Nghiên cứu các biến chứng thường gặp ở bệnh nhân được bít ống động mạch qua da tại viện tim mạch việt nam - Pdf 19


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
[\ NGUYỄN HUY LỢI

NGHI£N CøU C¸C BIÕN CHøNG Th−êng gÆp
ë bÖnh nh©n ®−îc bÝt èng ®éng m¹ch qua da
t¹i viÖn tim m¹ch viÖt nam LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

HÀ NỘI - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
[\ NGUYỄN HUY LỢI NGHI£N CøU C¸C BIÕN CHøNG Th−êng gÆp

và nghiên cứu khoa học. Người đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong thực
hành lâm sàng cũng như đã giành thời gian và tâm huyết trực tiếp hướng dẫn
tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các bệnh nhân, là những
đối tượng
nghiên cứu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu của tôi. Họ là động lực
thúc đẩy tôi cố gắng trong học tập và nghiên cứu khoa học.
Con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy, mẹ đã bỏ bao công lao giáo
dưỡng nuôi con khôn lớn, hai em đã luôn động viên anh trong quá trình học tập.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tất cả những người thân, các anh, chị, em,
bạn bè, đồng nghiệp, những người đã g
ắn bó và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, tháng 12 / 2011
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ số liệu trong luận văn này là kết quả trung
thực do tôi tiến hành nghiên cứu tại Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh viện
Bạch Mai. Những số liệu này chưa được sử dụng và công bố trong bất kỳ một
tài liệu và tạp chí khoa học nào. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những
số liệu mà tôi đã đưa ra.
Tác giả Nguyễn Huy Lợi
 VNTMNK Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

 ADO (Amplatzer Duct Occluder) Dù Amplatzer bít ống động mạch
 AMVSDO (Amplatzer Muscular Ventricular
Septal Defects Occluder)
Dù Amplatzer bít thông liên thất
phần cơ
 ASO (Amplatzer Atrial Septal Defects Occluder) Dù Amplatzer bít thông liên nhĩ
 Dd (Diameter Diastolic) Đường kính thất trái cuối tâm trương
 Ds (Diameter Systolic) Đường kính thất trái cuối tâm thu
 EF (Ejective Fraction ) Phân số tống máu thất trái
 Gmax (Gradient maximum) Chênh lệch áp lực lớn nhất
 NYHA(New York Heart Association) Phân độ suy tim của Hiệp hội tim
mạch New York – Hoa Kỳ
 PDA (Patent Ductus Arteriosus) Ống
động mạch
 Vd (Diastolic Volume) Thể tích thất trái cuối tâm trương
 Vs (Systolic Volume) Thể tích thất trái cuối tâm thu MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH CÒN ỐNG ĐỘNG MẠCH 3
1.1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu 3

3.1.2. Tiền sử bản thân 36

3.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG 37
3.2.1. Đặc điểm lâm sàng 37
3.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng 39
3.3 KẾT QUẢ THÔNG TIM VÀ CAN THIỆP 42
3.3.1. Hình thái và kích thước ÔĐM trên thông tim 42
3.3.2. Đặc điểm về dụng cụ 44
3.3.3. Đánh giá kết quả của quá trình can thiệp 45
3.4. CÁC BIẾN CHỨNG LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH CAN THIỆP 51
3.4.1. Tỷ lệ các biến chứng 51
3.4.2. So sánh đặc điểm giữa nhóm bệnh nhân có và không có biến chứng 53
3.4.3. So sánh tỷ lệ biến chứng giữa các loại dụng cụ được sử dụng 54
3.4.4. So sánh tỷ lệ biến chứng giữa nhóm có và không có shunt tồn lưu 55
3.5. DIỄN BIẾN VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ Ở NHÓM BỆNH NHÂN
ĐÁI MÁU ĐẠI THỂ 56
3.5.1. Đặc điểm và diễn biến của nhóm bệnh nhân đái máu 56
3.5.2. Các yếu tố nguy c
ơ gây đái máu 60
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 63
4.1. BÀN LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 63
4.1.1. Bàn luận về các đặc điểm chung 63
4.1.2. Bàn luận về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng 66
4.2. BÀN LUẬN VỀ KẾT QUẢ QUÁ TRÌNH CAN THIỆP 71
4.2.1. Bàn luận về hình thái, kích thước ÔĐM và lựa chọn dụng cụ 71
4.2.2. Bàn luận về kết quả của th
ủ thuật 72
4.3. BÀN LUẬN VỀ CÁC BIẾN CHỨNG LIÊN QUAN ĐẾN THỦ THUẬT 75
4.3.1. Bàn luận về tỷ lệ các biến chứng 75
4.3.2. Bàn luận về các yếu tố nguy cơ của các biến chứng 79

