Tiểu luận Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại - Pdf 22

• Đăng ký thành viên
• Help

Ký danh
M?t mã
Ðang Nh?p
Ghi Nhớ?
• Chuyên mục
• Blogs
• Bài mới
• Kiến thức tự nhiên
• Kiến thức xã hội
o Kiến thức văn học
 Văn học phổ thông
 Nghiên cứu văn học
 Văn học thiếu nhi
 Hỏi đáp Văn học
o Kiến thức lịch sử
 Lịch sử Việt Nam
 Lịch sử Thế Giới
 Khảo cổ học
 Lịch sử phổ thông
 Bàn luận lịch sử
 Nhân vật lịch sử
o Kiến thức địa lý
 Địa lý Việt Nam
 Địa lý Thế Giới
 Kiến thức du lịch
 Địa lý phổ thông
 Hỏi đáp Địa lý
• Kiến thức chuyên ngành

Ðề tài: Tiểu luận: Thành tựu của Văn
Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại
• Ðiều Chỉnh
o Tạo trang in
o Email trang này…
o Theo dõi đề tài này…
• Display
o Chế độ bình thường
o Chuyển sang chế độ Pha trộn
o Chuyển sang chế độ dạng cây
1. 11-09-2010 02:09 PM #1
Vũ Thị Hòa
o Xem Hồ Sơ
o View Forum Posts
o Nhắn Tin Riêng
o View Blog Entries
Thành viên
Join Date
Nov 2010
Bài gởi
9
Thanks
0
Thanked 9 Times in 7 Posts
Tiểu luận: Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa
thời kỳ Trung đại
THÀNH TỰU CỦA VĂN HÓA TRUNG HOA THỜI KỲ TRUNG ĐẠI
MỞ ĐẦU
Trong thế giới cổ đại phương Đông xuất hiện bốn nền văn hóa lớn gồm Ai Cập,
Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Hoa. Sự xuất hiện của bốn trung tâm văn hóa lớn và

Trung Hoa chưa vượt qua dãy Vạn lí Trường Thành ngày nay, phía tây mới đến
tỉnh đông nam của tỉnh Cam Túc và phía Nam chỉ bao gồm một dải đất nằm dọc
theo hữu ngạn Trường Giang.
1.1.2. Lịch sử
Con người đã sinh sống ở đất Trung Hoa cách đây hàng triệu năm.
Dấu tích người vượn ở hang Chu Khẩu Điếm (gần Bắc Kinh) có niên đại cách đây
hơn 500.000 năm.
Cách ngày nay khoảng hơn 5000 năm, xã hội nguyên thuỷ ở Trung Hoa bước vào
giai đoạn tan rã, xã hội có giai cấp, nhà nước ra đời. Giai đoạn đầu, lịch sử Trung
Hoa chưa được ghi chép chính xác mà chỉ được chuyển tải bằng truyền thuyết.
Theo truyền thuyết, các vua đầu tiên của Trung Hoa là ở thời kì Tam Hoàng
( Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông ) và Ngũ Đế ( Hoàng đế, Cao Dương đế, Cốc đế,
Nghiêu đế, Thuấn đế ). Theo các nhà nghiên cứu, thực ra đây là giai đoạn cuối
cùng của thời kì công xã nguyên thuỷ.
1.1.3. Dân tộc
Trung Hoa có nhiều dân tộc nhưng đông nhất là người Hoa-Hạ. Người Hoa ngày
nay tự cho tổ tiên họ gốc sinh sống ở ven núi Hoa thuộc tỉnh Thiểm Tây và sông
Hạ thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay.(Dân núi Hoa sông Hạ).có 100 dân tộc ở Trung
Hoa ngày nay, có 5 dân tộc đông người nhất là Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng.
Dưới thời quân chủ, ở Trung Hoa tên nước được gọi theo tên triều đại. Đồng thời
người Trung Hoa cổ đại cho rằng nước họ là một quốc gia văn minh ở giữa xung
quanh là các tộc người lạc hậu gọi là Man, Di, Nhung, Địch. Vì vậy, đất nước của
họ còn được gọi là Trung Hoa hoặc Trung Hoa. Điều đó chứng tỏ tinh thần tự hào
dân tộc sớm hình thành từ thời cổ đại.
1.2. Những thành tựu chủ yếu của Trung Hoa thời cổ trung đại
Trung Hoa là một trong những nơi xuất hiện nền văn minh sớm thời cổ - trung
đại. Văn minh Trung Hoa thời cổ - trung đại có ảnh hưởng rất lớn tới các nước
phương đông.
1.2.1. Về chữ viết:
Chữ viết ở Trung Hoa cũng phát triển qua các thời kì :

