MƯỜI LỰC LÀM PHẲNG THẾ GIỚI 81
cần nhiều thời gian hơn để hội tụ và thực sự trở thành phẳng,
nhưng đây là thời khắc khi người ta bắt đầu cảm thấy cái gì đang
thay đổi. Đột nhiên nhiều người từ nhiều nơi hơn thấy rằng họ có
thể cộng tác với nhiều người hơn trên các loại công việc khác nhau
hơn và chia sẻ nhiều loại tri thức hơn bao giờ hết. “Chính sự tạo
ra platform [nền] này, với các thuộc tính độc nhất, là sự đột phá
bền vững quan trọng thật sự làm cho cái bạn gọi là sự làm phẳng
thế giới là có thể,” Craig Mundie của Microsoft nói.
Quả thực, nhờ platform này nổi lên từ ba lực làm phẳng đầu tiên,
chúng ta đã không chỉ có khả năng nói với nhau nhiều hơn, chúng
ta đã có khả năng cùng nhau làm nhiều thứ hơn. Đấy là điểm mấu
chốt, Joel Cawley, nhà chiến lược IBM lí lẽ. “Chúng ta không chỉ
liên lạc với nhau nhiều hơn bao giờ hết, bây giờ chúng ta có khả
năng cộng tác - để cùng nhau xây dựng các liên minh, các dự án,
và các sản phẩm – hơn bao giờ hết.”
Sáu lực làm phẳng tiếp đại diện cho các hình thức cộng tác mới
mà platform mới này cho phép. Như tôi cho thấy, một số người sẽ
dùng platform này cho open-sourcing [tìm nguồn mở], một số cho
outsourcing [thuê làm ngoài], một số cho offshoring [làm ở hải
ngoại], một số cho supply-chaining [xâu chuỗi cung], một số cho
insourcing [thuê làm trong], và một số cho in-forming [cấp-tin].
Mỗi trong các hình thức cộng tác này hoặc do platform mới làm
cho có thể hay được nó tăng cường rất nhiều. Và khi ngày càng
nhiều người chúng ta học làm thế nào để cộng tác theo các cách
khác nhau này, chúng ta làm phẳng thế giới còn nhiều hơn nữa.
bị rối trí. Tôi hỏi, ‘Anh mua nó thế nào?’ và anh ta bảo, ‘Anh tải nó
xuống từ một Web site miễn phí’. Và tôi bảo, ‘Ừ, ai hỗ trợ nếu có
gì đó trục trặc?’ Và anh ta nói, ‘Tôi không biết – đúng là nó cứ hoạt
động!’ Và đó là sự tiếp xúc đầu tiên của tôi với Apache …
“Bây giờ bạn phải nhớ lại, khi đó Microsoft, IBM, Oracle,
Netscape tất cả đều thử xây dựng các Web server thương mại. Đấy
là các công ti khổng lồ. Và đột nhiên gã phát triển của tôi bảo tôi
rằng anh ta lấy được [Web server] của chúng tôi từ Internet miễn
phí! Nó giống cứ như là bạn có tất cả các quan chức điều hành của
các công ti lớn này mưu tính các chiến lược, và rồi đột nhiên mấy
gã ở phòng thư là những người phụ trách. Tôi tiếp tục hỏi, “Ai cai
quản Apache? Ý tôi nói, bọn này là những ai?”
Vâng, bọn geek [các tay cự phách] ở phòng thư đang quyết định
họ và cả bạn sẽ dùng phần mềm nào. Nó được gọi là phong trào
nguồn mở, và nó kéo hàng ngàn người khắp thế giới cùng đến cộng
tác trực tuyến để viết mọi thứ từ phần mềm riêng của họ đến các hệ
điều hành riêng của họ đến từ điển riêng của họ đến công thức
riêng của họ cho cola – luôn luôn xây dựng từ dưới lên hơn là chấp
nhận các định dạng hay nội dung do các hệ thống thứ bậc công ti
áp đặt từ trên xuống. Từ “nguồn-mở” hình thành từ quan niệm rằng
các công ti hay các nhóm ad hoc sẽ để mã nguồn [source code]–
các lệnh lập trình làm cho một phần mềm hoạt động – trực tuyến
sẵn để dùng và sau đó để cho bất cứ ai, người có cái gì đó để cải
thiện, tham gia cải thiện nó và để hàng triệu người khác tải nó
xuống dùng miễn phí. Trong khi phần mềm thương mại giữ bản
quyền và được bán, các công ti bảo vệ mã nguồn cứ như chúng là
các bảo bối của họ như thế họ có thể đòi tiền bất cứ ai muốn sử
MƯỜI LỰC LÀM PHẲNG THẾ GIỚI
nơi trong thời gian dài các cộng đồng tập thể tự-tổ chức của các
nhà khoa học đã đến với nhau qua các mạng riêng và muộn hơn
qua Internet để góp chung năng lực trí óc của họ hay để chia sẻ sự
hiểu biết quanh một vấn đề khoa học hay toán học đặc biệt. Apache
Web server có nguồn gốc trong hình thức này của open-sourcing.