Bảng 3.17. Tỷ lệ biến chứng liên quan tới thủ thuật 51
Bảng 3.18. So sánh một số chỉ số giữa hai nhóm 53
Bảng 3.19. Tỷ lệ xuất hiện biến chứng giữa các nhóm tuổi 54
Bảng 3.20. Tỷ lệ biến chứng và dụng cụ được sử dụng 54
Bảng 3.21. Liên quan giữa mức độ shunt tồn lưu với biến chứng 55
Bảng 3.22. Thay đổi các chỉ số xét nghiệm máu trước và sau can thiệp
của nhóm bệnh nhân đái máu 57

Bảng 3.23. Xét nghiệm nước tiểu của hai nhóm bệnh nhân có
và không có đái máu 58
Bảng 3.24. So sánh các chỉ số trên siêu âm ở hai nhóm bệnh nhân
có đái máu và không có đái máu 59

Bảng 3.25. So sánh một số chỉ số giữa hai nhóm bệnh nhân có
và không có đái máu 60
Bảng 3.26. Tỷ lệ bệnh nhân xuất hiện đái máu theo dụng cụ sử dụng 61
Bảng 3.27. Các yếu tố nguy cơ gây ra đái máu trên thông tim 61
Bảng 3.28. Mối liên quan đái máu và shunt tồn lưu trên chụp mạch 62
Bảng 4.1. So sánh tỷ lệ biến chứng ở một số nghiên cứu 78
Bảng 4.2. Nguy cơ gây shunt tồn lưu ở các nhóm dụng cụ 79

DANH MỤC CÁC BIỂU

Biểu đồ 3.1. Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi 35

Biểu đồ 3.2. Phân bố bệnh nhân theo giới tính 36
Biểu đồ 3.5. Phân loại hình thái ÔĐM trên thông tim 43
Biểu đồ 3.6. Kết quả can thiệp 46
Biểu đồ 3.7. So sánh tỷ lệ shunt tồn lưu trên siêu âm và thông tim 47
Biểu đồ 3.9. Tỷ lệ biến chứng liên quan tới thủ thuật 51

Tim bẩm sinh là dị tật bẩm sinh phổ biến nhất, là nguyên nhân gây tử
vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh với tỉ lệ tử vong cao gấp hai lần so với tỉ lệ trẻ
chết vì ung thư [5]. Tần suất bệnh TBS chung trên thế giới là khoảng 8/1.000
trẻ ra đời còn sống, tại Việt Nam với dân số trên 80 triệu người ít nhất sẽ có
khoảng 10.000 trẻ mắc bệnh TBS ra đời hằng nă
m [14].Còn ống động mạch
là một bệnh TBS khá thường gặp, đứng hàng thứ ba sau thông liên thất và
thông liên nhĩ, chiếm khoảng 10% các bệnh TBS (khoảng 1 trong 2.000 đến
5.000 trẻ ra đời)[12].Tuy nhiên theo các nghiên cứu gần đây với sự phát triển
và thành công của chăm sóc sơ sinh thiếu tháng tần suất bệnh CÔĐM đã tăng
hơn đáng kể.
Còn ống động mạch thuộc nhóm bệnh TBS không tím, với luồng thông
trái-phải, tạo ra sự
lưu thông bất thường giữa đại tuần hoàn và tiểu tuần hoàn.
Mức độ tổn thương tùy thuộc vào kích thước lỗ thông, lưu lượng máu lên
phổi. Nó gây ra quá tải phổi, nhĩ trái và thất trái, lâu dài có thể gây ứ huyết
phổi, suy tim, tăng áp lực động mạch phổi, hậu quả cuối cùng là hội chứng
Eisenmenger. Do đó về mặt điều trị cần làm ngưng sự lưu thông bất thường
này càng sớm càng tốt để tránh những biến chứng.
Điều trị bệnh ÔĐM có nhiều phương pháp như nội khoa, ngoại khoa,
hay can thiệp qua da. Hiện nay điều trị bít ÔĐM bằng can thiệp qua da đang
dần chiếm ưu thế, là phương pháp được lựa chọn đầu tiên và nó đã trở thành
một phương pháp điều trị chuẩn ở nhiều trung tâm trên toàn thế giới [17]. Kỹ
thuật này l
ần đầu tiên được Porstmann và cộng sự thử nghiệm vào năm 1967
bằng cách dùng dụng cụ nút của Ivalon để bít ÔĐM [55]. Sau đó vào năm
1979, Rashkind cùng Cuaso đã sử dụng một dụng cụ hình dù để bít ÔĐM
thành công cho một trẻ sơ sinh [58]. Một loại dụng cụ khác cũng được áp
dụng để bít ÔĐM là các loại Coil. Từ năm 1975, hệ thống Gianturco Coil đã
bắt đầu được dùng để bít các mạch máu, đến 1992 Grifka