gian sử dụng chữ lệ không lâu nhưng có ý nghĩa rất quan trọng vì đó là giai đoạn
quá độ để phát triển thành chữ Chân tức là chữ Hán ngày nay.
1.2.2. Về văn học
Văn học Trung Hoa là một nền văn học rất phong phú và đa dạng, phát triển linh
hoạt qua mỗi thời kì lịch sử mỗi vương triều.
* Thời cổ đại
Trước khi thống nhất các vương triều, văn học thời kì này quen gọi là TiềnTần,
trong nền văn học Trung Hoa đã xuất hiện nhiều tác phẩm kiệt xuất, trong đó nổi
tiếng nhất là bộ Kinh Thi và sở Từ
- Kinh thi là bộ tổng tập thơ ca đầu tiên của Trung Hoa, tập thơ cổ nhất của văn
học Trung Hoa được viết dưới thời Chu. Kinh thi gồm những bài thơ, ca dao, dân
ca, của nhân dân lao động và tầng lớp quý tộc (305 bài) ngoài ra có 6 bài gọi là
Sinh thi (bài hát co tiếng sinh đệm theo) có đề mục mà không có lời.
- Sở Từ là tác phẩm của nhà thơ nổi tiếng Khuất Nguyên (340-278), người nước
sở, vào thời Chiến quốc.
Sở từ là một thể thơ mới sau Kinh thi. Thời bấy giờ, ở vùng Giang hán lưu hành
một loại dân ca câu dài, câu ngắn với hình thức tương đối tự do, hay dùng chữ
“Hề”. Khuất Nguyên đã dung hình tức ấy để sang tác Li Tao, đó là Sở từ hay cũng
gọi là “Tao thể”. Sở từ gồm Li Tao, Cửu Chương, Cửu Ca, Thiên Vấn và Chiêu
Hồn, trong đó giá trị nhất và hay được nhắc đến là Li Tao.
Với di sản văn học để lại cho hậu thế Khuất Nguyên được khẳng định là nhà thơ
vĩ đại đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa. Những bài thơ tràn đầy tình cảm nồng
nhiệt của ông Tao thể” mà ông sang tạo đã làm cho sức biểu hiện thơ ca cực kì
phong phú. Thủ pháp lãng mạn mà ông vận dụng trong Li Tao đã ảnh hưởng sâu
xa đến sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa lãng mạn trong văn học cổ điển
Trung Hoa. Li tao đã trở thành biểu tượng của thơ ca Trung Hoa.
* Thời kì trung đại:
Văn học Trung Hoa phát triển đến đỉnh cao là ở thời kì này, với các thể loại nổi
bật: Phú (Hán), thơ (Đường), Từ (Tống), Kịch (Nguyên), Tiểu thuyết (Minh-
Thanh).

gian, với trí tưởng tượng phong phú, lạ lùng.
Nội dung Tây Du Ký kể chuyện về Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung và thầy trò
Đường Tăng, trải qua nghìn vạn khó khăn , hiểm trở đến Tây Thiên lấy kinh.
+ Hồng Lâu Mộng (Tào Tuyết Cần).
1.2.3. Sử học
Đến thời Tây Hán sử học mới trở thành một lĩnh vực độc lập mà người đặt nền
móng là Tư Mã Thiên.
Với tác phẩm Sử kí, bộ thông sử đầu tiên của Trung Hoa, Tư Mã Thiên đã ghi
chép lịch sử 3000 năm từ thời Hoàng Đế đến thời Hán Vũ Đế, trong đó chia làm
năm phần là bản kỉ, biểu, thư, thế gia, liệt truyện.
Tuy rằng quan điểm lịch sử của Tư Mã Thiên chủ yếu là quan điểm của giai cấp
phong kiến, nhưng qua sử kí, Tư Mã Thiên đã bộc lộ nhiều tình cảm với nhân
dân, ca ngợi sự tích anh hung và mỉa mai châm biếm những việc làm bạo ngược
của bọn vua chúa.
Sau sử kí, trong giai đoạn từ Hán đến Nam- Bắc triều có hán thư của Ban Cố,
Tam quốc chí của Trần Thọ, Hậu Hán thư của Phạm Việp …
Bắt đầu từ thời đường trên lĩnh vực sử học có hai vấn đề mới, đó là việc thành lập
cơ quan biên soạn lịch sử của nhà nước- gọi là “ sử quán” và việc ra đời những tác
phẩm lớn với những thể tài mới. Chính Quốc sử quán thời Đường đã soạn được
cấc bộ sử Tấn thư, Luơng thư, Trần thư, Bắc Tề thư, Chu thư,…Từ đó về sau, các
bộ sử của các triều đại đều do nhà nước biên soạn. Tông sử, Nguyên sử, Minh
sử…
Bên cạnh những bộ sử, các triều đại còn có một số tác phẩm lớn viết theo các thể
tài khác như Sử thông của Lưu Tri Cô, Thông điển của Đỗ Hữu thời Đuờng, Tư
trị thông giám của Tư Mã Quang đời Tống.
Thời Minh- Thanh, cơ quan chép sử của nhà nước cũng biên soạn được nhiều tác
phẩm như: Minh thực lục, Minh sử, Đại Minh nhất thống chí, Thanh thực lục, Đại
Thanh nhất thống chí,…
Ngoài ra, những tác phẩm sử học do các sử gia khác viết theo các thể biên niên, kỉ
sự bản mạt, tạp sự, bút kí…cũng rất nhiều.

