luận văn thạc sĩ xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh gia lai - Pdf 69

LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công với đề tài “Xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia lai” được
tác giả viết với sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Minh Sản. Luận văn này được
viết trên cơ sở vận dụng lý luận chung về kỹ năng quản lý và thực trạng công
tác Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn
tỉnh Gia lai để phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất
lượng quản lý về Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ để từ đó nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước.
Khi thực hiện luận văn này, tác giả có tham khảo và kế thừa một số lý
luận chung trong lĩnh vực giao thông vận tải và sử dụng những thông tin, số
liệu từ các cơ quan quản lý nhà nước cùng các tài liệu, sách báo, mạng
internet...
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi.
Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực; các tài liệu tham khảo có
nguồn trích dẫn; kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố
trong các công trình nghiên cứu khác, nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.

Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Thắng


LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ trên địa bàn tỉnh Gia lai” được hoàn thành với sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt
tình của các giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia; sự quan tâm, tạo điều
kiện trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu của Văn phòng Ban An toàn giao
thông tỉnh Gia Lai, Sở Giao thông vận tải và Công an tỉnh Gia Lai.
Với tình cảm trân trọng nhất, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn .................................... 3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn ............................................. 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn .......................................... 6
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ...................... 6
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩ thực tiễn của luận văn ........................................ 7
7. Kết cấu của luận văn .................................................................................. 8
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ...................................

9

1.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ........................ 9
1.2. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ............. 22
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ ............................................................................................

40

Tiểu kết Chương 1 ......................................................................................

45

Chương 2. THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA
LAI..............................................................................................................

46

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai....................



: Bộ Công an

CAND

: Công an nhân dân

CSGT

: Cảnh sát giao thông

GTĐB

: Giao thông đường bộ

GTVT

: Giao thông vận tải

GPLX

: Giấy phép lái xe

VPHC

: Vi phạm hành chính

VPPL

: Vi phạm pháp luật

Bảng 2.4 : Thống kê loại đối tượng gây tai nạn giao thông..................................... 54
Bảng 2.5 : Thống kê giới tính chủ thể trong các vụ tai nạn giao thông...............54
Bảng 2.6 : Thống kê độ tuổi chủ thể trong các vụ tai nạn giao thông.................55
Bảng 2.7 : Thống kê thời gian xảy ra tai nạn giao thông........................................... 55
Bảng 2.8 : Thống kê nguyên nhân gây tai nạn giao thông........................................ 56
Bảng 2.9 : Thống kê kết quả xử lý vi phạm................................................................... 57
Bảng 2.10: Nguyên nhân dẫn đến nạn mãi lộ................................................................ 61


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ các loại đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai ………….….48
Biểu đồ 2.2: Phương tiện cơ giới đường bộ tỉnh Gia Lai ……………………49
Đồ thị 2.1: Quan hệ gia tăng phương tiện cơ giới đường bộ và tai nạn giao
thông đường bộ tỉnh Gia Lai................................................................................................ 51
Biểu đồ 2.3: Thống kê mức độ nghiêm trọng của tai nạn giao thông đường bộ
tỉnh Gia Lai ………………………………………………………………… 51
Biểu đồ 2.4: Tai nạn giao thông theo loại đường …………………………...53


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Giao thông là nhu cầu thiết yếu của con người, là huyết mạch kinh tế
của mỗi quốc gia đồng thời cũng là một trong những tiêu chí đánh giá sự tiến
bộ của xã hội. Nó phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia, thể hiện mức độ đáp ứng nhu cầu kinh tế, văn hoá, xã hội, đi lại, sinh hoạt
của các tầng lớp dân cư. Giao thông bao gồm nhiều loại hình khác nhau như
đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không, trong đó GTĐB luôn là
mảng quan trọng nhất, xét trên tất cả mọi phương diện kinh tế, văn hoá, xã
hội, an ninh quốc phòng. Trong những năm qua, thực hiện chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của Đất nước, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã dành sự

