BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
Môn: Tài chính công
Đề tài:
LIỆU PHÂN CẤP TÀI KHÓA CÓ CẢI
THIỆN KẾT QUẢ CHĂM SÓC Y TẾ?
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ
TRUNG QUỐC
1.4 Câu hỏi nghiên cứu: 4
1.5 Giả thuyết nghiên cứu: 4
1.6 Hệ thống chăm sóc y tế ở Trung Quốc: 5
II. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây (Literature review): 10
III. Phương pháp nghiên cứu (Methodology and data): 15
3.1 Phương pháp nghiên cứu: 15
3.2 Thu thập và xử lý số liệu: 15
3.3 Mô hình nghiên cứu: 16
IV. Kết quả nghiên cứu: 20
4.1 Tóm tắt số liệu thống kê: 20
4.2 Kết quả hồi quy (FD là biến giả): 22
4.3 Kết quả hồi quy (FD là tỷ lệ): 27
V. Kết luận: 30
5.1 Kết luận chung: 30
5.2 Hạn chế và hướng nghiên cứu tương lai: 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Liệu phân cấp tài khóa có cải thiện kết quả chăm sóc y tế? Bằng chứng thực nghiệm từ Trung Quốc
Nhóm 06 – Lớp Ngân hàng Đêm 1 – Cao học K22 Page 1
Tóm tắt (Abstract)
Từ cuối những năm 1970, Trung Quốc đã thông qua một loạt các cải cách
kinh tế, điều đã dẫn đến sự thành công toàn diện của nền kinh tế. Việc cải cách
Hệ Thống Phân Phối Thuế (TSS), như một phần của chính sách phân cấp tài
khóa dần dần, được đề xuất vào năm 1994. Lý thuyết thông thường cho rằng sự
phân cấp tài khóa có thể dẫn đến những lợi ích tiềm năng khác nhau, bao gồm
việc tăng đáp ứng của chính quyền địa phương trong việc cung cấp hàng hóa
công. Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra tác động của phân cấp
tài khóa đến kết quả sức khỏe ở Trung Quốc.
và phân tích xu hướng các kết quả chăm sóc sức khỏe. Do đó, chỉ số này cũng
được sử dụng trong mô hình của bài nghiên cứu này để nghiên cứu tác động
của phân cấp tài chính đối với chăm sóc sức khỏe.
1.1 Nội dung chính của paper:
Tập trung vào các mối liên hệ giữa tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và phân cấp tài
khóa ở Trung Quốc. Điều này là do:
Trước hết, Trung Quốc đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc giảm IMR từ
năm 1949 đến năm 1978, đó là khoảng thời gian kinh tế kế hoạch với một mức
thu nhập cá nhân thấp. Với những cải cách năm 1978, nền kinh tế của Trung
Quốc bắt đầu bùng nổ trong những năm 1980 và duy trì tốc độ tăng trưởng cao
- trung bình khoảng 9% tăng trưởng trong Tổng sản phẩm quốc nội thực (GDP)
trong suốt những năm 1990 và thế kỷ 21
1
. Theo những quan điểm thông thường,
phát triển kinh tế cao hơn sẽ kết hợp với việc giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh
(Ngân hàng Thế giới, 1993). Tuy nhiên, ở Trung Quốc, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh
1
Tại http://www. chinability.com/GDP.htm
Liệu phân cấp tài khóa có cải thiện kết quả chăm sóc y tế? Bằng chứng thực nghiệm từ Trung Quốc
Nhóm 06 – Lớp Ngân hàng Đêm 1 – Cao học K22 Page 3
ở vào khoảng 29 trẻ sơ sinh tử vong trên 1.000 trẻ sinh sống từ cuối những năm
1980 cho đến nay, và không thấy tiếp tục cắt giảm quy mô lớn mặc dù tăng
trưởng kinh tế cao trong suốt khoảng thời gian đó (Liên Hiệp Quốc, 2005).
Thứ hai, cải cách TSS năm 1994 tại Trung Quốc tái tập trung thu ngân sách
chính phủ trong khi vẫn giữ phần lớn trách nhiệm chi tiêu y tế trên vai của
chính quyền địa phương mà không có sự cung cấp hỗ trợ kinh phí đầy đủ từ
chính quyền trung ương. Lý thuyết thông thường của phân cấp tài khóa dự
Quốc, Ghana, Indonesia, Philippines, Uganda và Zambia. Sử dụng các phương
pháp khác nhau của việc phân cấp, các học giả thường thấy rằng phân cấp tài
khóa cao hơn dẫn đến một IMR thấp hơn (Asfaw, Frohberg, James, và Jutting,
2007; Cantarero & Pascual, 2008; Duret năm 1999; Uchimura & Jutting, 2007).
Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu tìm hiểu tác động của phân cấp tài khóa lên
IMR ở Trung Quốc.
Thêm vào đó, nghiên cứu này dự kiến cải thiện các nghiên cứu hiện có theo
nhiều cách. Đầu tiên, chúng tôi sử dụng một bộ dữ liệu toàn tỉnh dạng bảng cho
phép xem xét các tác động của các biến không quan sát biến thiên theo thời
gian. Thứ hai, chúng tôi đo lường chi phí y tế trong tổng số tiền chi tiêu, là %
của tổng số chi tiêu chính phủ và tỷ lệ cho tổng sản phẩm khu vực danh nghĩa
(GRP). Thứ ba, chúng tôi thêm vào một số các biến kiểm soát như một biến giả
khu vực, nguồn nhân lực y tế, cơ sở vật chất y tế, đô thị hóa, và khả năng sinh
sản. Cuối cùng, ngoài phương pháp biến giả truyền thống, chúng tôi cũng đo
mức độ phân cấp quản lý tài chính bằng cách sử dụng tỷ lệ chi ngân sách tỉnh
bình quân đầu người với tổng chi ngân sách trung ương bình quân đầu người và
chi ngân sách tỉnh.
1.4 Câu hỏi nghiên cứu:
- Tốc độ phát triển kinh tế cao trong những năm 1990 và đầu thế kỷ 21 có
ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở Trung Quốc không?
- Phân cấp tài khoá đại diện bởi các cải cách TSS năm 1994 có ảnh hưởng
đến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở Trung Quốc không?
1.5 Giả thuyết nghiên cứu:
Ho: Phân cấp tài khóa làm giảm tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong ở TQ.
H
1
: Phân cấp tài khóa không làm giảm tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong ở TQ.
Liệu phân cấp tài khóa có cải thiện kết quả chăm sóc y tế? Bằng chứng thực nghiệm từ Trung Quốc
Nhóm 06 – Lớp Ngân hàng Đêm 1 – Cao học K22 Page 5
Nhóm 06 – Lớp Ngân hàng Đêm 1 – Cao học K22 Page 6 Hình 1: Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở Trung Quốc, 1950-2006
Tuy nhiên, hệ thống y tế tập trung tương đối thành công này đã không tồn
tại trong cải cách kinh tế năm 1978, với việc thúc đẩy tìm kiếm lợi nhuận, tư
nhân hóa, thương mại hóa, và thị trường hóa trong lĩnh vực y tế. Tất cả các cơ
sở y tế như Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC) bây giờ phải chịu
trách nhiệm về lợi nhuận của họ và thiệt hại theo cải cách kinh tế mà không
được hỗ trợ tài chính công hoặc bất kỳ loại trợ cấp khác nào của chính phủ cho
riêng họ. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe bao gồm chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh và
tiêm chủng được tính theo giá thị trường. Kết quả là, phòng bệnh và hệ thống y
học chi phí thấp theo định hướng hợp tác xã trước đó đã bị giải thể và được
thay thế bằng một hệ thống y học theo định hướng thị trường với giá cả tăng
cao. Dưới một phần mười dân số Trung Quốc, phần lớn trong số đó là công
chức, nhân viên trong các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có bảo hiểm y tế
(Bertelsmann Stiftung, 2010).
Cùng với việc thị trường hóa các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, dịch vụ và
các tổ chức, chi phí y tế của chính phủ đã bị thu hẹp gần một nửa. Như thể hiện
trong Hình 2, tổng chi tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe bao gồm chi ngân
sách chính phủ, chi tiêu ngoài ngân sách nhà nước và chi tiêu cá nhân. Trong số
đó, tỷ lệ chi ngân sách của chính phủ đã giảm từ khoảng 39% năm 1982 xuống
Liệu phân cấp tài khóa có cải thiện kết quả chăm sóc y tế? Bằng chứng thực nghiệm từ Trung Quốc
Nhóm 06 – Lớp Ngân hàng Đêm 1 – Cao học K22 Page 7
còn khoảng 18% năm 2006, và chi tiêu ngoài ngân sách nhà nước cũng đã giảm
từ hơn 47% vào cuối năm 1970 xuống còn 32% trong năm 2006
2
. Ngược lại,
địa phương đã đảm nhận 97% chi phí chăm sóc y tế trong những năm gần đây
trong khi chính quyền trung ương chia sẻ chỉ có 3%. Tuy nhiên, phần lớn doanh
thu của chính quyền địa phương đã được sử dụng để bắt đầu xây dựng cơ sở hạ
tầng quy mô lớn và các dự án đầu tư ngoài việc tài trợ cho chi phí hành chính.
