Vai trò của đại biểu dân cử ở địa phương trong việc ra quyết định
Người đại biểu dân cử trong vai trò ra quyết định sẽ tự mình đưa ra quyết định
khi có sự lựa chọn. Các quyết định đúng đắn sẽ tăng hiệu quả hoạt động và được
cử tri đồng thuận, tin tưởng vào chính quyền địa phương và những người lãnh đạo.
Là một đại biểu dân cử ở địa phương, bạn biết rằng, “khi quyết định những vấn
đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, HĐND ra nghị quyết” (Điều 10 Luật Tổ
chức HĐND và UBND). Để có các quyết định cuối cùng của HĐND tại kỳ họp,
đòi hỏi phải có quyết định riêng của từng đại biểu trước những sự lựa chọn, khi
thông qua biểu quyết. Ngay cả đối với những người từ chối bỏ phiếu về vấn đề
nào đó, trên thực tế đã quyết định không bỏ phiếu, và có thể đó là một quyết định
được suy xét kỹ lưỡng từ phía họ: Quyết định không đưa ra quyết định. Đôi khi,
đó lại là quyết định tối ưu(!) Bây giờ, chúng ta cùng xem xét quá trình đưa ra
quyết định.
1- Ra quyết định hợp lý
Tìm ra vấn đề: Tìm ra vấn đề để giải quyết là bước đầu tiên của quá trình đưa
ra quyết định. Với các vấn đề, chúng ta tìm kiếm các giải pháp, và để giải quyết
một vấn đề, câu hỏi sẽ là “tại sao?”.
Ví dụ 1: Giả sử bạn là đại biểu HĐND huyện A. Qua số liệu thống kê cho thấy,
số lao động thất nghiệp trong huyện đang tăng lên, mặc dù trên địa bàn huyện có
nhiều khu công nghiệp thu hút đông lao động. Câu hỏi mà bạn cần quan tâm là
“tại sao?” và bạn sẽ đi tìm nguyên nhân của nó. Bạn thấy rằng, nhiều lao động tại
chỗ khi được chuyển đổi từ nghề nông sang làm công nhân, đã không đáp ứng yêu
cầu về trình độ, tay nghề…
Nhận thức và tầm nhìn: Bạn cũng cần lưu ý là, mặc dù nhận ra vấn đề được
xem như là bước đầu tiên trong quá trình đưa ra quyết định hợp lý, song trước đó,
cần có quan điểm, cách thức nhìn nhận sự việc. Đó là nhận thức và tầm nhìn. Nhận
thức và tầm nhìn có những mô tả trái ngược nhau: Nhận thức là việc nhìn thấy
“cái gì”. Tầm nhìn là việc nhìn thấy “cái gì có thể”. Nhận thức mang tính ngắn
hạn và cụ thể, trong khi tầm nhìn mang tính dài hạn và chiến lược về mặt quan
điểm. Nhận thức xem xét về chi tiết, tầm nhìn liên quan đến “bức tranh toàn
cảnh”.
gặp khó khăn, do một phần quỹ đất nông nghiệp đã được san lấp mặt bằng?
Nếu vấn đề là (a), thì giải pháp dường như là cần tạo thêm công ăn việc làm
cho lao động (dôi dư). Nhưng nếu xác định vấn đề là (b), thì việc xúc tiến thành
lập “Trung tâm đào tạo dạy nghề và hướng nghiệp” trong các khu công nghiệp có
thể mới là giải pháp khả thi.
Xem xét trình tự
Chất lượng và sự chấp thuận: Hai cấu trúc quan trọng trong việc đánh giá tính
hữu hiệu của quyết định, đó là: (1) chất lượng của quyết định; (2) sự chấp nhận
của những người thực hiện quyết định/hoặc bị ảnh hưởng bởi quyết định. Cả hai
yếu tố này đều có ảnh hưởng đến kết quả, cần được xem xét khi bạn đi đến quyết
định cuối cùng. Chất lượng của quyết định sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao
gồm:
- Trọng tâm mục tiêu: Quyết định đề ra sẽ đạt được mục tiêu (hoặc giải quyết
được vấn đề) ở mức độ nào so với mong muốn?
