MỤC LỤC Trang 1
MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 5
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 8
4. Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu đề tài 9
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài 9
6. Đóng góp của đề tài 9
7. Kết cấu của đề tài 10
CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ NHÂN
TỐ NGƯỜI TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 11
1.1 Trình bày quan niệm triết học Mác – Lênin về sản xuất và những nhân
tố của quá trình sản xuất vật chất 11
1.1.1 Khái niệm sản xuất, sản xuất vật chất 11
1.1.2 Những nhân tố của quá trình sản xuất vật chất 14
1.2 Kết cấu và vị trí của các yếu tố trong lực lượng sản xuất 15
1.3 Vai trò của nhân tố người trong việc phát triển lực lượng sản
xuất 22
1.3.1 Quan niệm của triết học Mác – Lênin về con người và nhân tố người
trong lực lượng sản xuất 22
1.3.2 Con người – nhân tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất 23
Tiểu tiết chương 1 27
CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN NHÂN TỐ NGƯỜI – ĐIỀU KIỆN
QUYẾT ĐỊNH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở
HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY 28
2.1 Vài nét về huyện Tiên phước 28
2.2 Thực trạng lực lượng sản xuất ở huyện Tiên phước 32
2.2.1 Thực trạng nhân tố người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên
Phước 33
2.2.2 Thực trạng tư liệu sản xuất trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên
Phước 41
quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Máy móc dù hoàn thiện đến đâu, dù
thông minh như thế nào đi chăng nữa thì cũng chỉ là khâu trung gian cho
hoạt động của con người, do con người sản xuất ra và chịu sự điều khiển bởi
con người. Vì vậy, trong bất kì thời đại nào nhân tố con người vẫn sẽ là
nhân tố quyết định quan trọng nhất và là chủ thể duy nhất của mọi hoạt
động trong xã hội.
Phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất không phải là một
vấn đề mới, tuy nhiên, việc nghiên cứu nhân tố người trong lực lượng sản
xuất là một vấn đề mang tính thời sự phải diễn ra thường xuyên trong các
giai đoạn lịch sử, ở tất cả các quốc gia. Con người vừa là chủ thể của lịch sử
- -
2
vừa là sản phẩm của lịch sử do đó việc phát triển con người gắn liền với
việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Đối với đất nước ta hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập
quốc tế và kinh tế tri thức thì nhân tố người cần được chú trọng và phát triển
toàn diện trên tất cả các mặt. Có như vậy thì mới có thể đảm bảo cho sự
phát triển cả mặt chất cũng như mặt lượng của xã hội. Trong những năm
gần đây, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đảng và
Nhà nước ta đã chú trọng đầu tư phát triển lực lượng sản xuất và đầu tư phát
triển con người thu được nhiều thắng lợi đáng kể. Tuy nhiên, thực trạng cho
thấy nền kinh tế nước ta phát triển không đồng đều giữa các vùng miền, các
khu vực mà một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng trên là do nhân
tố người trong lực lượng sản xuất chưa được quan tâm và phát triển đúng
mức cho từng địa phương cụ thể, đặc biệt là ở những vùng miền núi có nền
kinh tế kém phát triển. Nếu tình trạng này kéo dài thì đây thực sự là một trở
ngại lớn đối với nước ta trong thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Như vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra là tiến hành nghiên cứu ở những khu
vực có nền kinh tế kém phát triển để không những tạo ra sự phát triển nơi
đây mà còn tạo ra động lực phát triển chung cho nền kinh tế của nước ta.