1. Khảo sát các biến chứng sớm thường gặp ở bệnh nhân được bít ống động
mạch qua da bằng dụng cụ tại Viện Tim mạch Việt Nam.
2. Tìm hiểu diễn biến và các yế
u tố nguy cơ gây đái máu đại thể ở bệnh
nhân được bít ống động mạch qua da bằng dụng cụ tại Viện Tim mạch Việt Nam. 3 CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN

1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH CÒN ỐNG ĐỘNG MẠCH
1.1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu
Vào đầu thế kỷ XIX, Galen lần đầu tiên mô tả về ÔĐM. Sau đó,
Harvey đã nghiên cứu sâu hơn về sinh lý tuần hoàn thai nhi. Đến năm 1888,
Munro đã tiến hành mổ và thắt ÔĐM ở tử thi một trẻ sơ sinh. Đúng 50 năm
sau vào ngày 26 tháng 8 năm 1938, Robert E. Gross đã mổ thắt thành công
ÔĐM ở m
ột bé gái 7 tuổi. Đây được coi là một sự kiện mang tính bước ngoặt
trong lịch sử phẫu thuật và báo trước một sự khởi đầu thực thụ về phẫu thuật
tim bẩm sinh. Mặc dù trước thời gian này, một bác sỹ người Đức tên là Emil
Karl Frey cũng đã mổ thắt thành công một ÔĐM tuy nhiên ông đã không
công bố kết quả của mình [37],[43].
1.1.2. Phôi thai học, giải phẫu và phân loại ống động mạch
1.1.2.1. Phôi thai học
Ống động mạch có căn nguyên phôi thai từ cung thứ 6 của cung ĐMC
phôi thai. Đoạn gần của cung này tạo ra ở mỗi bên một động mạch phổi, đoạn
xa ở mỗi bên lại nối với rễ ĐMC lư

Krichenko và cộng sự [45] đã dựa vào hình ảnh chụp mạch, dùng vị trí
hẹp nhất của ống làm mốc xác định và chia ra làm 5 nhóm. Riêng trong nhóm
A và B, dựa vào mối liên quan giữa vị trí nơi ÔĐM đổ vào ĐMP với bóng
của khí quản, nhóm được phân chia tiếp thành 3 dưới nhóm.
Type A: Vị trí hẹp nhất là nơi ÔĐM đổ vào ĐMP, ÔĐM hình nón.
Type B: Vị trí hẹp nhất là nơi ÔĐM xuất phát từ ĐMC, ÔĐM ng
ắn
Type C: ÔĐM hình ống, không có vị trí thắt hẹp
Type D: ÔĐM có nhiều vị trí thắt hẹp
Type E : ÔĐM có hình dạng bất thường, kéo dài và vị trí hẹp xa với bờ
trước của khí quản.
5 Hình 1.2. Phân loại ÔĐM theo Krichenko và cộng sự
Phân loại này rất có giá trị trong việc ứng dụng bít ÔĐM qua da. Bởi
phân loại này giúp xác định hình thái ống và mối liên quan giữa vị trí hẹp
nhất của ÔĐM với cấu trúc khác trong lồng ngực, từ đó tiên lượng được
những khó khăn có thể xảy ra và khả năng bít ống thành công hay không.
1.1.3. Sinh lý và sinh lý bệnh còn ống động mạch
1.1.3.1. Sinh lý quá trình bít ống động mạch
Thời kỳ
bào thai, ÔĐM có vai trò là kênh dẫn máu từ tiểu tuần hoàn
sang đại tuần hoàn, sự tồn tại ÔĐM lúc này là sinh lý bắt buộc. Lúc này sức
cản của tiểu tuần hoàn cao hơn sức cản đại tuần hoàn, máu lên phổi ít chủ yếu
với chức năng nuôi dưỡng phổi. Phần lớn lượng máu từ thất phải nghèo oxy
đi lên ĐMP rồi qua ÔĐM sang ĐMC xuống, trộn lẫn với máu từ thất trái, rồ
i
trao đổi qua rau thai đi nuôi cơ thể thai nhi. Lưu lượng máu qua ÔĐM thời kỳ
này chiếm tới 50-60% cung lượng tim [2].