yếu, do đó những vấn đề về giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh vẫn diễn ra
phức tạp, tai nạn giao thông vẫn ở mức cao và nghiêm trọng, nhất là số người
chết, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gia tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và
tài sản. Tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông đường bộ vẫn đang là vấn đề
bức xúc của toàn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững về kinh tế, văn
hóa, xã hội. Trong những năm qua, không riêng tỉnh Gia Lai, tình trạng vi
phạm giao thông đường bộ ngày một gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp,
tình hình tai nạn giao thông (TNGT) luôn có nguy cơ xảy ra, số vụ, số người
chết, số người bị thương do TNGT luôn biến động khó lường theo chiều
hướng gia tăng, gây khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) và ảnh
hưởng lớn đến trật tự an toàn xã hội (TTATXH).
Theo số liệu thống kê của Ban An toàn giao thông tỉnh, từ năm 2013
đến năm 2018 toàn tỉnh xảy ra 2.421 (trong đó tai nạn giao thông đường bộ là
2.130 vụ), chết 1.415 người, bị thương 2.737 người. So với cùng kỳ 5 năm
trước liền kề, giảm 460 vụ, giảm 60 người chết, giảm 585 người bị thương.
Tình hình tai nạn giao thông đường bộ còn diễn biến phức tạp và tiềm ẩn yếu
tố bất thường, công tác quản lý nhà nước vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất
cập: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu đồng bộ; đội ngũ công
2


chức thực thi về trật tự, an toàn giao thông đường bộ chưa đáp ứng yêu cầu cả
về nhận thức và năng lực chuyên môn; nhu cầu vận tải từ nay cho đến những
năm sắp tới sẽ có chiều hướng gia tăng mạnh mẽ từ đó kéo theo các vấn đề
liên quan đến tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông; trong khi đó kết cấu hạ
tầng giao thông đường bộ chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội. Mặt khác, ý thức chấp hành các quy định về an toàn giao thông đường bộ
của người tham gia giao thông và cộng đồng vẫn còn kém. Đây là nguyên
nhân làm cho tình hình tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh có xu
hướng, diễn biến phức tạp.

hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk”,
chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, thực hiện năm 2016, luận
văn này làm rõ quy định pháp luật và tình hình thực hiện quy định pháp luật về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở tỉnh Đắk
Lắk, từ đó đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện quy định và nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật về xử phạt hành chính về giao thông đường bộ trên
địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Văn Minh về đề tài “Xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, Luận
văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, thực hiện năm
2012, Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận chung về vấn đề giao thông đường
bộ, đánh giá thực trạng an toàn giao thông đường bộ và hành lang an toàn giao
thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
và một số bài viết đăng trên tạp chí Giao thông vận tải,...
Trong các công trình nghiên cứu trên đây, trên cơ sở phân tích lý luận
và thực tiễn có liên quan, các tác giả đã giới thiệu, phân tích đánh giá về pháp
luật trật tự an toàn giao thông đường bộ và thực tiễn hoạt động xử lý vi phạm
hành chính nói chung và về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB ở
4


các tỉnh thành khác, chứ chưa nghiên cứu về thực tiễn xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực GTĐB tại tỉnh Gia Lai. Do vậy, luận văn “Xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai” sẽ
kế thừa một phần cơ sở lý luận của các nghiên cứu trên, đồng thời phản ánh
thực trạng tại tỉnh Gia Lai nhằm cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn
cho việc hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB
của cả nước nói chung và tỉnh Gia Lai nói riêng, để nâng cao hiệu quả trong
công tác đấu tranh phòng chống vi phạm và xử lý vi phạm trong lĩnh vực
GTĐB.


4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là hoạt động xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia
Lai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
-

Về không gian: Nghiên cứu hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
- Về thời gian: Từ năm 2013 – 2018.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và
các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ.
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Tìm hiểu các nghiên cứu đã
có, các tài liệu có liên quan trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng để nhận diện
vấn đề nghiên cứu đồng thời tham khảo các kết quả nghiên cứu này để xây
dựng cơ sở khoa học ở Chương 1, đánh giá thực trạng về vi phạm pháp luật,
6


xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh
Gia Lai ở Chương 2.
Phương pháp đánh giá, tổng kết thực tiễn: Nghiên cứu tình hình và thực

6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn nhất là những giải pháp mà luận văn
đưa ra có ý nghĩa khuyến nghị đối với các cơ quan, cán bộ, công chức làm
công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn Gia Lai hiện nay.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên
cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành. Luận văn cũng là tài liệu
cho những đối tượng quan tâm nghiên cứu về vấn đề xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở Gia Lai nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ;
Chương 2: Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giao
thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