Cũng bàn về nhân tố người trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả
Nguyễn Văn Tài với công trình nghiên cứu của mình “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về con người và phát huy nhân tố con người”, Tạp chí triết học, số
2(153), tháng 4 năm 2004. Tác giả đề cập con người trong tư tưởng Hồ Chí
Minh là sự thống nhất giữa con người cá nhân và con người xã hội. Tư
tưởng Hồ Chí Minh về bản chất con người và vấn đề phát huy vai trò nhân
tố con người là cơ sở khoa học cho đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Theo tác giả, phát huy nhân tố con người trước hết đó là quan
tâm đến lợi ích của con người, thỏa mãn các nhu cầu ngày càng cao của con
- -
4
người, coi con người vừa là mục đích vừa là động lực của sự phát triển của
cách mạng Việt Nam. Thứ hai, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ
luật, pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa. Thứ ba, đó là phát triển sự
nghiệp giáo dục - đào tạo nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, phải thực sự coi giáo dục là sự nghiệp quốc sách hàng đầu
để phát triển toàn diện con người Việt Nam.
Tác giả Trần Nhân trong tác phẩm “Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi
mới”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội - 2004, với phần “Phát triển
nguồn lực con người - nhân tố quyết định thắng lợi của đổi mới và phát
triển”. Tác giả đã coi nhân tố con người là nhân tố quyết định cho sự phát
triển nhanh, có hiệu quả và bền vững. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề cập đến
vấn đề đào tạo và sử dụng đội ngũ nhân tài của đất nước hiện nay. Trong sự
phát triển phải đặt lực lượng sản xuất lên hàng đầu, trong việc phát triển lực
lượng sản xuất thì việc phát triển khoa học và công nghệ lên vị trí hàng đầu.
Còn trong phát triển khoa học và công nghệ và chuyển giao công nghệ
thành lực lượng sản xuất thì vấn đề phát triền đội ngũ nhân tài phải giữ vị trí
ưu tiên. Ngày nay, nói tới khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp là nói tới tầm quan trọng đặt biệt của đội ngũ nhân tài trong
việc phát triển lực lượng sản xuất.
sản xuất và việc phát huy nhân tố đó ở nước ta hiện nay”. Qua công trình
của mình, tác giả đã trình bày vấn đề con người trong nội dung của lực
lượng sản xuất, phân tích đặc điểm của người lao động Việt Nam và đề xuất
một số giải pháp để phát huy nhân tố này.
Tác giả Nguyễn Văn Thiện với công trình “Góp phần bàn thêm về
nhân tố người”, Tạp chí nghiên cứu trao đổi. Tác giả đã đi sâu vào nghiên
cứu nhân tố người, sự phân biệt với các khái niệm khác khi chỉ về con
người. Nhân tố người theo tác giả là nói đến bản chất xã hội của con người,
là hạt nhân cốt lõi đặc trưng cho mặt chất lượng của nguồn lực con người,
nhấn mạnh vai trò chủ thể, tích cực, năng động, sáng tạo của con người.
Đưa ra khẳng định về tính quyết định của nhân tố con người đối với sự phát
- -
6
triển của xã hội nói chung, với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nước ta hiện nay nói riêng.
Tác giả Lê Quang Hoan với luận án tiến sỹ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh
về con người và vấn đề phát huy nhân tố người trong đổi mới hiện nay”.
Tác giả đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh khi bàn về vấn đề con
người và nhân tố con người. Tác giả nêu lên vấn đề “Phát huy nhân tố con
người có thể hiểu là phát huy nguồn lực con người, khi con người trở thành
một điều kiện, một tiềm năng cần phát huy để tạo ra động lực phát triển của
một quá trình xã hội”. Tác giả đã vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân
tố con người đối với sự nghiệp cách mạng để đưa ra cách thức phát triển và
phát huy nhân tố con người trong giai đoạn hiện nay.