- Sự sẵn có nguồn lực: HĐND có các nguồn lực để thực hiện quyết định này
hay không?
- Thời điểm: Thời điểm đưa ra quyết định có phù hợp hay không?
- Tính khả thi: Quyết định có khả thi cho việc thực hiện hay không? Đôi khi,
chúng ta có tất cả các tiêu chuẩn khác được bảo đảm, nhưng khi mọi chuyện diễn
ra, quyết định lại không khả thi xét trên quan điểm của việc thực hiện.
- Tính đầy đủ: Quyết định có đủ để đạt được mục tiêu (giải quyết vấn đề) hay
không?
Một thước đo khác để xem xét mức độ hiệu quả của việc ra quyết định, là sự
chấp nhận quyết định từ phía những người (1) chịu trách nhiệm thi hành quyết
định và (2) những người phải chịu các hậu quả của quyết định. Dù bạn chủ động
tìm hiểu vấn đề, hay vấn đề được cá nhân/tổ chức đệ trình lên HĐND, thì việc
tham khảo ý kiến của những người sẽ chịu ảnh hưởng bởi quyết định của HĐND,
sẽ cho thấy lý do tại sao quyết định được đưa ra, và nhằm có được sự cam kết, ủng
hộ quyết định đó.
Hệ quả: Trong một môi trường khan hiếm các nguồn lực, cần phải xem xét đến
Có 10 chiếc bẫy “nguy hiểm” của quá trình ra quyết định:
- Sa đà: kết luận mà không nghĩ đến hậu quả.
- Sự thiếu sáng suốt: định hướng giải quyết sai vấn đề hoặc bỏ qua các khả năng
lựa chọn quan trọng.
- Thiếu kiểm soát giới hạn: không định ra được vấn đề hoặc tình huống theo
nhiều cách.
- Quá tin tưởng vào các ý kiến giả định của bản thân.
- Các cách thức làm tắt thiển cận: như tin tưởng vào các thông tin tiện ích hiện
có.
- Quá nhanh: hành động và quyết định nhanh, không theo quy trình đưa ra
quyết định.
- Sự thất bại của tập thể: tin rằng với “ý tưởng tập thể”, tập thể sẽ đưa ra một
quyết định đúng đắn.
- Không nắm bắt các liên hệ: như không lắng nghe được mọi người nói hoặc
không diễn giải được các bằng chứng của những kết quả trước đó.
- Không bám sát vấn đề: không bám sát và phân tích kết quả của những nỗ lực
trước đây và sử dụng chúng để đề ra những quyết định trong tương lai.
- Không kiểm tra quá trình quyết định: không dành thời gian xem xét cách thức
đưa ra các quyết định và khả năng đạt được thành công.
3- Đưa ra các quyết định khi chưa chắc chắn
Đôi khi, HĐND phải đưa ra quyết định trong tình trạng thiếu chắc chắn, thiếu
các thông tin và dữ liệu đáng tin cậy. Mặc dù không hẳn là thiếu tinh thần trách
nhiệm, nhưng chúng ta có xu hướng né tránh vấn đề chưa sẵn sàng đối mặt. Một
cách khác của việc đưa ra quyết định là trì hoãn. Giống như việc né tránh, trì hoãn
đưa ra quyết định bị các cử tri hiểu sai và là dấu hiệu của sự yếu kém. Một thủ
thuật khác thường được sử dụng khi phải đối mặt với sự không chắc chắn và mập
mờ là đưa ra phản ứng cầm chừng, đi đến một quyết định với ít cam kết.
Các cơ chế đối phó này được mô tả như là quyết định không đưa ra quyết định,
thường có tác dụng trong trường hợp gặp bất trắc lớn. Tuy nhiên, nếu bạn dùng
những “thủ thuật” đó một cách đương nhiên, kể cả khi không có sự bất trắc và