Khi tôi hỏi một người bạn, Mike Arguello, một nhà kiến trúc hệ
thống IT, giải thích cho tôi vì sao người ta chia sẻ tri thức hay làm
việc theo cách này, ông nói, “những người làm IT thường là những
người rất thông minh và họ muốn mọi người biết họ đúng thông
minh đến thế nào”. Marc Andreessen, người sáng chế ra Web
browser đầu tiên, đồng ý: “Nguồn mở không gì hơn là khoa học
*
Common: đất , bãi cỏ, tài sản chung, dưới đây được dịch là [nguồn lực] chung.
THẾ GIỚI LÀ PHẲNG 84được đồng nghiệp phê bình. Đôi khi người ta đóng góp cho các
việc này vì họ làm khoa học, và họ khám phá ra các thứ, và phần
thưởng là danh tiếng. Đôi khi bạn có thể lập một hãng từ đó, đôi
khi họ chỉ muốn làm tăng kho tri thức trên thế giới. Và phần xét lại
của người ngang hàng là quyết định- và open-source là sự xét lại
ngang hàng. Mỗi lỗi hay lỗ hổng an ninh hay sự trệch khỏi tiêu
chuẩn được xem xét lại”.
Tôi thấy dạng nguồn lực trí tuệ chung này của open-sourcing hấp
dẫn, nên đi thăm dò để tìm các gã và các ả này là ai ở phòng mail.
Cuối cùng, tôi tìm được một trong những người tiên phong của họ,
85
chí còn cho bạn mã nguồn, và nó được một cộng đồng tạo ra. Nó
bắt đầu vẽ ra một bức tranh khác về lập trình trong đầu tôi. Tôi bắt
đầu nghĩ rằng có động học xã hội lí thú nào đó đối với cách các loại
phần mềm nào đó được viết hay có thể được viết- trái với loại hình
ảnh mà tôi đã có về nhà phát triển phần mềm chuyên nghiệp ở văn
phòng đằng sau [hậu trường, back office] máy tính lớn, nạp thông
tin vào và lấy nó ra cho việc kinh doanh. Điều đó đối với tôi chỉ là
một bước trên việc làm kế toán và không thật sự hứng thú”.
Sau khi tốt nghiệp 1991, Behlendorf đến Berkeley nghiên cứu vật
lí, song anh nhanh chóng thất vọng vì sự tách rời giữa các thứ trừu
tượng anh học trên lớp và sự náo động bắt đầu nổi lên trên Internet.
“Khi bạn quay lại đại học khi đó, mỗi sinh viên được cấp một địa
chỉ e-mail, và tôi bắt đầu dùng nó để nói chuyện với các sinh viên
và thăm dò các bảng thảo luận [discussion board] vừa xuất hiện về
âm nhạc,” Behlendorf nói. “Năm 1992, tôi bắt đầu danh mục thư
Internet riêng của mình tập trung vào tình hình nhạc điện tử địa
phương ở Miền Vịnh. Người ta có thể đơn giản dán lên bảng thảo
luận, và nó bắt đầu tăng, và chúng tôi bắt đầu thảo luận các sự kiện
âm nhạc khác nhau và các DJ [Disc Jockey - người dẫn chương
trình âm nhạc]. Rồi chúng tôi bảo, “Này, vì sao không mời các DJ
của riêng chúng ta và tung ra các sự kiện riêng của mình?’ Nó trở
thành một việc tập thể. Ai đó có thể nói, ‘tôi có một số đĩa hát’, và
ai đó khác có thể bảo, ‘tôi có hệ thống âm thanh’, và ai đó khác nói,
‘tôi biết bãi biển và nếu có mặt lúc nửa đêm chúng ta có thể có một
buổi liên hoan.’ Năm 1993, Internet vẫn chỉ là các danh mục gửi
thư và e-mail và các site FTP [Giao thức Truyền File] [các kho FTP
nơi bạn có thể lưu trữ các thứ]. Thế là tôi bắt đầu sưu tầm một kho
là một trong những nhân viên đầu tiên của tạp chí Wired, và anh ta
bảo Wired có thể quan tâm đến thuê tôi dựng Web site cho họ. Như
thế tôi tham gia ở đó với tiền công 10 $ một giờ, dựng e-mail của
họ và Web site đầu tiên của họ -HotWired- lên …Nó là một trong
các tạp chí trực tuyến đầu tiên sống bằng quảng cáo”.