Đối với huyện Tiên phước chỉ có những công trình nghiên cứu về lực
lượng sản xuất một cách chung chung, hầu như không có công trình nghiên
cứu về nhân tố người trong lực lượng sản xuất. Các công trình nghiên cứu
trên tuy đa dạng phong phú nhưng không có công trình nghiên cứu nào một
cách có hệ thống và trùng lặp với đề tài này. Xuất phát từ thực tiễn đó và
với tâm huyết về mảnh đất nơi đây của chính bản thân mình, em đã chọn đề
Khóa luận sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp phân tích - tổng hợp,
logic - lịch sử, so sánh, thống kê…khóa luận đặc biệt chú ý đến quan điểm
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu cũng như trong trình
bày đề tài này.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Khóa luận chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản về sử dụng và phát
triển con người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước tỉnh Quảng
Nam, qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần vào việc phát huy
nhân tố con người trong lực lượng sản xuất.
6. Đóng góp của đề tài:
Về lý luận:
- -
8
Góp phần cũng cố nhận thức lý luận về học thuyết hình thái kinh tế
xã hội, về vai trò của các nhân tố trong lực lượng sản xuất, đặc biệt vai trò
của nhân tố người trong lực lượng sản xuất.
Về thực tiễn:
Những giải pháp để phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất
ở huyện Tiên Phước có thể áp dụng cho những vùng có nền kinh tế kém
phát triển, có điều kiện tương tự như huyện Tiên Phước.
Đề tài này có thể để tham khảo và cung cấp thông tin cho huyện Tiên
Phước trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
7. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
đề tài được kết cấu gồm 2 chương 6 tiết sau:
Chương 1: Quan niệm của triết học Mác - Lênin về nhân tố người
trong lực lượng sản xuất.
1.1 Trình bày quan niệm triết học Mác - Lênin về sản xuất và
những nhân tố của quá trình sản xuất vật chất.
trường. Song quan hệ sống giữa con người và môi trường luôn có bản tính
hoạt động, làm cho con người trong quan hệ này cũng thường xuyên rơi vào
tình trạng mất cân bằng với môi trường. Khi rơi vào tình trạng này thì một
cách tất yếu, ở con người nảy sinh ra những đòi hỏi về các điều kiện và
phương tiện sinh tồn. Những đòi hỏi như thế của con người chính là nhu cầu
- -
10
mà trước hết là nhu cầu tồn tại và về sau còn nảy sinh ra cả nhu cầu phát
triển. Đến lược nhu cầu sau khi xuất hiện lại thúc đẩy con người hoạt động
để thỏa mãn nhằm bảo đảm cho họ tồn tại và phát triển.
Nhu cầu của con người càng ngày càng tăng trong khi đó môi trường
tự nhiên thì nghèo đi, những sản vật trong tự nhiên không còn đáp ứng được
nhu cầu ngày càng tăng của con người. Đến lúc này, nhu cầu của con người
chỉ được thỏa mãn khi con người tác động tích cực bằng lao động vào giới
tự nhiên. Bằng lao động và thông qua lao động con người sản xuất ra đời
sống xã hội của mình mà trước hết là đời sống vật chất - một đời sống do
chính con người tạo ra cho mình, khác về chất so với đời sống chỉ biết sử
dụng những gì có sẵn trong tự nhiên của họ.
Xuất phát từ đời sống hiện thực của con người. C.Mác đi đến xác
định tiền đề đầu tiền của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề
của mọi lịch sử đó là “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm
ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì trước hết phải có thức ăn, thức uống,
nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa. Như vậy hành vi lịch sử đầu tiên là
việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất.