8


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ
Như chúng ta đã biết, Nhà nước là một tổ chức được xã hội thành lập
nên để thực hiện việc quản lý, phát triển xã hội. Để có thể thực hiện được vai
trò đó, Nhà nước luôn phải tác động lên các quan hệ xã hội bằng một hệ thống

Vi phạm kỷ luật: là hành vi có lỗi, trái với các quy tắc kỷ luật lao động,
học tập, công vụ nhà nước trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, trường
học được pháp luật lao động, hành chính và các văn bản nội quy của từng cơ
quan, doanh nghiệp quy định.
Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 đã đưa ra định nghĩa pháp
lý về “vi phạm hành chính”. Khoản 1 Điều 2 của Luật quy định [26]: Vi phạm
hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định
của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy
định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
Định nghĩa trên đưa ra các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành
chính, đó là: tính xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước, có lỗi, tính trái
pháp luật hành chính và phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
Vi phạm hành chính là một dạng vi phạm pháp luật, do đó nó cũng bao
gồm các yếu tố cấu thành pháp lý là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và
khách thể. Dưới đây, các dấu hiệu và yếu tố cấu thành pháp lý của vi phạm
hành chính sẽ được xem xét trong mối quan hệ thống nhất với nhau.
Mặt khách quan của vi phạm hành chính

10


Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên
ngoài thế giới khách quan của vi phạm hành chính, thông thường các biểu
hiện ra bên ngoài của hành vi vi phạm là hành vi, thời gian, địa điểm, công cụ,
phương tiện hay mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và
hậu quả của vi phạm hành chính.
Hành vi của vi phạm hành chính là những biểu hiện của con người hoặc
tổ chức tác động vào thế giới khách quan qua hình thức bên ngoài cụ thể gây
tác hại đến sự phát triển bình thường của trật tự quản lý. Những biểu hiện này
được kiểm soát và điều khiển bởi ý thức và ý chí của chủ thể vi phạm hành

hậu quả của vi phạm hành chính dựa trên các căn cứ sau:
Một là, hành vi vi phạm hành chính xảy ra trước hậu quả xâm hại các
mối quan hệ về mặt thời gian;
Hai là, hành vi vi phạm phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh
hậu quả xâm hại các quan hệ xã hội;
Ba là, hậu quả vi phạm đã xảy ra phải là sự hiện thực hóa khả năng thực
tế làm phát sinh hậu quả của hành vi vi phạm. Ngoài những biểu hiện trên, về
mặt khách quan của vi phạm còn có một số dấu hiệu khách quan khác như:
thời gian, địa điểm, công cụ và phương tiện vi phạm.
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là những quan hệ tâm lý bên
trong của chủ thể. Yếu tố cơ bản nhất của mặt chủ quan là tính có lỗi. Lỗi
chính là trạng thái tâm lý của người vi phạm, biểu hiện thái độ của người đó
đối với hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi đó. Yêu cầu về lỗi trong Luật
hành chính không cao như trong Luật hình sự, trong nhiều trường hợp chỉ cần
có lỗi nghĩa là người vi phạm biết hoặc có thể biết tính chất sai phạm của
mình là đủ để xác định vi phạm hành chính xảy ra. Đối với luật hình sự đòi
hỏi phải chính xác hơn, không chỉ xác định lỗi mà còn phải xác định cho được
hình thức và mức độ lỗi; mặt khác lỗi trong Luật hình sự chỉ đặt ra với
12


cá nhân vi phạm, trong hành chính lỗi đặt ra cho cả cá nhân và tổ chức vi
phạm.
Lỗi trong vi phạm hành chính thể hiện dưới hai hình thức: lỗi cố ý và
lỗi vô ý. Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính là chủ thể nhận thức được hành
vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Lỗi vô ý trong vi phạm

hành chính là lỗi của cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi trái pháp luật do vô
tình thiếu thận trọng mà không nhân thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc mặc