HotWired quyết định nó muốn khởi động với một hệ thống đăng
kí đòi hỏi mật khẩu - một khái niệm gây tranh cãi lúc đó. “Vào
những ngày đó,” Andrew Leonard, người viết lịch sử Apache cho
Salon.com năm 1997, nhận thấy, “hầu hết các Webmaster [chủ
Web] phụ thuộc vào một chương trình Web server được phát triển
tại Trung tâm Quốc gia về các Ứng dụng Siêu Tính, NCSA, của
Đại học Illinois (cũng là nơi sinh của Web browser Mosaic gây
chấn động). Nhưng Web server của NCSA không thể xử lí việc xác
nhận mật khẩu ở quy mô mà HotWired cần. May mắn, NCSA
server thuộc lĩnh vực công, có nghĩa mã nguồn là miễn phí đối với
bất cứ ai. Như thế Behlendorf dùng đặc quyền tin tặc [hacker]: Anh
viết một số mã mới, một ‘miếng vá [patch]’ vào NCSA Web
server, miếng vá lo cho vấn đề.” Leonard bình luận, “Anh đã không
chỉ là một lập trình viên tài tình lục soát từ đầu đến cuối mã NCSA
mùa đông đó. Qua suốt sự bùng nổ Web, các Webmaster khác đều
thấy cần thiết nắm quyền hành động vào bàn phím riêng của họ.
Mã ban đầu đã bị để cho bụi ảo bao phủ khi lập trình viên chủ yếu
của nó, sinh viên Đại học Illinois Rob McCool, đã bị một công ti ít
được biết đến ở Silicon Valley có tên là Netscape múc về (cùng với
Marc Andreessen và Eric Bina tác giả của Lynx). Trong lúc ấy,
MƯỜI LỰC LÀM PHẲNG THẾ GIỚI 87
toàn thời gian, song chúng tôi nghĩ nếu có thể kết hợp thời gian của
mình và làm việc đó theo cách công cộng, chúng tôi có thể tạo ra
cái gì đó tốt hơn cái có thể mua từ trên kệ- và dù sao đi nữa khi đó
đã chẳng có sẵn gì cả. Đấy là trước khi Netscape bán Web server
thương mại đầu tiên của nó. Đó là khởi đầu của dự án Apache”.
Vào tháng Hai, 1999, họ đã viết lại hoàn toàn chương trình
NCSA gốc và chính thức hoá sự hợp tác của họ dưới tên “Apache”.
THẾ GIỚI LÀ PHẲNG 88“Tôi chọn tên này vì tôi muốn nó có ý nghĩa tích cực là quả
quyết,” Behlendorf nói. “Bộ lạc Apache đã là bộ lạc cuối cùng đầu
hàng chính phủ Hoa Kì đang đến, và ở thời kì chúng ta lo rằng các
công ti lớn sẽ đến và ‘khai hoá’ phong cảnh mà các kĩ sư Internet
ban đầu đã dựng lên. Vì thế ‘Apache’ với tôi có nghĩa như một tên
mã hay, và người khác nói nó cũng là một sự chơi chữ khéo” – như
APAtCHy server [một server chắp vá], bởi vì [các miếng vá -
patch] được dùng để vá tất cả các sửa chữa này với nhau.
Như thế bằng nhiều cách, Behlendorf và các đồng nghiệp nguồn
mở của anh- hầu hết họ anh chưa từng biết mà chỉ biết bằng e-mail
qua chat room nguồn mở- đã tạo ra một nhà máy phần mềm trực
tuyến, ảo, từ dưới lên, không ai sở hữu và không ai quản lí. “Chúng
tôi có một dự án phần mềm, song điều phối và chỉ huy là ứng xử
nổi lên dựa vào bất cứ ai có mặt và muốn viết mã,” anh ta nó.