Trong con người, dương là mé ngoài, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí, vệ; Âm là
mé trong, trước ngực và bụng, phần dưới ngũ tạng, huyết, vinh.
Âm dương tuy bao hàm ý nghĩa đối lập mâu thuẫn nhưng còn bao hàm cả ý nghĩa
nguồn gốc ở nhau mà ra, hỗ trợ, chế ước nhau mà tồn tại. Trong âm có mầm
mống của dương, trong dương lại có mầm mống của âm.
+ Tư tưởng triết học về Âm - Dương :
Triết học Âm - Dương có thiên hướng suy tư về nguyên lý vận hành đầu tiên và
phổ biến của vạn vật, đó là sự tương tác của hai thế lực đối lập nhau : Âm và
Dương.
+ Âm - Dương thống nhất trong Thái cực (Thái cực được coi như nguyên lý của
sự thống nhất của hai mặt đối lập là âm và dương). Nguyên lý này nói lên tính
toàn vẹn, chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cái duy nhất. Chính nó bao hàm tư
tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi.
+ Trong Âm có Dương và trong Dương có Âm. Nguyên lý này nói lên khả năng
biến đổi Âm - Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực.
+ Sự khái quát đồ hình Thái cực Âm - Dương còn bao hàm nguyên lý : Dương
tiến đến đâu thì Âm lùi đến đó và ngược lại, đồng thời “Dương cực thì Âm sinh”,
“Âm thịnh thì Dương khỏi”.
Để giải thích sự biến dịch từ cái duy nhất thành cái nhiều, đa dạng, phong phú của
vạn vật, phái Âm - Dương đã đưa ra cái lôgíc tất định : Thái cực sinh Lưỡng nghi
(Âm - Dương); Lưỡng nghi sinh Tứ tượng (Thái Dương - Thiếu Âm - Thiếu
Dương – Thái Âm) và Tứ tượng sinh Bát quái (Càn - Khảm - Cấn - Chấn -Tốn -
Ly - Khôn - Đoài); Bát quái sinh vạn vật (vô cùng vô tận).
Tư tưởng triết học về Âm - Dương đạt tới mức là một hệ thống hoàn chỉnh trong
tác phẩm Kinh Dịch, trong đó gồm 64 quẻ kép. Mỗi quẻ kép là một động thái, một
thời của vạn vật và nhân sinh, xã hội như : Kiền, Khôn, Bí, Thái, Truân, Ký tế, Vị
tế… Sự chú giải Kinh Dịch không phải của một tác giả mà là của nhiều bậc trí
thức ở nhiều thời đại với những xu hướng khác nhau. Điều đó tạo ra một “tập đại
thành” của sự chú giải, bao hàm những tư tưởng triết học hết sức phong phú và
sâu sắc.