Công quỹ còn lại dành cho chăm sóc sức khỏe là tối thiểu. Ngược lại với tỷ lệ
tăng GDP danh nghĩa hàng năm trung bình 9%, tổng chi tiêu cho chăm sóc y tế
như một tỷ lệ phần trăm của GDP danh nghĩa giảm, từ khoảng hơn 1% vào năm
1981 xuống còn dưới 1% trong 2006
4
. Hơn nữa, phần chi tiêu cho chăm sóc y
tế trong tổng chi tiêu chính phủ cũng giảm từ hơn 5% vào năm 1981 xuống
dưới 5% vào năm 2006 (xem Hình 3).
Hình 3: Tỷ trọng Chi tiêu chăm sóc y tế trong tổng chi tiêu Chính phủ và
GDP danh nghĩa, 1981-2006
Do sự sụt giảm trong chi tiêu chính phủ cho y tế và sự gia tăng thị trường
hóa dịch vụ y tế, nên không có gì đáng ngạc nhiên là kết quả tổng thể cho chăm
sóc y tế đang xấu đi. Chi tiêu của chính phủ cho y tế sụt giảm sẽ trực tiếp làm
hạn chế nguồn tích lũy vốn cho y tế, điều này có thể dẫn đến kết quả y tế xấu đi
giống như tình trạng trì trệ trong việc giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh IMR
4
Xem tại http://www.china.com.cn/chinese/2006/Jan/1087140.htm
Liệu phân cấp tài khóa có cải thiện kết quả chăm sóc y tế? Bằng chứng thực nghiệm từ Trung Quốc
Nhóm 06 – Lớp Ngân hàng Đêm 1 – Cao học K22 Page 9
trong những thập niên 1990 và 2000. Một đánh giá công bằng về sức khỏe
được thực hiện bởi WHO năm 2002, Trung Quốc được xếp hạng 144 trong
tổng 191 quốc gia trên thế giới. Bên cạnh kểt quả tổng thế yếu kém, thì sự
tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong (IMR) ở nông thôn thì liên tục tăng từ những thập niên
1990.
II. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây
(Literature review):
Tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong và tuổi thọ thì thường được chọn để đo lường mức
độ sức khỏe tổng thể trong những lý thuyết hiện nay. Trái ngược với tuổi thọ thì
chịu nhiều ảnh hưởng hơn bởi sự đầu tư sức khỏe của cá nhân, sự tích lũy của
các nhân tố tích cực và tiêu cực trong cuộc sống và thói quen sinh hoạt của một
người, thì tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong lại chịu ảnh hưởng nhiều hơn bởi mức thu
nhập, chi tiêu công và cơ sở y tế địa phương. Theo đó, để định lượng tác động
của thu nhập và chi tiêu y tế công cộng, bài nghiên cứu này chỉ tập trung vào tỷ
lệ trẻ sơ sinh tử vong.
Tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong có thể là kết quả của cả nguyên nhân trực tiếp và
gián tiếp. Trước đây chủ yếu là gồm những nguyên nhân trực tiếp (như sinh
non, chấn thương sinh, bệnh di truyền và dị tật bẩm sinh) và những nguyên
nhân mãn tính (như suy dinh dưỡng, chăm sóc trước khi sinh, sự sẵn có của các
loại vắc xin, và nhiễm trùng). Nguyên nhân gián tiếp của tỷ lệ trẻ sơ sinh tử
vong bao gồm nhân tố xã hội, kinh tế, môi truờng đã làm trẻ sơ sinh bị nguy
hiểm và nhạy cảm hơn là nguyên nhân trực tiếp. Những nhân tố này bao gồm,
nhưng không giới hạn: Mức thu nhập, phân phối thu nhập, chi phí chăm sóc
Liệu phân cấp tài khóa có cải thiện kết quả chăm sóc y tế? Bằng chứng thực nghiệm từ Trung Quốc
Nhóm 06 – Lớp Ngân hàng Đêm 1 – Cao học K22 Page 11
sức khỏe công cộng, nguồn nhân lực y tế, nguồn thiết bị y tế, sự tham gia lực
lượng lao động của phụ nữ, đô thị hóa, chất lượng quản trị, vệ sinh công cộng,
và những vấn đề khác liên quan tới cơ sở hạ tầng như việc tiếp cận nước sạch
và điện… Trong những điều trên, thì chi tiêu chăm sóc sức khỏe công cộng là
đầu vào trực tiếp, ngược lại nguồn nhân lực y tế (như số lượng bác sĩ và y tá
trên 1000 người) và nguồn thiết bị y tế (như số lượng giường bệnh trên 1000
đáng kể của chi tiêu sức khỏe công cộng lên việc giảm tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong
ở những khu vực lạc hậu tại Philipines. Sử dụng dữ liệu cuộc điều tra dân số và
sức khỏe từ hơn 60 nước có thu nhập thấp giữa năm 1990 và 1999, Wang (2003)
thấy rằng tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong ở khu vực nông thôn cao hơn đáng kể ở khu
vực thành thị. Nghiên cứu mới đây của Bokhari, Gai và Gottret (2007) ước tính
độ co giãn của trẻ tử vong dưới 5 tuổi đối với cả thu nhập và chi tiêu cho sức
khỏe của chính phủ sử dụng kỹ thuật biến công cụ và thấy rằng tỷ lệ tử vong
chịu ảnh hưởng bởi chi tiêu cho sức khỏe của chính phủ mà không phải do tăng
trưởng kinh tế.
Mặt khác, một vài nghiên cứu cho kết quả đối lập. Ví dụ, Filmer và
Pritchett (1999) sử dụng dữ liệu chéo các nước của Quĩ nhi đồng liên hiệp quốc
và NHTG với 4 ước tính và tìm ra được ảnh hưởng chi tiêu sức khỏe công cộng
lên tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong thì không đáng kể về thống kê và kinh tế.
Musgrove (1996) tóm tắt rằng một trong những yếu tố quyết định của tỷ lệ trẻ
sơ sinh tử vong đáng kể là biến thu nhập trong khi thị phần chi phí y tế trong
GDP, thị phần chi phí y tế trong tổng chi tiêu chính phủ, và thị phần tổng chi
tiêu chính phủ trong GDP thì không có quyết định đáng kể. Sử dụng mẫu cắt
ngang của 117 quốc gia năm 1993 và mô hình điều chỉnh cho hiệp phương sai
không đồng nhất, Zakir và Wunnava (1999) tìm thấy chi tiêu chính phủ cho y tế
và thị phần của nó trong GNP thì không đóng vai trò quyết định trong tỷ lệ trẻ
sơ sinh tử vong. Berger và Messer (2002) cũng biện luận rằng mối quan hệ
nghịch giữa chi tiêu cho y tế và việc giảm IMR bởi những nghiên cứu trước đó
thì không được thực hiện dựa trên phân tích của họ với dữ liệu chéo 20 quốc
gia trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế từ 1960-1992 và sử dụng ước
lượng bình phương bé nhất (OLS). Ngược lại, họ tìm ra việc gia tăng chi tiêu
công cho y tế thì có liên quan tới IMRs. Thêm vào đó, nghiên cứu của họ cho
rằng việc gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập có liên quan tới tỷ lệ tử vong
thấp hơn.