Trong Bản thảo kinh tế triết học năm 1844, Mác chứng minh rằng con
người ngay từ đầu là một thực thể tự nhiên và điều đó có nghĩa là hoạt động
sống của con người được thực thể hóa theo hai nghĩa: Thứ nhất, nó được
phú cho sức mạnh tự nhiên, đến chừng mực nào đó thì những vật thể tự
nhiên bên ngoài được nó đồng hóa, chiếm lĩnh đến chừng mực ấy nếu
không có chúng thì con người không thể tồn tại được; Thứ hai, bởi vì những
nghiệp cơ giới, nếu môi trường tự nhiên, trước hết là hoàn cảnh địa lí của
một nước mà phong phú có nhiều tài nguyên thì con người ở đấy tốn ít thời
gian và sức lực trong việc tạo ra tư liệu sinh hoạt và tư liệu lao động cần
thiết cho đời sống và sản xuất của nước đó. Ngược lại, những nơi có hoàn
cảnh địa lí không thuận lợi, tài nguyên nghèo nàn thì khả năng và điều kiện
phát triển sản xuất có những hạn chế và khó khăn nhất định, song con người
với tư cách là chủ thể tích cực, sáng tạo, với trình độ khoa học kỹ thuật ngày
- -
12
càng phát triển thì con người có khả năng khắc phục những khó khăn của
môi trường, tạo điều kiện sản xuất với tốc độ nhanh.
Cùng với môi trường tự nhiên, dân số cũng là điều kiện cần thiết của
sản xuất vật chất. Mỗi một quốc gia dân tộc phải có một dân số nhất định để
có được số lượng người lao động cần thiết cho việc tổ chức sản xuất. Dân
số, tốc độ phát triển dân số của một nước ít nhiều có ảnh hưởng đến sinh
hoạt vật chất, đến sự tồn tại và phát triển của nước đó.
Nhìn chung sản xuất vật chất có những vai trò quan trọng sau:
- Sản xuất vật chất làm cho con người thay đổi tư thế dáng đi, làm cho
tay chân thuần thục.
- Sản xuất vật chất tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu thiết yếu của
con người.
- Sản xuất vật chất gắn các cá thể người lại với nhau thành xã hội.
- Sản xuất vật chất là điều kiện thuận lợi cho con người hiểu thế giới
khách quan sâu hơn, thông tin về nó nhiều hơn, vì vậy bộ não của con người
phát triển.
- Sản xuất vật chất là điều kiện thuận lợi cho con người suy ngẫm. cải
tiến công cụ sản xuất, thay đổi cách thức quản lí nhằm nâng cao năng suất
lao động. Vì vậy, sản xuất vật chất là nhân tố quan trọng nhất, quyết định
nhất đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
1.1.2 Những nhân tố của quá trình sản xuất vật chất
trở thành sản phẩm. Những đối tượng mà con người dựa vào để cải biến
thành sản phẩm có hai nhóm, một nhóm là những đối tượng “thuần tự
nhiên”, nhóm kia là những đối tượng do con người tạo ra bằng chính lao
động của mình. Nhóm thứ hai ngày càng tăng lên và chiếm đa số, nhóm thứ
nhất ngày càng giảm đi và dần trở thành thiểu số.
1.2 Kết cấu và vị trí của các yếu tố trong lực lượng sản xuất.
Khái niệm lực lượng sản xuất: “Lực lượng sản xuất là toàn bộ các lực
lượng được con người sử dụng trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất.
Nó bao gồm người lao động với một thể lực, tri thức, kĩ năng lao động nhất
- -
14
định và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động. Trong quá trình sản
xuất, sức lao động của co người kết hợp với tư liệu sản xuất, trước hết là
công cụ lao động tạo thành lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất biểu hiện
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất. Nó thể
hiện năng lực hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra
của cải vật chất” [ 4, 391].
Kết cấu lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất là hệ thống bao gồm các yếu tố có quan hệ tác
động qua lại với nhau gồm người lao động và tư liệu sản xuất. Bản chất của
lực lượng sản xuất được thể hiện ở các đặc trưng sau:
Thứ nhất, lực lượng sản xuất là nhân tố khách quan, là nền tảng vật
chất của toàn bộ lịch sử loài người. Lực lượng sản xuất được kế thừa và
phát triển liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi một thế hệ khi mới
sinh ra thích ứng với một trình độ lực lượng sản xuất nhất định, không tùy
thuộc vào sự lựa chọn của mình vì “lực lượng sản xuất là kết quả của năng
lực thực tiễn của con người, nhưng bản thân năng lực này bị quyết định bởi
những điều kiện trong đó người ta sống, bởi những lực lượng sản xuất đã
đạt được, bởi hình thái xã hội đã có trước họ, không phải do họ tạo ra mà do
thế hệ trước tạo ra” [12, 430].