kim, kim khắc mộc, và mộc khắc thổ và cứ như vậu lại tiếp diễn mái.
Trong tình trạng bình thường, sự tưong khắc có tác dụng duy trì sự thăng bằng,
nhưng nếu tương khắc thái quá thì làm cho sự biến hoá trở lại khác thường.
Trong tương khắc, môĩ hành cũng lại có hai quan hệ:Giữa cái thắng nó và cái nó
thắng. Ví dụ mộc thì nó khắc thổ, nhưng lại bị kim khắc nó.
Hiện tượng tương khắc không tồn tại đơn độc; trong tương khắc đã có ngụ ý
tương sinh, do đó vạn vật tồn tại và phát triển.
- Luật chế hóa: Chế hoá là chế ức và sinh hoá phối hợp với nhau. Trong chế hoá
bao gồm cả hiện tượng tương sinh và tương khắc. Hai hiện tượng này gắn liền với
nhau.
Lẽ tạo hoá không thể không có sinh mà cũng không thể không có khắc. Không có
sinh thì không có đâu mà nảy nở; không có khắc thì phát triển quá độ sẽ có hại.
Cần phải có sinh trong khắc, có khắc trong sinh mới vận hành liên tục, tương
phản, tương thành với nhau.
Quy luật chế hoá ngũ hành là:
Mộc khắc thổ, thổ sinh kim, kim khắc mộc.
Hoả khắc kim, kim sinh thuỷ, thuỷ khắc hoả.
Thổ khắc thuỷ, thuỷ sinh mộc, mộc khắc thổ.
Kim khắc mộc, mộc sinh hoả, hoả khắc kim.
Thuỷ khắc hoả, hoả sinh thổ, thổ khắc thuỷ.
Luật chế hoá là một khâu trọng yếu trong thuyết ngũ hành. Nó biểu thị sự cân
bằng tất nhiên phải thấy trong vạn vật. Nếu có hiện tượng sinh khắc thái quá hoặc
không đủ thì sẽ xảy ra sự biến hoá khác thường. Coi bảng dưới đây chúng ta thấy
mỗi hành đều có mối liên hệ bốn mặt. Cái sinh ra nó, cái nó sinh ra, cái khắc nó
và cái bị nó khắc.
Ví dụ: Mộc khắc thổ nhưng thổ sinh kim, kim lại khắc mộc. Vậy như nếu mộc
khắc thổ một cách quá đáng, thì con của thổ là km tất nhiên nổi dậy khắc mộc
kiểu như con báo thù cho mẹ. Nghĩa là bản thân cái bị có đầy đủ nhân tố chống lại
cái khắc nó.Cho nên, mộc khắc thổ là để tạo nên tác dụng chế ức, mà duy trì sự
cân bằng. Khắc và sinh đều cần thiết cho sự giữ gìn thế cân bằng trong thiên

Bát Quái là 8 Quẻ mỗi Quẻ gồm có 3 vạch (mỗi vạch còn gọi là Hào), còn được
gọi là Quẻ Đơn hay Đơn Quái, dùng để diễn tả 8 hiện tượng chính của hoạt động
Âm Dương trong Vũ Trụ. Việc xếp đặt các vạch để tạo thành Bát Quái được thực
hiện theo thứ tự hoàn toàn theo tự nhiên : Dương trước, Âm sau, tay mặt trước,
tay trái sau. Thứ tự và tên gọi của Bát Quái như sau : Càn, Đoài, Li, Chấn, Tốn,
Khảm, Cấn, Khôn.
Càn : Trời, Thiên. Càn vi Thiên. Dương đã thinh và Âm đã hủy.
Đoài : Đầm, ao. Đoài vi Trạch. Dương đã lớn và Âm sắp tàn.
Li : Lửa, hơi nóng. Li vi Hỏa. Dương đã lớn và Âm sắp tàn.
Chấn : Sấm, sét. Chấn vi Lôi. Dương mới sinh và Âm bắt đầu suy.
Tốn : Gió. Tốn vi Phong. Âm mới sinh và Dương bắt đầu suy.
Khảm : Nước, chất lỏng. Khảm vi Thuỷ. Âm đã lớn và Dương sắp tàn.
Cấn : Núi non. Cấn vi Sơn. Âm đã lớn và Dương sắp tàn.
Khôn : Đất, Địa. Khôn vi Địa. Âm đã thịnh và Dương đã hủy.
1.2.4.2. Một số trường phái tư tưởng tiêu biểu
a. Nho gia
Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI tr. CN dưới thời Xuân Thu, người sáng
lập là Khổng Tử (551 - 479 tr. CN). Đến thời Chiến Quốc, Nho gia đã được Mạnh
Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai xu hướng khác nhau: duy vật và
duy tâm, trong đó dòng Nho gia Khổng - Mạnh có ảnh hưởng rộng và lâu dài nhất
trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận.
Kinh điển chủ yếu của Nho gia gồm Tứ Thư (Luận ngữ, Đại học, Trung Dung,
Mạnh Tử) và Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch và Xuân Thu). Các kinh sách này hầu
hết đều viết về xã hội, về kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa. Điều này cho thấy rõ xu
hướng biện luận về xã hội, về chính trị - đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của
Nho gia. Những quan niệm đó được thể hiện ở những tư tưởng chủ yếu sau:
Thứ nhất, Nho gia coi những quan hệ chính trị - đạo đức là những quan hệ nền
tảng của xã hội, trong đó quan trọng nhất là quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng -
vợ (gọi là Tam cương). Nếu xếp theo tôn ty trật tự, trên dưới thì vua ở vị trí cao
nhất, còn nếu xếp theo chiều ngang của quan hệ thì vua - cha - chồng xếp ở hàng