Liệu phân cấp tài khóa có cải thiện kết quả chăm sóc y tế? Bằng chứng thực nghiệm từ Trung Quốc
đủ. Đầu tiên, khoảng cách đáng kể giữa giàu nghèo và IMR của khu vực thành
thị ở TQ có thể được mở rộng trong hoàn cảnh mà việc cân bằng tài chính
không thể đạt được hoàn toàn bằng việc chuyển đổi trung tâm. Thứ hai, vì thiếu
Liệu phân cấp tài khóa có cải thiện kết quả chăm sóc y tế? Bằng chứng thực nghiệm từ Trung Quốc
Nhóm 06 – Lớp Ngân hàng Đêm 1 – Cao học K22 Page 14
kĩ năng cá nhân, thông tin, năng lực quản trị, và trang thiết bị cải tiến, phúc lợi
của việc cung cấp chăm sóc y tế bị giảm đáng kể. Thứ ba, chính quyền địa
phương yếu kém có thể cũng xảy ra do bởi suy đồi đạo đức kèm theo khi phân
cấp tài khóa như tình trạng tham nhũng và quan liêu. Ðiều này có thể là trường
hợp đặc biệt ở TQ khi không có hệ thống bầu cử dân chủ. Chính quyền địa
phương có thể tham nhũng và quan liêu hơn mà không có sự giám sát nào từ
chính quyền trung ương do bởi phân cấp và từ người dân do bởi thiếu cơ thể
bầu cử. Thêm vào đó, ngay cả có sự hiện diện của hiệu quả phân bổ và sản xuất
từ phía cầu cũng bị chống lại bởi sự kém hiệu quả của những nhà cung cấp địa
phương do bởi nền kinh tế thiếu qui mô và phạm vi (Prud’homme, 1995; Tanzi,
1996).
Bên cạnh việc thảo luận về lý thuyểt thì bằng chứng thực nghiệm về
ảnh hưởng của phân cấp tài khóa lên sức khỏe thì cũng được xem xét. Sử dụng
dữ liệu bảng của cả những nước có thu nhập cao và những nước có thu nhập
thấp trong giai đoạn 1970-1995 với OLS và ước lượng những tác động cố định,
Robalino, Picazo, và Voetberd (2001) đã tìm ra những ảnh hưởng đáng kể của
phân cấp tài khóa lên việc giảm tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong. Họ cũng thêm rằng
hiệu ứng này cũng hiện diện ngay trong cả bối cảnh tham nhũng cao. Một
nghiên cứu của TQ bởi Uchimura và Jutting (2007) sử bảng dữ liệu cấp quận,
cũng cho thấy các quận có phân cấp tài khóa nhiều thì có tỷ lệ IMR thấp hơn
nếu họ có cơ chế chuyển đổi chức năng tốt giữa chính quyền địa phương và
năng lực tăng cường tài chính của địa phương. Tuy nhiên nghiên cứu này
không kiểm soát các nhân tố như là chi phí y tế, nguồn nhân lực cho y tế hoặc
tương tác của một biến giả phân cấp tài khóa và một biến giả vị trí địa lý để
đánh giá hiệu quả của phân cấp tài khóa lên IMR ở các vùng khác nhau; thứ hai,
chúng tôi đo lường mức độ phân cấp tài khóa bằng cách sử dụng tỷ lệ chi ngân
sách tỉnh bình quân đầu người với tổng chi ngân sách trung ương bình quân
đầu người và chi ngân sách cấp tỉnh bình quân đầu người, được phát triển bởi
Qiao, Martinez-Vazquez và Xu (2008).
3.2 Thu thập và xử lý số liệu:
Dữ liệu theo chuỗi thời gian tại mức chính quyền cấp tỉnh ở TQ được thu
thập từ Cục Thống kê Quốc Gia Trung Quốc từ năm 1980-2003 của 31 chính
quyền cấp tỉnh tại TQ bao gồm:
Liệu phân cấp tài khóa có cải thiện kết quả chăm sóc y tế? Bằng chứng thực nghiệm từ Trung Quốc
Nhóm 06 – Lớp Ngân hàng Đêm 1 – Cao học K22 Page 16
+ 4 khu "siêu" chính quyền thành phố tự trị được quản lý trực tiếp bởi Hội
Đồng Nhà Nước- Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải và Trùng Khánh.
+ 8 tỉnh ven biển gồm Liêu Ninh, Hà Bắc, Sơn Đông, Giang Tô, Chiết
Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông và Hải Nam
+ 13 tỉnh vùng sâu vùng xa gồm Cát Lâm, Hắc Long Giang, An Huy,
Giang Tây, Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Sơn Tây, Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân
Nam, Thiểm Tây và Cam Túc.
+ 5 khu tự trị đông dân tộc thiểu số- Nội Mông, Quảng Tây, Tây Tạng,
Ninh Hạ và Tân Cương.
Trong đó, dữ liệu IMR cấp tỉnh năm 1981, 1990 và 2000 là những dữ liệu
điều tra dân số được thu thập khoảng mỗi mười năm ngược lại với dữ liệu cho
năm 1980, 1989 và 2003 được ước tính bởi Cục thống kê Quốc gia TQ
3.3 Mô hình nghiên cứu:
iti
ititittititit
itititititit
của mỗi tỉnh để đánh giá các tác động của phân cấp tài khóa và sự chi tiêu
cho y tế công cộng của các chính quyền địa phương.