được phản ánh thông qua sự phát triển của quá trình nhận thức và cải tạo
giới tự nhiên của con người thông qua sự phát triển của công cụ lao động.
Trong thời đại ngày nay, phát triển nguồn lao động đóng vai trò quan trọng
đối với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta. Sau hơn hai mươi
năm đổi mới và từng bước hội nhập quốc tế, nguồn nhân lực Việt Nam có
sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Đất nước hiện nay có đội
ngũ nhân lực khá dồi dào so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.
Tính đến hết năm 2007, cả nước có trên 44 triệu lao động trên tổng số 85
triệu dân, đứng thứ hai trên khu vực và đứng thứ mười ba trên thế giới về
quy mô dân số. Việt Nam là một trong số ít quốc gia trong khu vực có tỷ lệ
về cơ cấu độ tuổi của dân số và lao động khá lý tưởng (trên 50% số dân
- -
16
trong độ tuổi từ 15 - 60 (độ tuổi lao động), trong đó 45 % trong tổng số lao
động dưới độ tuổi 54). Đây là yếu tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế xã
hội.
Về chất lượng, việc đặt mục tiêu xây dựng và phát triển một nền giáo
dục hướng về cộng đồng với sự tham gia đóng vai trò chủ đạo và quản lý
chặt chẽ của Nhà nước đã góp phần nâng cao mặt bằng dân trí cho mọi tầng
lớp nhân dân. Việt Nam là một trong số ít các quốc gia trong khu vực có tỷ
lệ người lớn biết chữ và trẻ em trong độ tuổi đến trường khá cao. Lực lượng
lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đã tăng từ 7,6 % (1986) lên gần
30 % (2007). Người lao động Việt Nam có những phẩm chất tốt đẹp như
thông minh, cần cù, chịu khó, khả năng nắm bắt các kỹ năng lao động, đặc
biệt là kỹ năng sử dụng các công nghệ hiện đại tương đối nhanh. Đây là lợi
thế cạnh tranh quan trọng của nguồn nhân lực nước nhà trong quá trình hội
nhập và tham gia thị trường lao động quốc tế. Tuy nhiên so với yêu cầu của
quá trình phát triển nền kinh tế đất nước trong bối cảnh có sự hội nhập quốc
tế ngày càng sâu rộng, thì trên thực tế chất lượng nguồn nhân lực nước ta
hiện nay còn nhiều bất cập và hạn chế.
gian truyền tải sức lao động từ con người lên đối tượng lao động nhằm biến
đổi đối tượng lao động thành sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của con người.
Trong tư liệu lao động gồm có công cụ lao động và các phương tiện khác hỗ
trợ cho con người khi sử dụng công cụ cũng như khi tiến hành lao động nói
chung. Trong tư liệu lao động thì công cụ lao động là thành phần quan trọng
nhất, bởi đây là nơi tập trung nhất sức mạnh của tư liệu lao động, cái truyền
tải sức lao động trực tiếp nhất đến với đối tượng. Vì vậy, trong quá trình sản
xuất con người không ngừng đúc kết kinh nghiệm của mình cải tiến công cụ
lao động để nâng cao năng suất và tạo ra nhiều thành phẩm cho xã hội.
Công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản
xuất. Sự phát triển của công cụ lao động là nguyên nhân sâu xa làm biến đổi
xã hội. C.Mác cho rằng: “Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh
- -
18
chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công
nghiệp” [16, 187]. Hay trong Tư bản, Mác viết: “Những thời đại kinh tế
khác nhau không phải là ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng
sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” [13, 388].