Trong quan niệm về thế giới, tư tưởng của Khổng Tử luôn có những mâu thuẫn.
Một mặt, khi chống lại chủ nghĩa thần bí, tôn giáo đương thời, ông thừa nhận sự
vật, hiện tượng trong tự nhiên luôn luôn tự vận động,biến hóa không phụ thuộc
vào mệnh lệnh của Trời. “ Trời có nói gì đâu mà bốn mùa vận hành, vạn vật sinh
hóa mãi mãi” (Luận ngữ, Dương Hóa, 18); hay “ cũng như dòng nước chảy, mọi
vật đều trôi đi, ngày đêm không ngừng, không nghỉ” (Luận ngữ, Tử Hãn, 16). Đó
là yếu tố duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát của ông. Mặt khác, ông
lại cho rằng Trời có ý chí và có thể chi phối vận mệnh của con người (Thiên
mệnh). Đó là yếu tố duy tâm khách qua trong quan điểm của ông. Ông nói: “Đạo
của ta thi hành ra được cũng do mệnh Trời, mà bị bỏ phế cũng là do mệnh Trời”
(Luận ngữ, Hiến vấn, 38); “làm sao có thể cải được mệnh Trời”. Hiểu biết mệnh
Trời là một điều kiện tất yếu để trở thành con người hoàn thiện là người quân tử.
Cũng như thế, một mặt Khổng Tử tuyên truyền sức mạnh của quỷ thần; nhưng
mặt khác ông lại nhấn mạnh vai trò quan trọng của hoạt động con người trong đời
sống.
Quan niệm về nhận thức trong học thuyết của Khổng Tử không phát triển, không
đặt ra vấn đề chân lý mà chỉ dừng lại ở vấn đề “tri thức luận” (tri thức do đâu mà
có). Theo ông, tri thức có hai loại là “thượng trí” (không học cũng biết) và “hạ
ngu”(học cũng không biết). Nghĩa là ông đã thừa nhận có tri thức tiên thiên, có
trước sự nhận thức của con người. Đối tượng để dạy dỗ, giáo hóa nằm giữa “trí”
và “ngu”, nếu chịu khó học tập có thể vươn tới thượng trí. Còn không học thì rơi
xuống hạ ngu. Ưu điểm của ông là chủ trương “hữu giáo vô loại” (học thì không
phân loại). Khổng Tử cũng nêu ra một số phương pháp học tập có ý nghĩa như:
học phải đi đôi với luyện tập; học phải kết hợp với suy nghĩ; phải ôn cũ để biết
mới; học phải nắm được cái cốt yếu”Tuy nhiên, hạn chế của Khổng Tử là ở quan
niệm học theo lối “hoài cổ”, coi thường tri thức về sản xuất, lao động chân tay.
Tư tưởng về luân lý, đạo đức, chính trị - xã hội là một trong những vấn đề cốt lõi
trong học thuyết Khổng Tử. Những nguyên lý đạo đức cơ bản nhất trong học
thuyết đạo đức của Khổng Tử là : Nhân, lễ, trí, dũng cùng với một hệ thống quan
niệm về chính trị - xã hội như “nhân trị”, “chính danh”, “thượng hiền”, “quân tử”,

gia vào công cuộc cai trị.
Toàn bộ học thuyết về nhân, lễ, chính danh của Khổng Tử là nhằm phục vụ mục
đích chính trị là “Đức trị”. Ông phản đối việc dùng hình phạt để trị dân vì làm như
vậy, dân sợ mà phải theo chứ không phục. Theo ông, làm chính trị mà dùng đức
cảm hóa người thì giống như sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các sao khác đều chầu
đến.
*Tóm lại:
So với các học thuyết khác, Nho gia có nội dung phong phú và mang tính hệ
thống hơn cả; hơn thế nữa, nó còn là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống
trị Trung Hoa suốt hơn hai ngàn năm của xã hội phong kiến. Để trở thành hệ tư
tưởng chính thống, Nho gia đã được bổ sung và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn
lịch sử trung đại: Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh, nhưng tiêu biểu hơn cả là
dưới triều đại nhà Hán và nhà Tống, gắn liền với tên tuổi của các bậc danh Nho
như Đổng Trọng Thư (thời Hán), Chu Đôn Di, Trương Tải, Trình Hạo, Trình Di,
Chu Hy (thời Tống). Quá trình bổ sung và hoàn thiện Nho gia thời trung đại được
tiến hành theo hai xu hướng cơ bản:
Một là, hệ thống hóa kinh điển và chuẩn mực hóa các quan điểm triết học của
Nho gia theo mục đích ứng dụng vào đời sống xã hội, phục vụ lợi ích thống trị
của giai cấp phong kiến; vì thế Đổng Trọng Thư đã làm nghèo nàn đi nhiều giá trị
nhân bản và biện chứng của Nho gia cổ đại. Tính duy tâm thần bí của Nho gia
trong các quan điểm về xã hội cũng được đề cao. Tính khắc nghiệt một chiều
trong các quan hệ Tam cương, Ngũ thường thường được nhấn mạnh.
Hai là, hoàn thiện các quan điểm triết học về xã hội của Nho gia trên cơ sở bổ
sung bằng các quan điểm triết học của thuyết Âm Dương - Ngũ hành, những quan
niệm về bản thể của Đạo gia, tư tưởng về pháp trị của Pháp gia v.v. Vì vậy, có thể
nói: Nho gia thời trung đại là tập đại thành của tư tưởng Trung Hoa. Nho gia còn
có sự kết hợp với cả tư tưởng triết học ngoại lai là Phật giáo. Sự kết hợp các tư
tưởng triết học của Nho gia với những tư tưởng triết học ngoài Nho gia đã có
ngay từ thời Hán và ít nhiều có cội nguồn từ Mạnh Tử. Tuy nhiên, sự kết hợp đạt
tới mức nhuần nhuyễn và sâu sắc chỉ có dưới thời nhà Tống (960 - 1279).

