TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNS Sinh viên thực hiện : Vũ Thị Tú Uyên
Lớp : Nhật 7
Khóa : 45
Giáo viên hướng dẫn : PGS. TS Nguyễn Đình Thọ Hà Nội, tháng 5 năm 2010
4. Các loại hình Môi giới chứng khoán 29
4.1. Phân loại theo loại dịch vụ cung cấp 29
4.2. Phân loại theo hoạt động của nhà môi giới chứng khoán 30
5. Phát triển hoạt động Môi giới của công ty chứng khoán 32
5.1. Chỉ tiêu định tính 32
5.2. Chỉ tiêu định lượng 33
6. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của hoạt động Môi giới
chứng khoán 35
6.1. Các nhân tố chủ quan 35
6.2. Các nhân tố khách quan 39
III. KINH NGHIỆM TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI Ở MỘT SỐ
THỊ TRƢỜNG LỚN TRÊN THẾ GIỚI 43
1. Sở giao dịch chứng khoán New York 43
2. Sở giao dịch chứng khoán London 45
Chƣơng II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNS 47
I. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNS 47
1. Sự ra đời 47
2. Cơ cấu tổ chức và nhân sự 48
3. Các sản phẩm dịch vụ 50
4. Giá trị mà VNS mang lại cho khách hàng 51
5. Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán
VNS. 53
II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN CHỨNG KHOÁN VNS 56
1. Thực trạng hoạt động môi giới 56
1.1. Cách thức đặt lệnh giao dịch 56
1.2. Nộp và rút tiền tài khoản giao dịch chứng khoán 60
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 – Tài sản và nguồn vốn của VNS qua các năm 54
Bảng 2 – Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của VNS qua các năm 54
Bảng 3 – Kết quả hoạt động kinh doanh của VNS qua các năm 55
Bảng 4 – Biểu phí giao dịch của VNS 61
Bảng 5 – Biểu phí giao dịch của công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán
ACB 62
Bảng 6 – Biểu phí giao dịch của Công ty cổ phần chứng khoán Thăng Long
622
Bảng 7 – Số lượng và trình độ nhân viên của hoạt động môi giới tại VNS 64
Bảng 8 - Doanh thu hoạt động kinh doanh chứng khoán của VNS 711
Bảng 9 - Doanh thu hoạt động môi giới chứng khoán của VNS qua các năm
733
Bảng 10 – Chi phí hoạt động kinh doanh chứng khoán của VNS qua các năm
744
Bảng 11 – Theo dõi số lượng tài khoản giao dịch đóng, mở tại VNS qua các
quý 76
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 - Cơ cấu nhân viên của VNS 644
Biểu đồ 2 - Cơ cấu nhân viên môi giới theo trình độ của VNS 65
Biểu đồ 3 - Cơ cấu nhân viên môi giới của VNS theo chứng chỉ 655
Biểu đồ 4 - Cơ cấu doanh thu hoạt động kinh doanh chứng khoán của VNS
năm 2007 722
Biểu đồ 5 - Cơ cấu doanh thu hoạt động kinh doanh chứng khoán của VNS
năm 2008 722
Biểu đồ 6 - Doanh thu môi giới của VNS 733
Biểu đồ .7 - Doanh thu và chi phí môi giới của VNS 755
mình, từ đó đưa ra lời khuyên, đưa ra những kiến nghị hợp lý để nhà đầu tư đạt
được lợi ích cao nhất.
Hoạt động môi giới mà hiệu quả thì sẽ là một trong những tiền đề vững chắc
giúp thị trường chứng khoán phát triển ổn định, bền vững. Và ngược lại, một thị
trường chứng khoán sôi động, tăng trưởng mạnh thì chắc chắn hoạt động môi giới
của nó phải rất phát triển.