Đối tượng lao động “Là những vật bị lao động của con người tác
động trong quá trình lao động sản xuất” [7, 13]. Đối tượng lao động hay còn
được gọi là toàn bộ những vùng của tự nhiên được con người đưa vào sản
xuất. Nó trước hết là những cái có sẵn trong tự nhiên, loại này con người chỉ
cần dùng lao động tác động vào để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Những
cái không có sẵn buộc con người phải tìm mọi cách để tạo ra nó như: Sợi
tổng hợp, vật liệu xây dựng, các hóa chất, loại này thông qua lao động sáng
tạo của con người để cải biến ít nhiều phục vụ cho sản xuất. Xã hội ngày
càng phát triển nhu cầu của con người ngày càng tăng điều này tỉ lệ nghịch
với những sản vật có sẵn trong tự nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt. Khi mà
môi trường tự nhiên mất cân bằng buộc con người phải tìm mọi cách chế tạo
ra những điều kiện nhân tạo để phục vụ cho quá trình sản xuất. Vậy, đối
xuất sáng kiến, sử dụng hợp lý thiết bị, nguyên liệu, năng lượng và để tổ
chức hoạt động của mình một cách hiệu quả nhất. Chức năng của con người
trong quá trình sản xuất đã và sẽ có những biến đổi to lớn, con người không
còn là nhân tố thao tác trực tiếp trong hệ thống kỹ thuật mà chủ yếu là sáng
tạo điều khiển quá trình đó. “Khoa học không còn đứng ở bên ngoài sản
xuất mà chuyển thành một mắt khâu bên trong, thống nhất chặt chẽ với
những mắt khâu khác trong lực lượng sản xuất” [1, 28]. Chúng ta sẽ thấy
điều này ở sự thâm nhập mạnh mẽ của khoa học vào lĩnh vực kỹ thuật thế
kỷ XX. Sử dụng những kết quả của vật lý, hóa học, người ta đã cải tiến kỹ
thuật thăm dò và khai thác dầu khí, cung cấp nguồn năng lượng cho công
nghiệp hiện đại. Thành tựu của vật lý nguyên tử, vật lý hạt nhân đã được sử
dụng để tạo ra kỹ thuật khai thác nguồn năng lượng nguyên tử, chế tạo bom
A, bom H. Kết quả nghiên cứu nhiệt động học, cơ học lượng tử, vật lý chất
- -
20
rắn được sử dụng và chế tạo động cơ phản lực, làm thay đổi căn bản kỹ
thuật vận tải như chế tạo máy bay hiện đại, các vệ tinh và tàu vũ trụ Ứng
dụng sinh học vào kỹ thuật tạo giống, chế tạo phân bón, thuốc trừ sâu. Ứng
dụng sinh học vào phát hiện ra bệnh hiểm nghèo và điều trị nó. Vậy sự thâm
nhập ngày càng sâu của khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã làm cho lực
lượng sản xuất có bước nhảy vọt, tạo thành cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại.
Như vậy, các yếu tố trong lực lượng sản xuất đều có vị trí và vai trò
nhất định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, trong đó người lao
động là lực lượng sản xuất hàng đầu. Cùng với người lao động, công cụ lao
động đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất. Ngày nay, với sự thâm
nhập ngày càng sâu rộng của tri thức khoa học vào trong sản xuất tạo cho
lực lượng sản xuất có bước phát triển mới về chất so với trước đây.
1.3 Vai trò của nhân tố người trong việc phát triển của lực lượng
sản xuất.
xã hội”. Đó là con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,
phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”. Bởi lẽ người lao động nước
ta đóng vai trò ngày càng quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
và trong sự phát triển nền kinh tế đất nước theo cơ chế thị trường, dưới sự
quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì chất lượng của
người lao động là nhân tố quyết định. Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII của Đảng khẳng định “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy
nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi
của công cuộc đổi mới đất nước”. Thực tiễn đã chứng minh xã hội ta hiện
nay tình trạng mất hài hòa về sự phát triển của bản thân mỗi cá nhân. Cá
nhân phải được phát triển toàn diện và hài hòa về đạo đức, trí tuệ, thể lực là
mục tiêu xây dựng con người trong chủ nghĩa xã hội, nhưng mục tiêu cơ
bản và quan trọng hơn cả là vấn đề con người phải trở thành nhân tố quyết
định lịch sử xã hội và lịch sử của chính mình.