Học thuyết chính trị - xã hội với cốt lõi là luận điểm "Vô vi". Vô vi không phải là
cái thụ động, bất động hay không hành động mà có nghĩa là hành động theo bản
tính tự nhiên của "Đạo".
c. Mặc gia
Phái Mặc gia do Mặc Tử, tức Mặc Địch (khoảng từ 479 -381 tr.CN) sáng lập thời
Xuân Thu. Sang thời Chiến Quốc dã phát triển thành phái Hậu Mặc. Đây là một
trong ba học thuyết lớn nhất đương thời (Nho - Đạo - Mặc).
Tư tưởng triết học trung tâm của Mặc gia thể hiện ở quan niệm về "Phi thiên
mệnh". Theo quan niệm này thì sự giàu, nghèo, thọ, yểu không phải là do định
mệnh của Trời mà là do người. Nếu người ta nỗ lực làm việc, tiết kiệm tiền của
thì ắt giàu có, tránh được nghèo đói. Đây là quan niệm khác với quan niệm Thiên
mệnh có tính chất thần bí của Nho giáo dòng Khổng - Mạnh.
Học thuyết "Tam biểu" của Mặc gia mang tính cách là một học thuyết về nhận
thức, có xu hướng duy vật và cảm giác luận, đề cao vai trò của kinh nghiệm, coi
đó là bằng chứng xác thực của nhận thức.
Thuyết "Kiêm ái" là một chủ thuyết chính trị - xã hội mang đậm tư tưởng tiểu
nông. Mặc Địch phản đối quan điểm của Khổng Tử về sự phân biệt thứ bậc, thân
sơ trong học thuyết "Nhân". Ông chủ trương mọi người yêu thương nhau, không
phân biệt thân sơ, đẳng cấp
Phái Hậu Mặc đã phát triển tư tưởng của Mặc gia sơ kỳ chủ yếu trên phương diện
nhận thức luận.
d. Pháp gia
Là một trường phái triết học lớn của Trung Hoa cổ đại, chủ trương dùng những
luật lệ, hình pháp của nhà nước là tiêu chuẩn để điều chỉnh hành vi đạo đức của
con người và củng cố chế độ chuyên chế thời Chiến quốc.
Là tiếng nói đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, đấu tranh kiên quyết chống lại tàn
dư của chế độ công xã gia trưởng truyền thống và tư tưởng bảo thủ, mê tín tôn
giáo đương thời.
Đại diện của phái Pháp gia là Hàn Phi Tử (280 - 233 tr. CN). Tư tưởng Pháp trị
của Hàn Phi Tử dựa trên những luận cứ triết học cơ bản sau:

pháp là nội dung của chính sách cai trị, thế và thuật là phương tiện để thực hiện
chính sách đó.
- "Pháp" là một phạm trù của triết học Trung Hoa cổ đại. Theo nghĩa hẹp, là quy
định, luật lệ có tính chất khuôn mẫu mà mọi người trong xã hội phải tuân thủ;
theo nghĩa rộng, pháp được coi là một thể chế, chế độ chính trị và xã hội. Vì vậy,
pháp được coi là tiêu chuẩn, căn cứ khách quan để định rõ danh phận, giúp cho
mọi người thấy rõ được bổn phận, trách nhiệm của mình.
- "Thế" là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể.
- "Thuật" cũng là chính danh, là phương sách trong thuật lãnh đạo của nhà vua
nhằm lấy danh mà tránh thực
1.2.5. Về khoa học tự nhiên
Cách ngày nay trên 4000 năm, khoa học tự nhiên của Trung Hoa đã có những
thành tựu rực rỡ:
* Thời cổ đại:
Thiên văn học:
Ra đời từ rất sớm và đạt được nhiều tiến bộ ở thời Xuân thu - Chiến quốc (770 –
221 TCN). Đó là sự ghi chép lại các lần nhật thực (37 lần trong vòng 242 năm
( nay đã chứng minh được 33 lần hoàn toàn chính xác)), các vì tinh tú ( 800 vì
tinh tú, trong đó có 120 vì tinh tú được xác định). Bảng ghi chép các hành tinh
của người Trung Hoa - “Cam Thạch Tinh” có từ thời Xuân Thu, được coi là bảng
ghi chép các vì sao xưa nhất thế giới.
Thế kỉ VII TCN, người Trung Hoa đã biết dung một cái “cọc” đứng để đo bóng
mặt trời (gọi là Thổ khuê), qua đó đã xác định được ngày hạ chí và đông chí, làm
cho cách tính lịch ngày càng chính xác.
Lịch:
Yêu cầu của hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho người Trung Hoa biết
làm lịch từ rất sớm. Đến đời Thương, họ đã phát minh ra lịch- âm lịch( lịch kết
hợp với vòng quay của mặt trăng xung quanh quả đất với vòng quay của quả đất
xung quanh mặt trời. Để tính năm, tháng, tháng thiếu, tháng đủ, họ lấy tuần trăng
tròn và trăng khuyết để tính.

