PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Học sinh lớp 4 thuộc nhóm lứa tuổi từ 9 11 tuổi. ở lứa tuổi này các
em có những biến đổi quan trọng trong cuộc sống như nhận thức, tình cảm,
cảm xúc… Học sinh lớp 4 bước đầu đã biết tìm các dấu hiệu đặc trưng cho
sự vật, biết phân biệt các đặc điểm của các chi tiết, các phần kỹ thuật động
tác. Khả năng phân tích các hiện tượng trong tập luyện, lao động, sinh hoạt
còn hạn chế nên dễ bị động khi được nhắc nhở, dẫn đến biểu hiện kém tự
tin, kém khả năng kiềm chế hành vi, thái độ. Chính vì vậy mà khi gặp các tình
huống trong quá trình tập luyện việc xử lý tình huống của các em có độ linh
hoạt chưa cao. Ở các nội dung trong chương trình thể dục thì phần đội hình
đội ngũ luôn sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hằng ngày và các hoạt động
khác. Chính vì vậy mà đòi hỏi các em phải nhớ và biết áp dụng phần nội dung
đã học. Song trong thực tế khi giáo viên kiểm tra việc thực hiện các kỹ thuật
động tác của đội hình đội ngũ nhiều em vẫn còn sai, tập chưa chính xác, bên
cạnh đó khi đi dự giờ và trong quá trình giảng dạy những năm trước tôi nhận
thấy rằng một số nội dung giáo viên truyền tải tới học sinh chưa được cụ thể
khiến cho học sinh khó nắm bắt được kỹ thuật. Trước tình hình thực tế của
nhà trường, khi nói đến giờ học thể dục thì đa số học sinh ham thích, ham
học, thích luyện tập. Song bên cạnh đó có một số bộ phận do điều kiện sống
của các em hay sự phát triển tâm sinh lý của các em còn chậm chưa phù hợp
với kiến thức nội dung bài học hay tác phong chậm, chưa nhạy bén, chưa linh
hoạt, ý thức trong học tập còn hạn chế. Đặc biệt là học sinh tiểu học các em
con nhỏ, do vậy việc quan sát, tập luyện còn lúng túng, không nắm bắt được
yếu lĩnh kỹ thuật khi thực hiện động tác, các em chưa chú ý, chưa nghiêm túc
khi thực hiện bài tập, trong giờ học còn nô nghịch nhiều không chú ý khi giáo
viên làm mẫu thị phạm động tác, học sinh còn chưa xác định được phương
hướng của động tác, học sinh còn nhỏ các em mải chơi, không chú ý đến giờ
1
Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu: Đọc sách, tài liệu tham khảo và
các văn bản liên quan đến giáo dục, sách giáo viên có nội dung các bài tập đội
hình đội ngũ cho học sinh
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: (nghiên cứu sản phẩm học
tập của học sinh thông qua việc tập luyện).
Phương pháp điềutra:
+ Điều tra thực trạng.
+ Dự giờ, lấy ý kiến của chuyên môn và giáo viên trong trường.
+ Khảo sát chất lượng đầu năm va kiêm tra th
̀ ̉
ương xuyên..
̀
Phương pháp tập luyện: (là các phương tiện để đạt mục đích hình thành kỹ
năng kỹ xảo vận động và phát triển tố chất vận động).
Phương pháp trực quan: (giáo viên làm mẫu, tranh ảnh, mô hình ...)
Phương pháp rèn luyện sức nhanh :( chủ yếu là phương pháp lặp lại ).
Phương pháp khảo nghiệm: Tổ chức so sánh, đổi chiếu kết quả trước và
sau khi thực hiện giải pháp, biện pháp
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận.