ều kiện khác về di truyền: Trong những gia
đình có người mắc bệnh CÔĐM thì nguy cơ mắc bệnh cao hơn và có thể gặp
ở nhiều thế hệ [33]. Ở trẻ bị hội chứng Down cũng làm gia tăng nguy cơ
CÔĐM [39].
- Yếu tố địa lý: những trẻ vùng cao có tần suất mắc bệnh CÔĐM cao
hơn. Ở độ cao > 4000m, tần suất CÔĐM là 70/1000 trẻ so với 4/1000 trẻ ở
vùng ngang với mực nước biển [9].
- Mẹ bị đái tháo đường có thể gây ra một số rối loạn phát triển của thai
cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh CÔĐM…
1.1.3.2. Sinh lý bệnh còn ống động mạch
Do vẫn CÔĐM máu qua ĐMP nhiều làm tăng áp lực trong các mạch
máu của phổi, tăng lưu lượng tuần hoàn lên phổi, làm cho trẻ có nguy cơ dễ bị
viêm phổi, chậm phát triển thể ch
ất [3]. Mức độ nặng và diễn biến của bệnh
phụ thuộc vào kích thước ÔĐM, độ chênh áp lực giữa ĐMC và ĐMP. Điều
này giải thích tại sao có những bệnh nhi xuất hiện triệu chứng suy tim ứ
huyết, suy hô hấp sớm ngay sau sinh nhưng lại có những bệnh nhân được phát
7

hiện bệnh khi đã lớn tuổi. Luồng shunt trái-phải dẫn đến sự tăng thể tích thất
trái cuối tâm trương và làm giãn buồng thất trái, tăng lưu lượng tống máu tâm
thu, áp lực nhĩ trái và áp lực tĩnh mạch phổi tăng. Hậu quả sớm là tình trạng
suy tim ứ huyết. Đến giai đoạn muộn, suy tim phải xuất hiện do tình trạng
TALĐMP kéo dài, dẫn đến suy tim toàn bộ. Thêm vào đó do máu
được bơm
với áp lực cao qua ÔĐM làm cho lớp nội mạc của ĐMP bị kích thích và viêm,
các vi khuẩn trong máu có thể dễ dàng gây viêm nhiễm cho các vùng bị tổn
thương gây ra tình trạng VNTMNK. Cuối cùng với diễn biến tự nhiên của
bệnh shunt đảo chiều thành phải-trái dẫn đến hội chứng Einsenmenger, lúc
này không còn chỉ định bít ÔĐM nữa [2],[50].