Nhưng thực sự nó hoạt động thế nào? Tôi hỏi Behlendorf. Anh
không thể chỉ có một lũ người, không được giám sát, quy tụ mã lại?
“Hầu hết sự phát triển phần mềm dính đến một kho chứa mã
đó tăng lên hơn một ngàn. Chúng tôi là dự án nguồn mở đầu tiên
nhận được sự chú ý từ cộng đồng kinh doanh và có hỗ trợ từ IBM.”
Vì sự thành thạo của Apache cho phép một server duy nhất host
hàng ngàn Web site ảo khác nhau – âm nhạc, dữ liệu, văn tự, khiêu
dâm – nó bắt đầu chiếm “một thị phần đầy uy lực của thị trường
ISP,” Leonard của Salon lưu ý. IBM đã thử bán Web server riêng
của mình, gọi là GO, nhưng chỉ được một mẩu thị trường tí xíu.
Apache tỏ ra cả là công nghệ tốt hơn và không mất tiền. Nên cuối
cùng IBM quyết định rằng nếu nó không thể đánh bại, nó phải tham
gia Apache. Ta phải dừng ở đây và tưởng tượng điều này. Công ti
máy tính lớn nhất thế giới quyết định rằng các kĩ sư của nó không
thể thắng công trình của một nhóm ad hoc các geek nguồn mở!
IBM “khởi xướng tiếp xúc với tôi, vì tôi có một chút vai trò
người phát ngôn công khai cho Apache,” Behlendorf nói. “IBM
bảo, ‘Chúng tôi muốn tính làm sao chúng tôi có thể dùng [Apache]
và không bị cộng đồng Internet phê phán cay nghiệt, [làm sao
chúng tôi có thể] làm cho nó bền vững và không phải là những kẻ
đi lừa mà đóng góp cho quá trình …’ IBM đã nói rằng mô hình mới
này cho phát triển phần mềm là đáng tin cậy và có giá trị, vì thế
hãy đầu tư vào nó và thoát khỏi cách nghĩ là chúng tôi cố biến nó
thành của riêng mình, điều đó không tốt.”
John Swainson là quan chức điều hành cao cấp đã lãnh đạo đội
IBM tiếp cận Apache (ông hiện là chủ tịch Computer Associates).
Ông tiếp tục câu chuyện: “Đã có nhiều tranh cãi khi đó về nguồn
mở, nhưng lộn xộn. Chúng tôi quyết định là có thể dàn xếp với các
gã Apache bởi vì họ trả lời các câu hỏi của chúng tôi. Chúng tôi đã
có cuộc đàm luận có ý nghĩa với các gã này, và chúng tôi đã có thể
tạo ra Quỹ Phần mềm Apache [phi lợi nhuận] và tính mọi vấn đề”.
Với chi phí của IBM, các luật sư của nó đã làm việc với nhóm
Apache để tạo ra một khung khổ pháp lí quanh nó sao cho sẽ không
tác của họ với IBM là IBM cử các kĩ sư giỏi nhất tham gia nhóm
nguồn mở Apache và đóng góp, như tất cả những người khác, một
cách miễn phí. “Những người Apache đã không quan tâm đến sự
thanh toán bằng tiền mặt,” Swainson nói. “Họ muốn sự đóng góp
cho nền tảng. Các kĩ sư của chúng tôi đến và nói với chúng tôi,
‘Các gã làm Apache là các tay giỏi và họ khăng khăng rằng chúng
ta đóng góp người tài.’ Đầu tiên họ từ chối vài người mà chúng tôi
đóng góp. Họ bảo không xứng với tiêu chuẩn của họ! Sự đền bù mà
cộng đồng kì vọng là chúng ta đóng góp tốt nhất”.
22 tháng Bảy, 1998, IBM công bố các kế hoạch kết hợp Apache
vào sản phẩm Web server mới của riêng nó, gọi là WebSphere.
Cách cộng đồng cộng tác Apache tự tổ chức mình, bất cứ gì bạn lấy
từ mã Apache và cải thiện nó, bạn phải tặng lại cho cả cộng đồng.
Nhưng bạn cũng tự do đi ra và xây dựng một sản phẩm thương mại
có bằng sáng chế [patent] lên trên mã Apache, như IBM đã làm,
với điều kiện là bạn bao hàm sự trích dẫn bản quyền đến Apache
trong patent riêng của bạn. Nói cách khác, cách tiếp cận nguồn lực
trí tuệ chung đến open-sourcing khuyến khích người ta xây dựng