Biến độc lập được quan tâm chính, FD
it
, là phân cấp tài khóa được
đo lường bằng 2 cách : (1) Biến giả dummy nhận 0 cho trước cải cách TSS
năm 1994 và 1 là sau cải cách; và (2) Tỷ lệ chi ngân sách tỉnh bình quân
đầu người với tổng chi ngân sách trung ương bình quân đầu người và chi
ngân sách tỉnh bình quân đầu người, như đã sử dụng ở Qiao, Martinez
Vazquez & Xu (2008). Nếu phân cấp tài khóa cải thiện phản ứng nhanh của
chính quyền địa phương,
1
sẽ âm. Chúng ta so sánh những kết quả từ
Liệu phân cấp tài khóa có cải thiện kết quả chăm sóc y tế? Bằng chứng thực nghiệm từ Trung Quốc
Nhóm 06 – Lớp Ngân hàng Đêm 1 – Cao học K22 Page 17
những mô hình sử dụng 2 cách đo lường phân cấp tài khóa khác nhau.
Theo Ebel và Yilmaz (2002), trong trường hợp phân cấp, các chính quyền
địa phương phải có quyền để đánh thuế " nguồn tài nguyên của họ". Dựa vào
định nghĩa này, đo lường thích hợp nhất có lẽ là phần trong tổng các khoản thu
của tỉnh (bao gồm các khoản trợ cấp và thu chuyển nhượng từ chính quyền
trung ương) từ các khoản thu từ nguồn lực của tỉnh. Akai và Sakara (2002) làm
theo đo lường này trong nghiên cứu chéo giữa các tiểu bang về phân cấp tài
khóa ở Hoa Kỳ. Không may, ở Trung Quốc, không một chính quyền dưới tầm
quốc gia nào có đủ quyền lực để đánh một loại thuế mới lẫn tự thay thế các tỷ
lệ thuế hiện hành. Hơn nữa, một nguồn thu cấp tỉnh phức tạp như các khoản thu
được chia, các khoản thu thuế hoàn lại, chuyển nhượng và thu nhập ngoài ngân
sách phức tạp hơn các nguồn thu ở cấp địa phương ( Qiao, et al., 2008). Do đó,
lnGRPPC
it
là Logarit Nepe của GRP thực bình quân đầu người.
Chúng tôi sử dụng sự biến thiên này để nắm bắt hiệu ứng suy giảm của thu
nhập trên IMR. Hệ số β
2
được gỉa định là âm chỉ ra rằng sự tăng lên trong
thu nhập làm giảm IMR.
ln HEPCit, HESE
it
và HESG
it
tương ứng là chi tiêu y tế bình quân
đầu người, phần chi tiêu y tế trong tổng chi tiêu và phần chi tiêu y tế trong
GRP danh nghĩa. Các biến này được kỳ vọng tương quan nghịch với IMRs.
Chúng đại diện cho các đầu vào trực tiếp thông qua đó FD
it
có lẽ có các tác
động gián tiếp vào IMR
it
. Các tác động gián tiếp của FD
it
có thể bao gồm
sự gia tăng cơ sở vật chất y tế và tích lũy vốn con người, trong khi các tác
động trực tiếp có thể bao gồm, nhưng không được giới hạn như có nhiều
các chương trình chăm sóc sức khỏe đa dạng đáp ứng nhu cầu đa dạng của
địa phương, có nhiều hơn các chương trình giáo dục cho phụ nữ mang thai
ở địa phương và tiết kiệm chi phí trong việc truyền thông tin về nhu cầu
chăm sóc sức khỏe địa phương từ chính quyền địa phương đến chính quyền
trung ương.
IMRs của các vùng sâu vùng xa và khu tự trị thì cao hơn khoảng 2 lần so
với của các vùng ven biển và 4 lần chính quyền thành phố tự trị. Weng và
Wang (1993) cũng tìm ra rằng IMR giữa người dân tộc thiểu số thì cao hơn
khoảng 50% so với giữa người Hán, dân tộc lớn nhất ở Trung Quốc. Do đó,
β
8
được giả thuyết là dương.