Mặc dù hoạt động môi giới ở Việt Nam hiện nay ngày càng có những bước
tiến bộ, nhưng vẫn chưa đạt được trình độ chuyên nghiệp như ở các thị trường
chứng khoán lớn trên thế giới. Vậy hoạt động môi giới của công ty chứng khoán tại
Việt Nam hiện nay ra sao? Để tìm hiểu vấn đề này người viết đã chọn đề tài “Phát 2
triển hoạt động môi giới tại Công ty cổ phần Chứng khoán VNS” là đề tài nghiên
cứu cho khóa luận của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Người viết nghiên cứu đề tài này nhằm thực hiện 3 mục đích sau:
Thứ nhất là khái quát chung về công ty Chứng khoán và hoạt động Môi giới
của công ty chứng khoán để có được cái nhìn tổng quan nhất về công ty Chứng
khoán và hoạt động Môi giới chứng khoán.
Thứ hai là trình bày thực trạng hoạt động Môi giới tại một công ty chứng
khoán, mà cụ thể ở đây là Công ty cổ phần Chứng khoán VNS.
Thứ ba là dựa trên thực trạng hoạt động Môi giới đó, người viết sẽ đưa ra
giải pháp để giúp Công ty cổ phần Chứng khoán VNS phát triển hơn nữa hoạt động
Môi giới của mình trong tương lai.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Môi giới là một lĩnh vực có tầm hoạt động lớn, đa dạng về hình thức và cách
thức. Trong điều kiện thời gian và trình độ còn hạn chế, người viết chỉ nghiên cứu
nghiệp vụ môi giới trong phạm vi một công ty là Công ty cổ phần Chứng khoán
VNS. Đối tượng nghiên cứu là hoạt động Môi giới tại Công ty cổ phần Chứng
KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN
I. CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC NGHIỆP VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG
TY CHỨNG KHOÁN
1. Khái niệm và đặc điểm của Công ty chứng khoán
1.1. Khái niệm và phân loại Công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ các công ty
chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu lưu thông, buôn bán tấp nập trên thị
trường chứng khoán. Qua đó, một lượng vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư từ
những nguồn vốn nhỏ lẻ được tập hợp lại.
Có thể đưa ra một khái niệm như sau: “Công ty chứng khoán là một tổ chức
kinh doanh chứng khoán, có tư cách pháp nhân, có vốn riêng hoạt động theo chế độ
hạch toán kinh tế, hoạt động theo giấy phép của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
cấp” (GS.NGƯT Đinh Xuân Trình và PGS.TS. Nghuyễn Thị Quy, “Giáo trình Thị
trường chứng khoán” của Trường ĐH Ngoại Thương, NXB Giáo Dục).
Với vai trò quan trọng là một tổ chức tài chính trung gian trên thị trường
chứng khoán – thị trường tài chính bậc cao của nền kinh tế thị trường, công ty
chứng khoán được xây dựng và phát triển rất đa dạng về loại hình và quy mô.
Nếu căn cứ vào mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán, có thể phân
chia công ty chứng khoán thành 2 nhóm sau:
- Công ty chứng khoán đa năng: Đây là loại hình công ty chứng khoán thực
hiện tất cả các nghiệp vụ như kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các
dịch vụ tài chính khác. Đây chính là mô hình mà các Ngân hàng thương mại hoạt
động với tư cách vừa là chủ thể kinh doanh chứng khoán, vừa là chủ thể kinh doanh
bảo hiểm và vừa là chủ thể kinh doanh tiền tệ. 5
6
Các tổ chức trung gian tài chính có thể là các ngân hàng, các công ty chứng
khoán, các hiệp hội cho vay, các liên hiệp tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công
ty tài chính…
Công ty chứng khoán với đặc điểm là một trung gian tài chính sẽ đóng vai
trò là một trung gian đầu tư. Công ty chứng khoán không chỉ là cầu nối giữa tổ chức
phát hành với nhà đầu tư mà còn là cầu nối giữa các nhà đầu tư với nhau. Các công
ty chứng khoán cung cấp một danh mục đa dạng các dịch vụ tài chính bao gồm dịch
vụ môi giới, tư vấn và quản lý danh mục đầu tư, dịch vụ ngân hàng đầu tư (bao gồm
cả việc bảo lãnh phát hành các chứng khoán thuộc khu vực công và khu vực tư
nhân, trợ giúp trong lĩnh vực hợp nhất và sáp nhập các công ty), thực hiện giao dịch
mua bán (với tư cách là đối tác trong giao dịch) các cổ phiếu, trái phiếu và các công
cụ của thị trường tiền tệ.