Qua thực tế mấy năm giảng dạy chuyên thể dục từ lớp 1 đến lớp 5 tôi
nhận thấy học sinh còn nhiều lỗi mắc phải. Hầu hết các em chưa nắm vững
kiến thức, kĩ năng cần đạt được như thế nào. Đặc biệt là kiến thức, kĩ năng
về chương Đội hình đội ngũ, dẫn đến khó khăn khi giảng dạy các chương
khác. Khi bước vào năm học mới các em thường bỡ ngỡ quên khẩu lệnh hô
hoặc các em quên cách xếp đội hình do thời gian các em nghỉ hè nhiều và việc
tập luyện cũng không được thường xuyên ở nhà. Qua thời gian học 4 tuần tôi
che mát, thời tiết mưa nắng thất thường. Sự nhận thức của từng em khác
nhau, sự quan niệm chưa coi trọng môn học này, dẫn đến thường coi nhẹ …
Nội dung đội hình đội ngũ lại rất cần sự nhanh nhẹn, tinh thần tập thể và ý
thức kỷ luật cao, rèn luyện chí thông minh sáng tạo và trong thực tiễn hoạt
động, phần đội hình đội ngũ được vận dụng rất nhiều trong các hoạt động
4
mang tính tập thể trong và ngoài nhà trường ví dụ như tập thể dục giữa giờ
hay tập nghi thức đội.
Phần đội hình đội ngũ không chỉ những học sinh lớp 1, lớp 2 còn bỡ
ngỡ mà cả đối với học sinh lớp 4 các em đã học qua từ các lớp dưới vậy mà
các em vẫn thực hiện các động tác chưa đúng, còn lúng túng khi tập luyện. Do
vậy qua thời gian giảng dạy tôi có nhiều trăn trở và nhận thấy có nhiều
nguyên nhân đẫn đến phần kỹ năng thực hiện động tác của các em như sau:
* Nguyên nhân chủ quan:
Ý thức tập luyện của học sinh đã hình thành từ những năm trước
thông qua sự giáo dục, nhắc nhở của các giáo viên trong nhà trường.
Tranh ảnh phục vụ cho dụng cụ trực quan trong từng tiết học còn
thiếu
Một số giáo viên chuẩn bị bài chưa chu đáo, vẫn xem nhẹ nội dung
đội hình đội ngũ, dẫn đến chất lượng bài tập chưa cao, hơn nữa giáo viên cho
học sinh tập luyện quá nhiều dẫn đến học sinh mệt mỏi không muốn học.
Bên cạnh đó vẫn còn một số giáo viên quản lý học sinh trong giờ học
chưa nghiên túc, vẫn để các em chạy nhảy, nô giỡn mà không nhắc nhở hay
xử lý.
Có giáo viên dạy kiêm nhiệm chưa có chuyên môn thể dục nên một
phần ảnh hưởng đến việc vận dụng các phương pháp dạy học .
Ban chỉ huy thường dùng thuật ngữ của chuyên môn sai (khẩu
tuần thứ 4(tháng 9/2017) với tổng số học sinh là: 61 em, kết quả như sau.
Lớp/sĩ
số
Đạt loại
Kĩ năng
Khẩu lệnh
Tập hợp hàng ngang, dóng
hàng, điểm số
(30)
HT
CHT
3(10%)
12(40%)
15(50%)
4(13,3%) 16(53,3%) 10(33,3%)
Tập hợp hàng dọc, dóng
4A
HTT
7(22,5%)
5(16,1%) 11(35,4%) 15(48,3%)
3. Nội dung và hình thức của biện pháp.
a. Mục tiêu của biện pháp
Qua thời gian trực tiếp giảng dạy môn thể dục tiểu học bản thân tôi
nhận thấy còn rất nhiều học sinh còn hạn chế về kĩ năng phần “đội hình đội
ngũ”.
Để nâng cao chất lượng dạy học và căn cứ vào thực tế tại địa
phương, điều kiện cơ sở vật chất tại trường, quá trình học tập của các em
học sinh để từ đó đưa ra các biện pháp giúp học sinh làm sao có có kĩ năng
hơn phần “đội hình đội ngũ” một cách thành thạo theo đúng yêu cầu của môn
học và theo đúng yêu cầu của giáo viên. Từ đó giúp các em yêu thích và hứng
thú hơn với việc học tập và các hoạt động khác tại trường.