Hình 5: Trung bình IMRs của 4 nhóm các tỉnh hoặc các vùng cấp tỉnh
FD
t
*GEO
it
là kết quả tương tác giữa biến giả phân cấp và biến giả
vùng. Cùng với GEO
it
, chi tiêu công được phân tích thành 2 khía cạnh:
thay đổi thời gian cụ thể và hiệu ứng khu vực cụ thể, GEO
it
, ám chỉ khía
cạnh khu vực cố định chung; và một phân cấp tài khóa tương tác với hiệu
Liệu phân cấp tài khóa có cải thiện kết quả chăm sóc y tế? Bằng chứng thực nghiệm từ Trung Quốc
Nhóm 06 – Lớp Ngân hàng Đêm 1 – Cao học K22 Page 20
ứng khu vực, FD
t
*GEO
it
thể hiện một sự phản ứng nhanh từ các chính
Bảng 1: Tóm tắt số liệu thống kê
Biến
Số
quan
sát
Trung
bình
Độ lệch
chuẩn
Giá trị
nhỏ
nhất
Giá trị
lớn nhất
Biến phụ thuộc
Liệu phân cấp tài khóa có cải thiện kết quả chăm sóc y tế? Bằng chứng thực nghiệm từ Trung Quốc
Nhóm 06 – Lớp Ngân hàng Đêm 1 – Cao học K22 Page 21
Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi IMR (%) 178 32.00 21.18 3.66 121.92
Biến độc lập
Phân cấp tài khóa (FD) với 2 đo
lường:
Nhóm 06 – Lớp Ngân hàng Đêm 1 – Cao học K22 Page 22
Vị trí địa lý mỗi tỉnh (GEO) 186 2.65 0.90 1 4
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (FER) 180 11 5.35 -1.35 23.57
Tỷ lệ đô thị hóa ( URBAN, phần trăm
của dân số thành thị trong tổng dân
số)
182 0.27 0.17 0.09 0.82
Nguồn dữ liệu: Cục Thống Kê Quốc Gia Trung Quốc
Lưu ý: IMR là dữ liệu điều tra dân số
IMRs biến thiên từ 3.66 (năm 2000 ở Bắc Kinh) đến khoảng 122 ( năm
1981 ở Tân Cương) với giá trị trung bình của 32 trẻ tử vong trên 1,000 trẻ mới
sinh và sống sót sau khi sinh.
Mức độ phân cấp tài khóa bằng số biến thiên từ 0.33 đến khoảng 0.93 với
trung bình là 0.63.
Chi phí chăm sóc y tế bình quân đầu người chạy từ khoảng 10 Đài tệ đến
341 Đài tệ với trung bình là 49 Đài tệ.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên biến thiên từ -1.35 đến 23.57 với trung bình là
11.
Tỷ lệ đô thị hóa biến thiên từ 10% đến khoảng 82% với trung bình khoảng
27%.
4.2 Kết quả hồi quy (FD là biến giả):
Trước hết chúng tôi chạy hồi quy với phân cấp tài khóa được đo lường bởi
một biến giả. Sử dụng OLS với lựa chọn tăng cường chúng tôi đánh giá tác
động của thu nhập và phân cấp tài khóa trong mô hình (i); và sau đó thêm 3
biến chi tiêu y tế: ln HEPC
it
, HESEi
t
và HESG
được và không biến thiên theo thời gian thì không cần áp dụng đối với các tỉnh
khác nhau bởi vì mục tiêu của các chính quyền địa phương ở các vùng khác
nhau thì đang thay đổi (WHO, 2008).
Bảng 2: Kết quả hồi quy (biến giả FD)
Biến phụ thuộc: Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi theo tỉnh hàng năm (%
0
)
OLS Ước lượng
bảng
(i) (ii) (iii) (iv) FGLS
Biến giả FD 13.69** 40.79** 41.61*** 24.13**
*
13.09***
(4.04) (5.95) (6.12) (7.91) (3.69)
lnGRPPC -12.69**
*
-8.64*** -9.6*** -5.13 -6.09***
(1.73) (3.19) (3.29) (3.55) (1.61)
lnHEPC 0.34 0.14 -1.41 0.32
(2.93) (2.97) (3.11) (1.29)
HESE 44.27*** 40.61*** 14.22** -25.35*
(14.51) (13.54) (5.78) (13.21)
HESG 872.45*** 876.30*** 798.20*
**
523.22***
(98.25) (95.59) (120.76)
(96.80)
BEDP 0.34* 0.37** 0.24***
(0.19) (0.18) (0.09)