1.2.2. Công ty chứng khoán là tổ chức kinh doanh có điều kiện
Điều kiện kinh doanh của công ty chứng khoán phát sinh là do công ty chứng
khoán hoạt động trong lĩnh vực tài chính – lĩnh vực cực kỳ quan trọng và có ảnh
hưởng sống còn, nên cần phải có những quy định chặt chẽ để đảm bảo an toàn cho
nền kinh tế. Hay nói cách khác, kinh doanh chứng khoán là một trong những ngành,
nghề kinh doanh có điều kiện.
Ngành nghề kinh doanh có điều kiện là những ngành, nghề mà Luật, Pháp
lệnh, Nghị định quy định các diều kiện hay yêu cầu mà doanh nghiệp phải đáp ứng
khi kinh doanh các ngành nghề đó. Điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới 2 hình
thức sau:
- Giấy phép kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp (giấy phép kinh
doanh có thể mang nhiều tên khác nhau, như: giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh
doanh, giấy phép hoạt động…).
- Các điều kiện quy định về tiêu chuẩn chuyên môn kỹ thuật, công nghệ, vệ
sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; quy định về phòng cháy chữa cháy, trật
tự xã hội, an toàn giao thông và quy định về các yêu cầu khác đối với hoạt động
phải đảm bảo tách biệt về văn phòng làm việc, nhân sự, hệ thống dữ liệu, báo cáo
giữa các bộ phận nghiệp vụ có xung đột giữa lợi ích của công ty chứng khoán và
của khách hàng hoặc giữa lợi ích của các khách hàng với nhau; công ty chứng 8
khoán phải tuân thủ các nguyên tắc về quản trị công ty được quy định trong Điều lệ
công ty phù hợp với Điều lệ theo quy định của pháp luật…
Có thể khái quát cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán theo sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1 - Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán
Ngoài ra, tùy theo công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở
lên mà tổ chức của công ty chứng khoán đó phải theo đúng quy định của pháp luật
về cơ cấu tổ chức của từng loại công ty này.
1.2.4. Hoạt động của Công ty chứng khoán phải theo nguyên tắc
9
hàng một cách tốt nhất; Đảm bảo nguồn lực về con người, vốn và cơ sở vật chất cần
thiết khác để thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán và ban hành bằng văn
bản các quy trình thực hiện nghiệp vụ kinh doanh phù hợp; Chỉ được đưa ra lời tư
vấn phù hợp với khách hàng trên cơ sở nỗ lực thu thập thông tin về khách hàng;
Phải cung cấp cho khách hàng thông tin cần thiết cho việc ra quyết định đầu tư của
khách hàng; Phải thận trọng không được tạo ra xung đột lợi ích với khách hàng
(trong trường hợp không thể tránh được, công ty phải thông báo trước cho khách
hàng và/ hoặc áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo đối xử công bằng với
khách hàng); Ban hành và áp dụng các quy trình nghiệp vụ trong công ty phù hợp
với quy định của Luật chứng khoán và các văn bản pháp luật liên quan.
Các nguyên tắc chung, cơ bản trên là các nguyên tắc nhằm bảo vệ lợi ích hợp
pháp, công bằng cho các nhà đầu tư và đảm bảo sự quản lý của pháp luật trong hoạt
động kinh doanh của công ty chứng khoán.
1.2.5. Nhân sự tại Công ty chứng khoán
Nhân sự là một nguồn lực rất quan trọng đối với các doanh nghiệp nói chung
và các công ty chứng khoán nói riêng. Với một cơ cấu tổ chức hợp lý, gọn nhẹ mà
không có đội ngũ nhân viên có năng lực, nhanh nhạy thì hoạt động kinh doanh của
công ty không thể hiệu quả.
