BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THUỶ SẢN
BƯỚC ĐẦU THỬ NGHIỆM KỸ THUẬT ƯƠNG NUÔI VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH
HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN, MẬT ĐỘ ĐẾN TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG ZOEA CUA
XANH
Scylla paramamosain (Estampador, 1949) Luận văn tốt nghiệp
Chuyên ngành Nuôi trồng Thủy sản, khoá 2001 – 2006
Nha Trang, tháng 11 năm 2005
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN VIỆT HÙNG 3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: TỔNG LUẬN 3
1. Một vài nét về đối tượng nghiên cứu và tình hình sản xuất giống nhân
tạo cua Xanh 3
1.1. Đối tượng nghiên cứu 3
1.2. Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cua Xanh 8
2. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của
cua Xanh 11
3. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độương nuôi đến tỷ lệ
sống của cua Xanh 13
PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
1. Đối tượng, đòa điểm và thời gian nghiên cứu 15
1.1. Đối tượng 15
1.2. Đòa điểm 15
1.3. Thời gian 15
2. Phương pháp nghiên cứu 15
2.1. Thiết bò và dụng cụ 15
2.2. Nguồn nước 15
2.3. Dụng cụ và phương pháp xác đònh các yếu tố môi trường 16
2.4. Phương pháp xác đònh mật độ tảo, Luân trùng, Artemia 16
2.5. Theo dõi thí nghiệm 16
3. Bố trí thí nghiệm 16
3.1. Thử nghiệm kỹ thuật ương nuôi ấu trùng Zoea cua Xanh 16
3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của
5
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1: Các chỉ tiêu hình thái bên ngoài để căn cứ phân loại các giai
đoạn ấu trùng Zoea 7
Bảng 2: Các yếu tố môi trường trong bể ương 21
Bảng 3: Tỷ lệ sống của ấu trùng ở các bể ương 24
Bảng 4: Thời gian lột xác chuyển giai đoạn của ấu trùng ở các bể ương 24
Bảng 5: Một số yếu tố môi trường trong các xô thí nghiệm 26
Bảng 6: Tỷ lệ sống của ấu trùng Zoae ở các độ mặn khác nhau 27
Bảng 7: Thời gian lột xác chuyển giai đoạn của ấu trùng Zoea ở các độ
mặn khác nhau 29 29
Bảng 8: Tỷ lệ sống của ấu trùng Zoea ở các mật độ khác nhau 31 6
chú ý đối với nghề nuôi là cua Biển (Scylla sp). Với những ưu điểm nổi bật như: thích
nghi rộng muối, sinh trưởng nhanh, thòt thơm ngon, giá trò kinh tế cao, cua biển đã và
đang trở thành đối tượng nuôi hấp dẫn ở nhiều đòa phương trong cả nước như: Quảng
Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Cà Mau…
Ở Việt Nam cua biển phân bố ở hầu khắp các vùng biển ven bờ từ Móng Cái
đến Mũi Cà Mau. Nước ta với 445.000ha diện tích mặt nước ven biển và trên 370.000ha
mặt nước nằm trong vùng sinh thái rừng ngập mặn có khả năng đưa vào nuôi trồng thủy
sản nói chung và nghề nuôi cua biển nói riêng. Trong những năm qua nghề nuôi cua tuy
có những bước tiến đáng kể nhưng so với một số đối tượng nuôi khác vẫn còn nhiều hạn
chế. Nguyên nhân là do chưa đáp ứng đủ nhu cầu về con giống, nguồn giống hầu hết
được lấy ngoài tự nhiên. Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu sản xuất giống
nhân tạo cua biển nhưng hiệu quả vẫn chưa cao, tỷ lệ sống ở giai đoạn ấu trùng vẫn còn
thấp.
Để góp phần hoàn thiện quy trình ương nuôi ấu trùng cua biển đồng thời bước
đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, xử lý số liệu, áp dụng những kiến
thức đã học vào thực tiễn sản xuất. Trường Đại học Thủy Sản-Khoa Nuôi Trồng Thủy
Sản đã cho phép tôi thực hiện đề tài:
“ Bước đầu thử nghiệm kỹ thuật ương nuôi và nghiên cứu ảnh hưởng của
độ mặn, mật độ đến tỷ lệ sống của ấu trùng Zoea cua Xanh Sylla paramamosain
(Estampador, 1949)”.