Thời Chiến quốc ( cuối thời Đông Chu), Người Trung Hoa đã tìm ra nam châm
( từ thạch). Cửa ra vào của cung A Phòng của Tần Thủy Hoàng có gắn một thanh
nam châm rất lớn, ai mang vũ khí đi qua sẽ bị hút lại )
Đến thời Đường thì La bàn đã khá hoàn chỉnh ( phát hiện ra thêm tính chất sắt
nhiễm từ).
Thời Nguyên: La bàn đã hoàn chỉnh ( được Crixtop Colombo sử dụng ) sau đó
truyền bá sang châu Âu, và chính nhờ hệ thống La bàn này mà người châu Âu
mới thực hiện được những phát kiến địa lí.
Thuốc súng
Phát minh rất tình cờ, ngẫu nhiên. Người Trung Hoa quan niệm con người có thể
trưởng sinh bất tử. thời Nam Bắc triều có rất nhiều đạo sĩ tìm cách chế tạo thuốc
trường sinh bất tử ( từ diêm sinh, lưu huỳnh, than củi…, họ tình cờ để lửa bén vào
gây nổ ).
Đến thời Đường, thuốc nổ mới chỉ được sử dụng để làm pháo. Đến thời Tống mới
dùng để làm đạn lửa, cầu lửa.
Người châu Âu đã nhanh chống tiếp thu và sử dụng phát minh này của người
Trung Hoa một cách hữu hiệu để làm súng trường, hỏa mai…Thứ vũ khí này đã
góp phần phá vỡ nền tảng phonmg kiến ở châu Âu đẩy nhanh quan hệ TBCN (vì
chỉ có dùng thuốc nổ mới có thể phá được lâu đài của phong kiến. Thuốc súng
còn đóng vai trò quan trọng trong các cuộc phát kiến địa lí của châu Âu.
*Không kể bốn phát minh quan trọng, đóng góp cho nền văn minh nhân loại đã
nói ở trên, thời trung đại, trên cơ ở kế thừa những thành tựu rực rỡ của thời cổ đại,
Trung Hoa đã có những cống hiến xuất sắc cho nền văn minh của nhân loại ở các
lĩnh vực toán học, thiên văn học và y dược.
* Toán học
Từ thời hán truyền lại có quyển Cửu chương toán thuật trong đó nêu ra các
phương pháp tính ruộng tích ruộng đất theo các hình thức khác nhau, tính khối
lượng đất đắp thành đào hào, tính toán tiền khi mua bán gia súc, lương
thực….Trong khi tính toán các vấn đề nói trên, sách này đã đề cập đến một số mặt
của đại số học, như phương pháp giải phương trình bậc một có chứa nhiều ẩn số