Tùy theo từng doanh nghiệp, từng lĩnh vực hoạt động mà yêu cầu về trình
độ, kỹ năng của đội ngũ nhân lực là khác nhau. Đối với công ty chứng khoán, để
được phép đi vào hoạt động, ngoài Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó
Tổng giám đốc) cần phải có ít nhất 3 người hành nghề chứng khoán cho mỗi nghiệp
vụ kinh doanh.
Để trở thành một người hành nghề chứng khoán cần phải được cấp Chứng
chỉ hành nghề chứng khoán (điều kiện để một cá nhân được cấp Chứng chỉ hành
nghề chứng khoán được quy định trong khoản 1, Điều 79, Luật chứng khoán 2006).
Ngoài ra một người hành nghề chứng khoán cần phải có những trách nhiệm ràng
một quy định bắt buộc đối với các công ty chứng khoán để đảm bảo bình ổn thị
trường. Luật các nước đều quy định công ty chứng khoán phải dành một tỷ lệ phần
trăm nhất định các giao dịch của mình cho hoạt động bình ổn thị trường.
Đối với vai trò tạo lập thị trường, công ty chứng khoán là nhà đầu tư nắm giữ
một số lượng chứng khoán nhất định của một vài loại chứng khoán và thực hiện
việc mua bán chứng khoán với khách hàng để hưởng chênh lệch giá, duy trì một thị 11
trường liên tục đối với chứng khoán mà họ tham gia tạo lập thị trường. Ngoài ra, đối
với các loại chứng khoán mới phát hành chưa có giao dịch, công ty chứng khoán
phải tạo lập thị trường cho các chứng khoán này bằng cách giao dịch mua bán
chứng khoán để tạo tính thanh khoản trên thị trường.
Nguyên tắc của hoạt động tự doanh chứng khoán là công ty chứng khoán
phải đảm bảo quản lý tách bạch giữa hoạt động tự doanh và hoạt động môi giới. Cụ
thể, công ty chứng khoán phải:
- Đảm bảo có đủ tiền và chứng khoán để thanh toán các lệnh giao dịch cho
tài khoản của chính mình.
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của mình.
- Công bố cho khách hàng biết khi mình là đối tác trong giao dịch trực tiếp với
khách hàng và không được thu phí giao dịch của khách hàng trong trường hợp này.
- Trong trường hợp lệnh mua/ bán chứng khoán của khách hàng có thể ảnh
hưởng lớn tới giá của loại chứng khoán đó, công ty chứng khoán không được mua/
bán trước cùng loại chứng khoán đó cho chính mình hoặc tiết lộ thông tin cho bên
thứ ba mua/ bán chứng khoán đó.
- Khi khách hàng đặt lệnh giới hạn, công ty chứng khoán không được mua
hoặc bán cùng loại chứng khoán đó cho mình ở mức giá bằng hoặc tốt hơn mức giá
của khách hàng trước khi lệnh của khách hàng được thực hiện.
Nguyên tắc này đảm bảo tính công bằng cho khách hàng vì với tư cách là
một tổ chức trực tiếp tham gia thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán thường
viên khác. Còn đối với công ty chứng khoán nhận bảo lãnh phát hành, thường kiêm
luôn việc phân phối chứng khoán.
Hiện nay trên thế giới có một số hình thức bảo lãnh phát hành sau:
- Bảo lãnh cam kết chắc chắn: là hình thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh
phát hành cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối
hết hay không.
