đoạn xã hội hóa trong chu trình sống của con người, ở giai đoạn nào vai
trò của gia đình cũng chiếm vị trí quan trọng…Sabran, nhà xã hội học người
Pháp đã có lý khi nhận xét rằng: xã hội như một con tàu, cá nhân phải bước
lên con tàu xã hội thì mới trở thành người xã hội, nếu không thì phải đứng
mãi ở bến tàu. Có thể nói, những mầm mống ban đầu của nhân cách, những
quanh đứa con và càng gắn bó, yêu thương lẫn nhau, thỏa mãn nhu cầu tinh
thần cho các thành viên trong gia đình. Bầu không khí đầm ấm tránh những
18
xung đột, mọi vấn đề được giải quyết kịp thời, tế nhị sẽ mang lại niềm vui,
hạnh phúc cho mọi thành viên trong gia đình, đặc biệt đối với trẻ nhỏ và
người cao tuổi. Việc chăm sóc và nuôi dưỡng người già, người thân mất sức
lao động không chỉ là bổn phận và trách nhiệm của các thành viên trong gia
đình mà còn là lòng hiếu thảo, sự biết ơn đối với ông bà, cha mẹ.
Trong xã hội hiện đại, độ bền vững của gia đình không chỉ phụ thuộc
vào sự ràng buộc các mối quan hệ về trách nhiệm, nghĩa vụ giữa các thành
viên. Nó ngày càng bị chi phối bởi các mối quan hệ tình cảm, tình yêu giữa
đôi vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, sự bảo đảm yêu cầu về tự do, dân chủ,
bình đẳng, sự quan tâm đến nhu cầu chính đáng của mỗi cá nhân trong cuộc
sống chung. Gia đình là nơi thể hiện tình cảm sâu sắc nhất, thực sự là tổ ấm
của mỗi cá nhân. Đời sống nội tâm có ý nghĩa ngày càng tăng khiến cho chức
năng tình cảm và chăm sóc giáo dục con cái trở nên hết sức quan trọng.
1.2. Biến đổi gia đình và những nhân tố tác động đến sự biến đổi
của gia đình
1.2.1. Khái niệm biến đổi gia đình
Để hiểu được biến đổi gia đình, trước tiên phải hiểu được biến đổi xã
hội vì gia đình không nằm ngoài xã hội. Biến đổi xã hội luôn là chủ đề trung
tâm của xã hội học. Từ giữa thế kỷ XIX, các nhà xã hội học đã bắt đầu nghiên
cứu về biến đổi xã hội xuất phát từ nhu cầu thực tiễn: đi tìm lời giải thích cho
hai làn sóng biến đổi lớn đang xảy ra sau cuộc cách mạng Pháp và Mỹ. Đó là
quá trình công nghiệp hóa và sự mở rộng nền dân chủ, mở rộng quyền công
dân.
Từ cơ sở lý thuyết chức năng luận, Emile Durkheim cho rằng các biến
đổi có thể được giải thích như là hiện tượng thường xuyên đi tìm kiếm trạng
gần đây, khi nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường, tự do hóa thương mại,
đa dạng hóa các hình thức sở hữu, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã
có tác động mạnh mẽ đến đời sống gia đình cả về phương diện cấu trúc và
chức năng trong các chiều cạnh của đời sống gia đình. Xu hướng toàn cầu
hóa, hội nhập khu vực và quốc tế về kinh tế, văn hóa, xã hội chính là những
nhân tố quan trọng thúc đẩy sự biến đổi của gia đình.
20
Cũng lấy mốc biến đổi năm 1945 nhưng tác giả Mai Huy Bích (2003)
không đi từ yếu tố kinh tế để giải thích sự biến đổi. Theo tác giả, nhân tố quan
trọng để lý giải sự biến đổi gia đình chính là những cải cách mà Nhà nước thi
hành. Tức là tác giả gắn biến đổi gia đình với vai trò của Nhà nước. Nhà nước
đã chủ trương thay đổi gia đình cũ, tạo ra gia đình mới để phù hợp với hệ
thống kinh tế xã hội mới. Bắt đầu từ hiến pháp đầu tiên (1946) cho đến nay,
Nhà nước đều có các chính sách bảo vệ gia đình, nhưng không phải là gia
đình hiện trạng mà là mẫu hình gọi là “gia đình tốt”, “gia đình văn hóa”, “gia
đình xã hội chủ nghĩa”
Tác giả Khuất Duy Hồng cũng căn cứ vào sự chuyển đổi từ một xã hội
này sang một xã hội khác làm cơ sở phân định ranh giới sự biến đổi nhưng
theo tác giả mốc thay đổi phải là năm 1954. Vì theo tác giả chế độ thực dân
phong kiến chính thức bị xóa bỏ hoàn toàn vào năm 1945 nhưng sau đó cuộc
kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954 đã trở thành trung tâm thu hút mọi sự nỗ
lực của Nhà nước và nhân dân. Chính vì vậy mà chỉ có thể từ năm 1954 khi
chế độ mới bắt đầu vận hành một cách bình thường trong điều kiện hòa bình
thì những biến đổi xã hội quan trọng mới xuất hiện.
Dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, nền kinh tế tự cung, tự
cấp đã nhường chỗ cho sản xuất hàng hóa, phân công lao động sản xuất phát
triển, đẩy mạnh quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị. Căn cứ vào những
thay đổi này, có ý kiến cho rằng biến đổi sâu sắc nhất của gia đình dưới tác