- Nghe: là dấu hiệu chủ yếu để chẩn đoán trên lâm sàng, nghe thấy thổi
liên tục vùng dưới đòn trái. Tiếng thổi có thể lan xuống theo bờ trái xương ức.
Tiếng thổi liên tục cũng có thể gặp trong một số bệnh tim khác, cần chẩn đoán
phân biệt với các bệnh khác như vỡ phình xoang Valsava, HoC phối hợp TLT
(Hội chứng Laubry- Pezzi), rò động mạch vành vào các buồng tim phải, rò
động tĩnh mạch h
ệ thống…Nếu ống nhỏ ta sẽ nghe thấy tiếng thổi nhẹ.
- Khi sức cản ĐMP đã tăng cao, ta có thể nghe thấy ở vùng dưới đòn
tiếng thổi khác: tiếng thổi đôi, tiếng thổi tâm thu, tiếng thổi tâm trương, hoặc
không nghe thấy tiếng thổi nào (phụ thuộc vào mức chênh áp lực giữa ĐMP
và ĐMC).
- Nếu luồng shunt lớn, lâu dài sẽ gây TALĐMP khi
đó chênh áp qua
ÔĐM giảm ta sẽ nghe thấy tiếng thổi nhỏ đi, ngắn lại và tiếng T
2
mạnh hoặc
tách đôi.
- Có thể nghe thấy rung tâm trương ở ổ van hai lá, thổi tâm thu ở ổ van
ĐMC (do tăng lưu lượng).
- Tiếng thổi tống máu vào ĐMP ngắn giữa tâm thu hoặc tiếng thổi tâm
trương ngắn do giãn ĐMP gây HoP.
- Mạch ngoại biên nẩy mạnh và chìm sâu, chênh lệch huyết áp tâm thu-
tâm trương nhiều khi luồng shunt trái phải lớn.
1.2.2. Cận lâm sàng
1.2.2.1. Điện tim đồ
Không đặ
c hiệu, có thể thấy tăng gánh buồng tim trái, thường có trục
9

trái hoặc xu hướng trái, dày thất trái. Nhịp xoang hoặc có các rối loạn nhịp

phát hi
ện các tổn thương phối hợp như TLT, tứ chứng Fallot…
- Siêu âm 3D: với những tiến bộ mới về kỹ thuật siêu âm 3D rất có giá
trị trong chẩn đoán các bệnh tim bẩm sinh trong đó có CÔĐM. Tuy nhiên
hiện nay giá thành còn tương đối cao hơn so với siêu âm thông thường khác.
- Siêu âm Doppler:
Doppler màu
: Có thể phát hiện dòng chảy ở vị trí siêu âm 2D nghi ngờ
là ÔĐM, đó là dòng màu khảm trong thân ĐMP, có khi dòng màu này lan tới
tận van ĐMP hoặc chỉ khu trú ở phía gần ÔĐM (tùy thuộc vào lưu lượng
shunt và chênh áp qua ÔĐM).
Doppler xung
: Cho phép xác định hướng của shunt qua ÔĐM: shunt
trái-phải, shunt 2 chiều với chiều nào là chủ yếu, hay shunt phải-trái.
Doppler liên tục
: Là phương pháp thăm dò rất nhạy và đặc hiệu trong
chẩn đoán CÔĐM. Doppler liên tục giúp khẳng định có shunt, xác định
hướng của shunt, đo được chênh áp tối đa qua ÔĐM.
Trong giai đoạn đầu của bệnh, chúng ta thấy phổ dương, liên tục qua
ÔĐM, nghĩa là dòng chảy liên tục đi từ ĐMC trong suốt chu chuyển tim. Khi
ALĐMP tăng rất nhiều thì có thể thấy shunt 2 chiều qua ÔĐM: ở thì tâm thu
ph
ổ âm tức là dòng chảy đã đảo chiều, đi từ ĐMP sang ĐMC; ở thì tâm
trương thấy phổ dương tức là dòng chảy đi từ ĐMC sang ĐMP.
Áp lực động mạch phổi là một thông số rất quan trọng trong bệnh lý
CÔĐM, nó phản ánh tình trạng tăng lưu lượng phổi do shunt trái-phải, mặt
khác khi so sánh với áp lực mạch hệ thống cho phép định tính mức độ nặng
c
ủa bệnh.
11

phổi bít trung bình không vượt quá 10mmHg. Khi vượt quá 10mmHg thì có
chẩn đoán TALĐMP trước mao mạch. Đây là một tiêu chuẩn rất quan trọng
trong quyết định chỉ định điều trị, vì nếu có chẩn đoán TALĐMP trước mao
mạch hoặc TALĐMP cố định sẽ là chống chỉ định của phẫu thuật ghép tim
12