Đề tài được thực hiện với các nội dung sau:
1. Bước đầu thử nghiệm kỹ thuật ương nuôi ấu trùng Zoea cua Xanh
8
2. Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của ấu trùng Zoea cua
Xanh
3. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương nuôi đến tỷ lệ sống của ấu trùng
Zoea cua Xanh.
Bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, những vấn đề nghiên
cứu còn mới mẻ, tài liệu tham khảo còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót.
1.1.1. Vò trí phân loại
Ở Việt Nam cua Xanh phân bố rất rộng tuỳ theo từng đòa phương mà người ta
gọi tên khác nhau như: cua Xanh, cua Biển, cua Bùn, cua Chuối, cua Lửa, cua Sú… Khi
thu mẫu ở đồng bằng châu thổ sông Mêkong, Dr. Clive P.keenan kết luận: loài cua
Xanh sống ở khu vực sông Mêkong là loài Scylla paramamosain. Dựa vào bảng tra phân
loại của Dr. Clive P.keenan và cộng sự, Nguyễn Cơ Thạch và ctv cho rằng: ở Miền
Trung Việt Nam có thể có ba loài cua Xanh: S. paramamosain; S. olivacea; S.
tranquebarica, nhưng phổ biến là loài S. paramamosain (chiếm 98% trong tổng số mẫu
thu được) [ 2 ].
Hệ thống phân loại của đối tượng nghiên cứu trong đề tài này như sau:
Ngành :Arthropoda
Lớp: Crustacea
Lớp phụ: Nalacostraca
Bộ: Decapoda
Họ: Portunidae
Giống: Scylla
Loài: Scylla paramamosain (Estampador, 1949) [2]
1.1.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo
Cua Xanh có tên tiếng Anh là Mud-crab, Green crab hay Mangrove crab. Cua
có kích thước tương đối lớn, toàn bộ cơ thể được bao bọc trong lớp vỏ kitin dày và có
màu xanh lục hay vàng sẫm. Cơ thể cua dẹp theo hướng lưng bụng và chia thành hai
10
phần. Phần đầu ngực lớn nằm trong giáp đầu ngực (mai cua), phần bụng nhỏ và gập lại
dưới giáp đầu ngực (yếm cua) [ 3 ].
- Phần đầu ngực [ 2,3 ]
Phần đầu và phần ngực của cua dính liền nhau, ranh giới giữa các đốt không rõ
ràng. Căn cứ vào phần phụ mang trên đó mà người ta biết được số đốt tạo thành.
+ Đầu: Gồm 5 đốt mang mắt, anten và các phần phụ miệng.
+ Ngực: Gồm 8 đốt mang các đôi chân hàm và chân bò.
bụi rậm, đồng thời với việc chuyển từ đời sống trong môi trường nước mặn sang nước lợ
ở rừng ngập mặn, vùng cửa sông hay cả vùng nước ngọt trong quá trình lớn lên.
- Cua lớn lên đến giai đoạn thành thục có tập tính di cư ra vùng nước có độ
mặn cao và ổn đònh hơn (30÷35‰) để sinh sản.
1.1.3.2. Tính ăn
Tính ăn của cua thay đổi tuỳ theo từng giai đoạn phát triển.
- Giai đoạn ấu trùng ăn tảo khuê, giun, ấu trùng giáp xác và nhuyễn thể.
- Từ giai đoạn cua con trở đi thì cua là loài ăn tạp như: rong, tảo, giáp xác,
nhuyễn thể, cá hay cả xác chết động vật. Cua con CW:2÷7cm chủ yếu ăn giáp xác, cua
CW:7÷13cm ăn nhiều bọn hai mảnh vỏ và động vật chân bụng, cua lớn hơn thường ăn
cua con và cá (Jayamane, 1991) [3, 9].
1.1.3.2 . Kích thước thành thục
Theo Ong K. S (1964÷1966) cua biển thành thục ở 5 tháng tuổi ứng với chiều
rộng giáp đầu ngực là 11,42cm. Ở Việt Nam theo Nguyễn Cơ Thạch và ctv (2000) hầu
như toàn bộ cá thể có chiều rộng giáp đầu ngực CW≥10cm, tương ứng với trọng lượng
trung bình toàn thân Wtb≥267g đều thành thục và có khả năng tham gia sinh sản [2].