Từ những băn khoăn trăn trở làm thế nào nâng cao chất lượng trong
mỗi tiết dạy nên trong quá trình giảng dạy tôi luôn chú trọng đến kĩ năng thực
hành và kịp thời sửa sai, hướng dẫn việc chủ động tự học của học sinh giúp
các em có ý thức hơn về môn học
Mục đích của sáng kiến này là nghiên cứu và đưa ra một số biện
pháp giúp học sinh có kĩ năng hơn khi học phần “đội hình đội ngũ”. Từ đó
đưa ra những kiến nghị và những phương pháp giúp cho việc giảng dạy bộ
môn thể dục trong trường tiểu học đạt hiệu quả cao hơn.
b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp.
Biện pháp thứ nhất.
7
theo hàng lối, khẩu lệnh khi vào tiết học cung như kết thúc giờ học phải hô to
rõ như vậy để tạo sự hưng phấn cho học sinh khi học.
Tổ chức trò chơi thường xuyên và cho các em chơi nhiều trò chơi
mới lạ để tránh sự nhàm chán.
* Đối với học sinh
Chu y nghe giang, quan sat đông tac mâu khi giao viên giang d
́ ́
̉
́ ̣
́
̃
́
̉
ạy.
Thực hiện đúng theo khẩu lệnh của người chỉ huy và khi ra tập trung,
vào lớp cũng phải theo hàng lối.
Quan sat, theo doi đông tac cua ban, manh dan đ
́
̃ ̣
́ ̉
̣
̣
̣ ưa ra y kiên nhân xet
́ ́
̣
́
theo y hiêu. Qua đo rut kinh nghiêm nh
́ ̉
̣
́ ̣
̉ ́ ̣
́ ̃ ̣
̀ ực tê luyên tâp
́
̣
̣
cung nh
̃
ư cac hoat đông tâp thê khac trong va ngoai nha tr
́
̣
̣
̣
̉
́
̀
̀
̀ ường.
Biện pháp thứ hai.
Giáo viên phải nghiên cứu kĩ chương I đội hình đội ngũ vì chương này
học sinh có nhiều lỗi măc phải và có liên quan tới tất cả các chương.
Cần phải nghiên cứu kĩ các khẩu lệnh động tác sau:
Động tác tập hợp: Khẩu lệnh “Thành 1, 2, 3.. hàng ngang (dọc) tập
hợp”.
Hàng dọc: Khẩu lệnh dóng hàng “Nhìn trước thẳng”
Hàng ngang: Khẩu lệnh dóng hàng : “Nhìn bên phải Thẳng!”
9
Dóng hàng ngang:
+ Khẩu lệnh: “Nhìn phải Thẳng!”
+ Động tác: Nghe khẩu lệnh, các em quay mặt nhìn về phía làm chuẩn
dóng hàng cho thẳng, em nọ cách em kia khoảng một cánh tay chống hông,
các em hàng sau theo hàng trước điều chỉnh cho thẳng hàng ngang và hàng
dọc. Khi có khẩu lệnh “Thôi”, em giơ tay làm chuẩn mới hạ tay xuống, các
em trong hàng thứ nhất hạ tay xuống và quay mặt về tư thế đứng nghiêm.
Điểm số theo đội hình hàng ngang:
+ Khẩu lệnh: “Từ một đến hết điểm số!”
+ Động tác: Nghe khẩu lệnh, thứ tự từng em đứng đầu hàng (bên phải
của các em trong lớp )hô số 1, em thứ 2 hô số 2 và cứ như vậy lần lượt điểm
số đến hết. Khi điểm số, các em làm đông tác quay mặt về bên trái và nhanh
chóng trở về tư thế đứng nghiêm, em cuối cùng điểm số xong hô “hết”. Trong
quá trình thực hành các em thường đặt tay sai khi tay phải khi tay trái, em
đứng gần quá, em đứng xa quá dẫn đến khom nguời, hàng không thẳng.