hay các can thiệp ngoại khoa khác ở các bệnh nhân tim bẩm sinh (thông liên
nhĩ, TLT hay CÔĐM…) với dòng shunt đã đổi chiều. Mặt khác ở bệnh nhân
có TALĐMP nặng, nghi ngờ TALĐMP cố định, có thể dùng test oxy hay một
số thuốc giãn mạch chứa Nitơ Oxyt (NO) hoặc có thể bít ÔĐM tạm thời bằng
bóng có lỗ bên để đánh giá khả năng giảm ALĐMP. Nếu ALĐMP giảm rõ
chứng tỏ chưa có TALĐ
MP cố định và có thể áp dụng các biện pháp điều trị
triệt để, ngược lại nếu ALĐMP không giảm hoặc giảm không có ý nghĩa,
chống chỉ định bít ÔĐM [4],[5].
- Thăm dò huyết động xác định dòng shunt và đo các dòng chảy ở
động mạch phổi và đại tuần hoàn: Đo độ bão hòa oxy ở ĐMP nếu cao hơn ở
tĩnh mạch chủ trên khoảng 3-5% là dấu hiệu gợi ý nhiều đến có dòng shunt từ
trái sang phải, từ đại tuần hoàn sang tiểu tuần hoàn (có bước nhảy oxy). Nếu
chênh lệch hơn 3% ở thất phải và ĐMP nghĩ đến shunt giữa các động mạch
lớn. Khi shunt đảo chiều thành phải- trái (hội chứng Eisenmenger) độ bão hòa
oxy ở ĐMC xuống sẽ thấp hơn ở ĐMC lên lúc này sẽ không còn chỉ định bít
ÔĐM nữa.
* Thông tim trái xác định vị trí, kích thước ÔĐM:
Đường vào thường là động mạch đùi phải, đưa ống thông (thường dùng
Catheter Pigtail) lên ĐMC bụng tới quai ĐMC phía dưới chỗ chia ĐM dưới
đòn trái. Tại vị trí này khi bơm thuốc cản quang sẽ thấy thuốc từ quai ĐMC
sang ĐMP qua ÔĐM. Ta có thể đo kích thước của ÔĐM dựa trên dòng phụt
ngược thuốc cản quang ở tư thế bóng nghiêng phải 30
0

động mạch dưới đòn trái, phì đại 2 thất và giãn ĐMP, sùi van ĐMC lan đến
xoang Valsava, tràn dịch màng ngoài tim gây chèn ép tim [61].
- Phình ÔĐM: có báo cáo tỷ lệ lên tới 8% tuy nhiên tỷ lệ thực tế không
rõ ràng vì nhiều trẻ sơ sinh tình cờ phát hiện phình ÔĐM trên siêu âm khi ống
đã được bít kín bằng huyết khối mà không có triệu chứng trên lâm sàng.
Phình ÔĐM phổ biến
ở trẻ nhỏ nhưng cũng có báo cáo gặp ở tuổi 52, nó có
thể tăng lên sau VNTMNK, sau phẫu thuật hoặc can thiệp bít ống [25].
- Biến chứng khác: canxi hóa ÔĐM, phình tách thành ÔĐM…Ngoài
ra còn có một số biến chứng hiếm gặp như liệt thần kinh thanh quản (khi
CÔĐM đi kèm với TALĐMP gây giãn ĐMP nhiều), bóc tách ĐMC.
14

1.4. ĐIỀU TRỊ BỆNH CÒN ỐNG ĐỘNG MẠCH
Điều trị bệnh CÔĐM tùy thuộc vào lứa tuổi và kích thước ÔĐM. Nếu ở
trẻ sinh non ta có thể theo dõi và ÔĐM thường tự đóng trong những tuần đầu
sau sinh. Chỉ định điều trị rõ ràng ở bất kỳ trẻ em hay người lớn nếu có triệu
chứng của shunt trái-phải đáng kể, ở nhữ
ng bệnh nhân khác có thể chỉ định
đóng ống để giảm thiểu nguy cơ biến chứng trong tương lai. Có nhiều phương
pháp điều trị bít ÔĐM đã được áp dụng như sau:
1.4.1. Bít ống động mạch bằng thuốc
Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) như Ibuprofen, Indomethacin
ức chế tổng hợp Prostaglandin E2, một chất có tác dụng giãn mạch. Vì vậy trên
lâm sàng người ta sử dụng các thuốc ức chế tổng hợp Prostaglandin
để bít
ÔĐM. Thuốc hay được sử dụng nhất là Indomethacin và cần phải áp dụng
sớm trong giai đoạn sơ sinh, tỷ lệ thành công theo nhiều nghiên cứu vào
khoảng 83%. Thuốc không có hiệu quả ở trẻ lớn hay người trưởng thành,
ngoài ra nếu thiếu tiểu cầu thì NSAIDs sẽ không thúc đẩy được quá trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status