Đến thời Minh nhà Y học nổi tiếng là Lý Thời Trân. Tác phẩm Bản thảo cương
mục của ông là một quyển sách thuốc rất có giá trị tác phẩm giới thiệu 1.558 vị
thuốc do người đời trước tìm ra, và them vào 374 viên thuốc mới. Tác giả đã phan
loại một cách khoa học, đặt tên, giới thiệu tính chất, công dụng và vẽ hình các cây
thuốc đó. Vì thế, sách này không chỉ là một tác phẩm dược học có giá trị mà còn
là một tác phẩm thực vật học quan trọng. Sự ra đời của quyển Bản thảo cương
mục đã đẩy ngành y dược của Trung Hoa phát triển trên một bước rất lớn
.1.2.6. Về nghệ thuật.
Hai lĩnh vực đạt nhiều thành tựu là kiến trúc và hội hoạ
1.2.6.1. Kiến trúc
Những công trình kiến trúc của Trung Hoa cổ trung đại có những đặc điểm :
- Sử dụng nhiều nguyên vật liệu khác nhau và chủ yếu là vật liệu bằng gỗ
- Kiến trúc bao giờ cũng có nhiều mái, thường theo lối mái cong.
- Từng quần thể kiến trúc có hình thức độc đáo .
- Hình tượng kiến trúc và trang trí kiến trúc đại để, rung động lòng người.
- Phong cách dân tộc và phong cách địa phương muôn màu muôn sắc.
- Bố cục đạt tính nghiêm chỉnh và linh hoạt
- Phong cách độc đáo và trình độ nghệ thuật cao
- Kĩ thuật thi công và phương pháp thiết kế tiên tiến của thời cổ đại
- Gắn liền với kiến trúc là điêu khắc. trên các công trình kiến trúc có nhiều tác
phẩm điêu khắc
- Nhìn chung thời Tần Hán, thời Ngụy Tấn, Nam – Bắc triều, thời Đường, Thời
Tống và thời Minh Thanh là những thời kì có nhiều công trinh kiến trúc tiêu biểu
nhất
* Những công trình kiến trúc tiêu biểu
+ Vạn lí trường thành: do 3 nước Tần, Yên, Triệu thời Chiến quốc xây dựng nhằm
ngăn chặn thời hung Nô từ phương Bắc tràn xuống. Khi Tần Thuỷ Hoàng thống
nhất Trung Hoa đã cho nổ 3 đoạn thành lại dài hơn 5000 km, cao từ 6- 12m rộng
5- 10m, cứ 360 m có một tháp canh.
+ Cố đô Bắc Kinh (Tử Cấm Thành ): Xây dựng khoảng 1406- 1420 ( đời vua

Trong suốt 3500 phát triển, nền văn hóa vĩ đại của Trung Hoa đã có nhiều lần
vượt lên trên nền văn hóa các nước khác. Chính người Trung Hoa đã cống hiến
cho nhân loại cách sản xuất ra giấy, kĩ thuật in ấn, chế ra thuốc nổ và la bàn.
Xuyên suốt lịch sử phát triển văn hóa Trung Hoa là khát vọng trường kì hoàn
thiện tư duy của nhân loại. Nhà nước xuất hiện sớm cùng với những thành tựu lớn
lao của nền văn hóa, văn hóa Trung Hoa thời cổ trung đại đã làm cho Trung Hoa
trở thành một trung tâm văn hóa quan trọng trên thế giới, có ảnh hưởng rất lớn
đến khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á (Việt Nam)Từ cuối thế kỉ XII đến thế
kỉ XIII La bàn được truyền sang A Rập,từ đó sang Châu Âu và đã đóng góp rất
nhiều cho nghành hàng hải thế giới.
Sau thế kỉ VI kĩ thuật làm giấy của Trung Hoa được truyền sangTriều Tiên,Việt
Nam và Nhật Bản. Đến thế kỉ VIII, phương pháp này qua Thổ Nhĩ Kì truyền vào
A Rập, sau đó được truyền sang châu Âu.
Kĩ thuật in ấn của Trug Hoa cũng dần được truyền sang các nước láng giềng như
Triều Tiên, Nhật Bản sau đó truyền sang A Rập và Châu Âu.
Vào thế kỉ XIII thuôc súng và vã khí mang thuốc súng của Trung Hoa đã lần lượt
đưa vào Ấn Độ, A Rập và vào cuối thế kỉ XIII, đầu thế kỉ XIV được truỳên sang
châu Âu.
Ngoài bốn phát minh trên một số thành tựu khoa học kĩ thuật khác của Trung Hoa
cũng có ảnh hưởng nhất định đối với văn minh nhân loại. Thuật luyện đơn (bào
chế thuốc) của Trung Hoa sau khi truyền vào A Rập, đã góp phần thúc đẩy kĩ
thuật chế biến thuốc của nước này phát triển, sau đó kĩ thuật chế biến thuốc của
Châu Âu lại chịu ảnh hưởng của A Rập và nền khoa học hiện đại sau này chính là
được phát triển trên cơ sở kĩ thuật chế biến thuốc ở Châu Âu thời Trung Cổ.
Đồ sứ tinh sảo của Trung Hoa từ lâu đã nổi tiếng trên thế giới. Vào nửa cuối thế
kỉ XV, kĩ thuật làm đồ sứ của Trung Hoa đã được truyền sang Italia, mở ra một kỉ
nguyên mớ cho lịch sử ché tạo đồ sứ của Châu Âu và còn ảnh hưởng cho tới ngày
nay.
Nền văn học rực rỡ và đồ sộ của Trung Hoa cũng ảnh hưởng rất lớn đến thế giới
những tác phẩm văn học nổi tiếng ( Tam quóc diễn nghĩa, Tây du kí, Hồng lâu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status