12
1.1.3.4. Di cư sinh sản
Cua Xanh sống, sinh trưởng và phát triển ở vùng cửa sông, rừng ngập mặn, nơi
có độ mặn dao động từ 5÷20‰. Khi cá thể trưởng thành đạt kích thước thành thục
chúng có xu hướng kết đàn di cư ra ven biển, vùng cửa sông nơi có độ mặn cao và ổn
đònh (30÷35‰) để giao vó và sinh sản [2].
Mùa di cư có sự khác nhau tuỳ theo từng nơi: Ở vùng biển phía Nam nước ta
cua thường bắt đầu di cư vào tháng 7, 8 và mùa sinh sản chính bắt đầu từ tháng 10 đến
tháng 1÷2 năm sau. Tuy vậy cũng có thể bắt gặp cua ôm trứng sớm hơn vào tháng 7÷ 8.
Ở vùng biển phía Bắc cua thường di cư sớm hơn, thường gặp cua ôm trứng nhiều vào
các tháng 4÷7 [3].
1.1.3.5. Sinh trưởng của cua Xanh
Tuổi thọ của cua trung bình từ 2÷4 năm, qua mỗi lần lột xác trọng lượng của
Zoea 2 Zoea 3 Zoea 4 Zoea 5
Đôi mắt kép màu đen, chưa có cuống mắt.
Kết thúc giai đoạn Zoea 1 từ 5÷6 ngày.
Giống như Zoea 1 nhưng khác nhau về kích
thước. Kết thúc giai đoạn Zoea 2 từ 4÷5 ngày.
Mắt đã lớn hơn, đã hình thành cuống mắt
nhưng chưa phân đốt, chưa có mầm chân bụng
Kết thúc giai đoạn Zoea 3 từ 3÷4 ngày.
Hình thành mầm chân bụng, cuống mắt đã
phân đốt. Kết thúc giai đoạn Zoea 4 từ 3÷4 ngày
Chân bụng phát triển chẻ đôi thành hai, mép
có lông tơ. Kết thúc giai đoạn Zoea 5 từ 3÷4
ngày.
1,25
1,53 1,93
o
C, độ
mặn 25÷30‰ và pH 7.0÷8.5 được coi là những điều kiện thích hợp để ương nuôi ấu
trùng cua Xanh (Cheng, H.C.; Zeng, K.H., 1980) [1, 2].
Năm 1983, Heasman, M.P. và Feilder, D.R. đã tiến hành cho đẻ ở phòng thí
nghiệm và nuôi đại trà cua Xanh từ giai đoạn Zoea đến cua bột, tác giả cho rằng cần
duy trì chất lượng nước bằng hệ thống lọc nước tuần hoàn, các điều kiện nhiệt độ nước
27
o
C, độ mặn 32‰, mật độ thức ăn (Nauplius của Artemia) từ 5÷30 con/lít được coi là
điều kiện thích hợp cho ương nuôi ấu trùng. Với các điều kiện như trên thì thời gian
chuyển giai đoạn từ giai đoạn Zoea đến cua bột là 30 ngày. Tỷ lệ sống của cua bột là
1÷4% [1, 2].
Ở Australia công trình sản xuất giống nhân tạo đầu tiên loài S. serrata
Queenland Department of Industries (DPI) tại vònh Deception (Anon, 1986; Gorland,
1988) cho thấy sự lột xác từ Zoea 5 sang Megalops là một chuyển biến đặc biệt quan
trọng, thường có tỷ lệ hao hụt cao. Dinh dưỡng không đầy đủ được xem là nguyên nhân
của tình trạng này. Các chuyên gia của DPI đã thành công trong việc hạ thấp tỷ lệ chết
15
từ 90% xuống dưới 50% trong ba ngày đầu sau khi nở và cũng đã sản xuất được cua bột
(Potter, M.Perscomm), tỷ lệ sống đến giai đoạn cua bột thấp từ 1÷2% [8].
Trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về vòng đời, các đặc tính sinh
lý, sinh hoá, kó thuật sinh sản nhân tạo, sự tác động của các yếu tố môi trường như: nhiệt
độ, độ mặn… đến sinh trưởng của cua biển. Tuy nhiên những mô tả đó có tính chất khái
quát, để áp dụng vào sản xuất đòi hỏi phải có những nghiên cứu cụ thể, chi tiết, phù hợp
với từng điều kiện sinh thái của từng vùng đòa lý và từng thủy vực (Nguyễn Cơ Thạch
và ctv, 2000).
1.2.2 . Ở Việt Nam
Nước ta có nguồn lợi cua biển phong phú, những năm gần đây do nhu cầu tiêu