Người chưa thành niên vi phạm hành chính gây ra thiệt hại thì phải bồi thường
theo quy định của pháp luật; trong trường hợp này người chưa thành niên
không có tiền nộp phạt thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó phải nộp
thay, quy định như trên không có nghĩa là xử phạt cả người không vi phạm mà
ở đây chúng ta hướng tới trách nhiệm giáo dục ý thức pháp luật cho người
chưa thành niên.
Đối với tổ chức: Pháp luật hành chính coi tổ chức là chủ thể của vi
phạm hành chính gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế. Cơ
quan, tổ chức nước ngoài nếu vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam,
vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp lãnh hải thì bị xử phạt như cơ quan, tổ
chức Việt Nam (trừ tổ chức được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao).
Khách thể của vi phạm hành chính
Khách thể của vi phạm hành chính là cái mà vi phạm xâm hại tới. Đó
chính là các quan hệ xã hội được các quy tắc quản lý nhà nước bảo vệ. Các
quan hệ xã hội có thể bị vi phạm hành chính xâm phạm rất đa dạng, đó là: trật
tự nhà nước và xã hội, sở hữu xã hội chủ nghĩa, quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân,...
Khách thể của vi phạm hành chính được chia thành các loại sau:

14


Khách thể chung: đó là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực
quản lý nhà nước, hay nói cách khác là trật tự quản lý nhà nước nói chung.
Khách thể loại: là những quan hệ xã hội có cùng hoặc gần tính chất với
nhau trong từng lĩnh vực nhất định của quản lý nhà nước. Các quan hệ này
được phát sinh trong cũng một lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước, do vậy
chúng có mối liên hệ với nhau, gắn liền với từng phạm vi quản lý nhà nước.
Khách thể trực tiếp: là quan hệ xã hội cụ thể được pháp luật quy định và
bảo vệ, bị chính hành vi vi phạm hành chính phạm xâm hại tới.

năng lực TNHC và tổ chức thực hiện, vi phạm các quy định của pháp luật về
trật tự, ATGTĐB được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật như:
Luật GTĐB; Nghị định 46/2016/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định
46/2016)..., gồm các hành vi vi phạm các quy tắc về GTĐB; vi phạm quy định
về kết cấu hạ tầng GTĐB...
Thứ hai, VPHC trong lĩnh vực GTĐB luôn chiếm một tỷ lệ cao so với
các VPHC còn lại. Ví dụ như trong năm 2017, tổng số vụ việc VPHC bị phát
hiện của tỉnh là 82.382 vụ, thì chỉ riêng số vụ việc VPHC trong lĩnh vực GTĐB
bị các lực lượng xử lý đã là 67.000 vụ (chiếm hơn 70 %);
Thứ ba, VPHC trong lĩnh vực GTĐB diễn ra mọi lúc, mọi nơi; chủ thể
thực hiện hành vi vi phạm cũng vô cùng đa dạng, đủ mọi thành phần khác nhau
trong xã hội. Đây là một đặc điểm cần phải lưu ý đối với các lực lượng chức
năng để từ đó có những biện pháp phù hợp và cần thiết trong hoạt động này.
Thứ tư, hành vi VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng rất đa dạng; các hành
vi vi phạm đó được các văn bản pháp luật mô tả trong các quy phạm pháp luật cụ

thể, đây là một nội dung mà các chủ thể có thẩm quyền phải rất lưu ý, bởi hoạt
động xử lý chỉ có thể được thực hiện khi đối tượng có hành vi vi phạm đã
được mô tả trong các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể.
16


1.1.3. Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB là một dạng của vi phạm pháp
luật. Do đó, những vi phạm này cũng có các yếu tố cấu thành pháp lý gồm: mặt
khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể. Các yếu tố cấu thành vi phạm
hành chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB nói riêng
nằm trong một thể thống nhất.
Thứ nhất: Mặt khách quan

năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính.
Theo quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB, cá nhân là chủ thể của vi
phạm hành chính, cụ thể là:
Người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành
chính do cố ý. Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi này có vi phạm hành
chính hay không, cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ. Tuy nhiên,
thông thường người thực hiện hành vi hành chính với tội cố ý là người nhận
thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm mà vẫn
cố tình thực hiện.
Người đủ từ 16 tuổi trở lên vị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành
chính do mình gây ra.
Đối với chủ thể của vi phạm hành chính là tổ chức bao gồm: các cơ quan
nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ
trang nhân dân và các tổ chức khác có tư cách pháp nhân.
Bên cạnh đó, Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập
trung huấn luyện và những người thuộc lực lượng Công an nhân dân vi phạm
hành chính thi bị xử lý như đối với các công dân khác; trong trường hợp cần áp
dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng một số giấy phép hoạt động vì mục
đích quốc phòng, an ninh thì người xử phạt không trực tiếp xử lý mà đề
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status