- Bão lãnh cố gắng tối đa: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo
lãnh thỏa thuận làm đại lý phát hành cho tổ chức phát hành. Tổ chức bảo lãnh
không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng tối đa. Số chứng
khoán còn lại nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành. Như vậy,
kết quả của việc bán chứng khoán của tổ chức phát hành tùy thuộc và khả năng, uy
tín và sự lựa chọn nhà đầu tư của tổ chức bảo lãnh. 13
- Bảo lãnh tất cả hoặc không: là phương thức bảo lãnh mà theo đó, tổ chức
phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phải bán hết số chứng khoán dự định phát hành,
nếu không phân phối hết sẽ hủy bỏ đợt phát hành. Theo phương thức này, không có
một sự bảo đảm đợt phát hành có thành công hay không, nên Ủy ban Chứng khoán
Nhà nước thường quy định số chứng khoán mà nhà đầu tư đã mua trong thời gian
chào bán sẽ được giữ bởi một người thứ ba để chờ kết quả cuối cùng của đợt phát
hành. Nếu đợt phát hành không thành công thì nhà đầu tư sẽ được trả lại toàn bộ số
tiền đặt cọc.
- Bảo lãnh với hạn mức tối thiểu: là phương thức kết hợp giữa phương thức
bảo lãnh cố gắng tối đa và phương bảo lãnh tất cả hoặc không. Theo phương thức
này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán
nhất định. Nếu số lượng chứng khoán bán ra dưới hạn mức này thì đợt phát hành sẽ
được hủy bỏ và toàn bộ tiền đặt cọc mua chứng khoán sẽ được trả lại cho nhà đầu
tư. Đây là phương thức bảo lãnh tương đối hiệu quả, vừa bảo vệ lợi ích cho tổ chức
phát hành, vừa hạn chế rủi ro cho tổ chức bảo lãnh.
Từ hai khái niệm trên có thể thấy rằng hoạt động tư vấn của công ty chứng
khoán nhắm tới 2 đối tượng là tổ chức phát hành chứng khoán (trên thị trường sơ
cấp) và nhà đầu tư (trên thị trường thứ cấp).
Tư vấn tài chính là một mảng hoạt động quan trọng mang lại nguồn thu
tương đối cao cho công ty chứng khoán. Thực hiện nghiệp vụ này sẽ góp phần hỗ
trợ phát triển các doanh nghiệp và tạo ra những hàng hóa có chất lượng cao trên thị
trường. Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán phải ký hợp đồng với tổ
chức được tư vấn và liên đới chịu trách nhiệm về nội dung trong hồ sơ xin niêm yết.
Hoạt động này tương đối đa dạng bao gồm:
- Xác định giá trị doanh nghiệp: là việc định giá các tài sản hữu hình và vô
hình của doanh nghiệp trước khi chào bán chứng khoán. Đây là khâu quan trọng
trước khi phát hành chứng khoán vì nó dùng để đánh giá chứng khoán phát hành,
đặc biệt là khi doanh nghiệp mới phát hành chứng khoán ra công chúng lần đầu.
- Tư vấn về loại chứng khoán phát hành: tùy theo điều kiện cụ thể của từng
doanh nghiệp như tình hình tài chính, chiến lược phát triển của công ty… mà xác
định loại chứng khoán phát hành là cổ phiếu hay trái phiếu.
- Tư vấn chia, tách hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp: khi một doanh nghiệp
muốn thâu tóm hay hợp nhất với một doanh nghiệp khác, họ tìm đến các công ty 15
chứng khoán để nhờ trợ giúp về các vấn đề kỹ thuật, phương pháp tiến hành sao cho
phù hợp và đỡ tốn chi phí…
- Tư vấn tái cơ cấu tài chính: công ty chứng khoán giúp các doanh nghiệp tái
cơ cấu nguồn vốn của mình cho phù hợp với điều kiện kinh doanh hiện tại, phù hợp
với ngành nghề kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và
đảm bảo an toàn.
- Tư vấn niêm yết: công ty chứng khoán giúp các doanh nghiệp thực hiện các
thủ tục theo quy định của pháp luật để đưa doanh nghiệp lên niêm yết tại sở giao
dịch chứng khoán.
khách hàng; công ty chứng khoán, người hành nghề chứng khoán phải công bố cho
khách hàng biết trước về những xung đột lợi ích có thể phát sinh giữa công ty
chứng khoán, người hành nghề chứng khoán và khách hàng.