Người giáo viên lúc này phải thường xuyên quan tâm uốn nắn. Giáo viên sửa
sai bằng cách cho học sinh xem tranh hoặc cho các em xem mẫu, làm mẫu để
các em làm theo.
Ví dụ như khi: tập hợp hàng dọc, dóng hàng điểm số:
Tập hợp hàng dọc:
+ Khẩu lệnh: Toàn lớp (nhóm) chú ý – Thành 1 (2, 3,…) hàng dọc tập
hợp.
11
+ Động tác: Trước khi phát lệnh,người chỉ huy xác định vị trí thích hợp
rồi dùng hiệu lệnh hô “Toàn lớp chú ý!”, nhằm giúp học sinh trật tự và lắng
ghe khẩu lệnh. Sau đó chỉ huy hô tiếp khẩu lệnh: “Thành 1(2, 3,…)hàng dọc
Người số hai quay mặt sang trái ra sau và hô to số của mình: 2, rồi quay luôn
về tư thế của mình.Những người tiếp theo lần lượt điểm số như vậy cho
đến hết nhóm. Riêng em cuối cùng không quay mặt ra sau mà hô to số của
mình sau đó hô “Hết!”. Ví dụ: “10 hết”.
Ví dụ khi: Đi đều đứng lại:
+ Khẩu lệnh: “Đi đều bước!”
+ Động tác: Khi nghe động lệnh “bước”, chân trái bước lên, trong tâm
dồn vào chân trái sau đó bước tiếp chân phải lên, người hơi ngả về trước, hai
tay đánh tự nhiên, khi tay đưa ra phía trước gập khuỷu tay ngang ngực và
vuông góc, tay đưa về sau thẳng và khép lại sát thân người, bàn tay nắm hờ
(tốc độ đi trung bình một phút từ 110 120 bước). Đồng loạt bước chân trái về
trước một bước với độ dài vừa phải từ 35 cm45 cm sao cho đặt bàn chân
chạm đất đúng nhịp 1, hai tay đánh phối hợp như khi giậm chân tại chỗ. Tiếp
theo dồn trọng tâm vào chân trái, bước chân phải về trước đồng thời đổi
chiều đánh tay sao cho chân chạm đất đúng vào nhịp 2. Động tác cứ lặp đi lặp
lại một cách nhịp nhàng đúng nhịp và đồng đều.
13
+ Khi nghe khẩu lệnh: “Đứng lại – đứng!”
Dự lệnh “Đứng lại” rơi vào chân phải, lúc này chân trái tiếp tục bước lên
một bước nữa, rồi chân phải về trước chạm đất đúng vào động lệnh
“đứng!”. Sau động lệnh, tiếp tục bước chân trái một bước về trước, đưa
chân phải về với chân trái và đứng lại, người ở tư thế nghiêm. Muốn cho
học sinh đi đều đúng giáo viên cần tập kỹ phần giậm chân tại chỗ rồi mới
cho đi đều. Khi các em thực hiện phần giậm chân đúng nhịp, nhuần nhuyễn,
đúng nhịp 24. Trong quá trình tập giậm chân tại chổ nên cho các em tập đếm
thầm theo 12, 12… Nhịp 1 rơi vào chân trái, nhịp 2 rơi vào chân phải. Để
tạo hứng thú cho các em khi tập luyện chúng ta có thể vận dụng, sử dụng các
chê để động viên tinh thần các em.
c. Mối quan hệ giữa các biện pháp
Tạo được cho học sinh sự hứng thú, ý chí , say mê khi tập luyện và
đoàn kết trong nhóm, trong lớp.