1.3.2 Con người – nhân tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất.
- -
22
Như đã trình bày trong phần kết cấu và vị trí của các nhân tố trong
lực lượng sản xuất, ở đó đã khẳng định lực lượng sản xuất hàng đầu là
người lao động. Mọi thành tố cấu thành trong lực lượng sản xuất đều có vị
trí và vai trò nhất định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, nếu thiếu
một trong những nhân tố đó thì lực lượng sản xuất sẽ không được duy trì và
phát triển. Xét trong mối quan hệ giữa nhân tố con người với những thành
tố cấu thành lực lượng sản xuất ta thấy:
Nhân tố người trong mối quan hệ với tư liệu sản xuất thì: Con người
với tư cách là chủ thể, các yếu tố cấu thành tư liệu sản xuất là khách thể. Ở
đây con người đóng vai trò quyết định, bởi vì: Con người là chủ thể sáng tạo
ra mọi giá trị của cải vật chất, tinh thần của xã hội, trong đó có sự sáng tạo
ra những tư liệu sản xuất. Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học
kỹ thuật, sự ra đời của những máy móc thiết bị hiện đại. Trước tình hình đó
là sản phẩm lao động của con người. Vậy, trong mối quan hệ này, nhân tố
con người đóng vai trò quan trọng và quyết định nhất, là chủ thể của sự sáng
tạo ra những giá trị vật chất. Con người đã vượt lên trên tất cả để khẳng
định vị thế cao nhất của mình trong mối quan hệ với tự nhiên. Mức độ chinh
phục giới tự nhiên trong sản xuất của con người chứng tỏ con người đã
quyết định đến tính chất và mức độ phát triển của các thành tố trong lực
lượng sản xuất.
Với lao động, con người không những có được sự đáp ứng về mặt vật
chất cho các nhu cầu của con người mà còn giúp con người giải phóng một
phần nào đó sự lệ thuộc của con người vào tự nhiên. Bằng chứng là con
người đã chế tạo ra những máy móc trang thiết bị hiện đại để nghiên cứu
môi trường tự nhiên, từ đó có thể tránh được những tác động xấu mà môi
trường tự nhiên gây ra. Con người có thể dự báo được hướng đi của bão, sự
tăng lên của mức nước lũ và những diễn biến phức tạp của nó Từ những
dự báo đó con người sẽ tìm mọi cách để phòng tránh được thiệt hại lớn nhất
về sức người cũng như sức của.
- -
24
Trong các nguồn lực có thể khai thác được như: Nguồn lực tự nhiên;
nguồn lực khoa học công nghệ; nguồn vốn, thì nguồn lực con người là quyết
định nhất. Bởi lẽ, những nguồn lực khác chỉ có thể được khai thác hiệu quả
khi nguồn lực con người được phát huy. Chúng ta biết rằng, điều kiện tự
nhiên, khí hậu, địa lý, nguồn vốn có vai trò quan trọng trong một quốc gia,
song những yếu tố đó ở dưới dạng tiềm năng, tự chúng là những khách thể “
bất động”, chúng chỉ trở thành nhân tố “khởi động” và phát huy tác dụng
khi kết hợp với nguồn lực con người. Nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt,
ngược lại nguồn lực con người ngày càng đa dạng và phong phú.
Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, ngoại trừ con
người, những thành tố khác trong lực lượng sản xuất ngày càng lỗi thời, tất
yếu phải thay thế cho phù hợp với quá trình sản xuất, chỉ có bản thân con