- Công ty chứng khoán, người hành nghề chứng khoán phải công bố lợi ích
của mình về chứng khoán mà mình đang sở hữu cho khách hàng đang được tư vấn
về chứng khoán đó.
2.4. Hoạt động quản lý danh mục đầu tư
Theo Điều 6, khoản 26, Luật chứng khoán 2006 thì “Quản lý danh mục đầu
tư chứng khoán là việc công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện quản lý
theo ủy thác của từng nhà đầu tư trong mua, bán, nắm giữ chứng khoán”. Đối với
công ty chứng khoán thì hoạt động này là hoạt động mà công ty chứng khoán quản
lý vốn của khách hàng thông qua việc mua, bán và nắm giữ các chứng khoán vì
quyền lợi của khách hàng theo hợp đồng được ký kết giữa công ty chứng khoán và
khách hàng.
Nghiệp vụ này được thực hiện khi một số nhà đầu tư tổ chức hoặc cá nhân
muốn tham gia thị trường chứng khoán nhưng họ không có đủ điều kiện về thời
gian hoặc kiến thức chuyên môn để quyết định đầu tư, vì vậy, họ ủy thác cho công
ty chứng khoán đầu tư kèm theo thỏa thuận lãi, lỗ. Người ủy thác đầu tư thường
không can dự vào việc đầu tư của công ty chứng khoán và trả một khoản phí cho
công ty chứng khoán theo thỏa thuận.
Các công ty chứng khoán khi thực hiệp nghiệp vụ này ngoài việc được
hưởng phí quản lý, họ còn có thể nhận được những khoản tiền thưởng nhất định khi
mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư. Khi thực hiện quản lý danh mục đầu tư,
công ty chứng khoán phải quản lý tiền và chứng khoán cho từng khách hàng ủy thác 17
và sử dụng tiền trong tài khoản theo đúng các điều kiện quy định trong hợp đồng đã
ký kết. Hợp đồng phải xác định rõ mức độ ủy quyền của khách hàng cho công ty
chứng khoán và điều quan trọng nữa là phải xác định khách hàng phải chịu mọi rủi
chứng khoán phát hành riêng lẻ.
Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng
khoán sẽ nhận được một khoản phí theo quy định của pháp luật.
Hoạt động tín dụng là hoạt động mà công ty chứng khoán giúp khách hàng
của mình gia tăng khoản vốn đầu tư thông qua các hình thức như cho vay cầm cố
chứng khoán, cho vay bảo chứng, cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán…
- Cho vay cầm cố chứng khoán: là một hình thức tín dụng mà trong đó người
đi vay dùng số chứng khoán sở hữu hợp pháp của mình làm tài sản cầm cố để vay
kiếm tiền nhằm mục đích kinh doanh, tiêu dùng…
- Cho vay bảo chứng: là một hình thức tín dụng mà khách hàng vay tiền để
mua chứng khoán, sau đó dùng số chứng khoán mua được từ tiền vay để làm tài sản
cầm cố cho khoản vay.
- Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán: là việc công ty chứng khoán
dùng tiền của mình ứng trước tiền bán chứng khoán của khách hàng được thực hiện
tại Sở giao dịch chứng khoán và sẽ nhận lại tiền khi đến ngày thanh toán.
2.6. Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh của công ty chứng
khoán, trong đó, công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch
thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà
chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao
dịch đó.
Hoạt động môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán sẽ được trình bày
kỹ hơn trong phần II của chương I khóa luận này.
II. HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1. Khái quát chung về Môi giới chứng khoán
Có thể nói, hoạt động môi giới chứng khoán là hạt nhân của thị trường chứng
khoán. Hoạt động môi giới chứng khoán phát triển sẽ tạo đà phát triển cho thị
trường chứng khoán. Điều này bắt nguồn từ nguyên tắc chủ đạo đối với hoạt động