Học sinh nhanh nhẹn hơn, ý thức kỷ luật tốt hơn và có khả năng làm
việc độc lập rất cao.
Các em biết cách học, nên việc học tập sẽ nhẹ nhàng từ đó có nhiều
thời gian để tổ chức cho các em được tham gia các trò chơi vận động, tạo
không khí lớp học sôi nổi.
Ý thức tự học của học sinh phải được hình thành trong quá trình lâu dài
nên giáo viên cần nhận xét cụ thể tình hình tự học của học sinh
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm
vi và hiệu quả ứng dụng.
15
Thời gian mới về trường được nhà trường giao cho giảng dạy từ khối
1 đến khối 5, qua thức tế 2 năm giảng dạy thể dục bậc tiểu học tôi nhận
thấy phần đội hình đội ngũ của các lớp vẫn còn lúng túng ở một số đội hình,
các em gần như không năm rõ về lý thuyết và thực hành. Sau một thời gian
giảng dạy cho học sinh ở các khối lớp tôi đã cùng với một số giáo viên kiệm
nhiệm tập trung trao đổi kinh nghiệm và đưa ra một số phương pháp dạy học
sao cho phù hợp với lứa tuổi và học sinh tại địa phương, từ đây có những
biện pháp làm sao giúp cho học sinh có kỹ năng phần đội hình đội ngũ và sau
một thời gian áp dụng các biệp pháp trên cho học sinh khối lớp 4 tôi thu được
kết quả như sau:
Lớp/sĩ
Đạt loại
17(56,7%)
4(13,3%)
6(20%)
16(53,3%)
8(26,7%)
7(22,5%)
19(61,2%)
5(16,1%)
11(35,4%)
18(58%)
2(6,5%)
8(25,8%)
19(61,2%)
4(12,9%)
hàng, điểm số
Đi đều, đổi chân khi sai
Với kết quả đạt được qua áp dụng những kinh nghiệm tại trường, tôi
se tiêp tuc vân dung vao giang day va tiêp tuc nghiên c
̃ ́ ̣
̣
̣
̀
̉
̣
̀ ́ ̣
ứu, tim toi, hoc hoi nhăm
̀ ̀ ̣
̉
̀
giúp học sinh nắm vững phần đội hình đội ngũ, nâng cao dân chât l
̀
́ ượng cho
tiết học và đồng thời nhằm phuc vu tôt cho cac hoat đông mang tinh ch
̣
̣ ́
́
̣
̣
́
ất tâp
̣
thê c
̉ ủa nhà trường.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Việc nghiên cứu đưa vào giảng dạy môn thể dục nhằm nâng cao sức
Đề nghị đến tổ chuyên môn làm thêm một số tranh ảnh, đồ dùng dạy
học để phục vụ cho tiết học
Đề nghị đến đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh thường xuyên
tổ chức các hoạt động thể dục thể thao cấp trường để gây hứng thú trong học
tập của học sinh.
Người viết sáng kiến
Trần Minh Quý
18
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP
TRƯỜNG
…………………………………………………………………
……………………………………………………………........
…………………………………………………………………
……………………………………………………………........
…………………………………………………………………
……………………………………………………………........
…………………………………………………………………
Chủ tịch hội đồng sáng kiến
(Ký tên, đóng dấu)
19
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN
…………………………………………………………………
……………….1
1.
Lý
do
chọn
đề
tài.
…………………………………………………………….1
2.
Đối
tượng
………………………………………………………..2
21
nghiên
cứu.
4.
giới
hạn
luận…………………………………………………………………..3
2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu……………………………………………...
…4
3. Nội dung và hình thức của giải pháp….………………………………………
6
a. Mục tiêu của giải pháp...………………………………………………………
6
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp…..………….……………………
7
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp(nếu có)…………………………
14
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi và
hiệu
quả
ứng
dụng.
…………………………………………………………….14
III. Phần kết luận, kiến nghị. …………………………………………….
…….16