chất lượng dịch vụ lưu trú dành cho khách tây ba lô – nghiên cứu trên đường phạm ngũ lão, phường phạm ngũ lão, tp. hồ chí minh - Pdf 23

KHOA DU LỊCH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: Chất lượng dịch vụ lưu trú dành cho khách Tây ba lô –
Nghiên cứu trên đường Phạm Ngũ Lão, phường Phạm Ngũ Lão,
TP. Hồ Chí Minh
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thanh Trang
Sinh viên: Nguyễn Thị Hồng Đào
MSSV: D104277
Lớp: K16D01
Năm học 2013 – 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và tiến hành hoàn thành đề tài khóa luận em đã gặp
rất nhiều khó khăn và những bất lợi chưa từng đối mặt qua, không có bất kỳ thành
công nào không phải trải qua thử thách nên những khó khăn gặp phải trong thời gian
thực hiện cũng chính là những bài học quý báu giúp em vững vàng hơn trong cuộc
sống và trong công việc tương lai, đây cũng sẽ là những trải nghiệm thú vị không gì
có thể so sánh được. Tất cả những kết quả em đạt được ngày hôm nay, bên cạnh việc
nổ lực của bản thân em cũng đã nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình từ thầy cô, bạn bè và
gia đình. Em xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến thầy cô Khoa Du Lịch - Trường đại
học Dân lập Văn Lang đã truyền đạt vốn tri thức quý báu cho chúng em trong suốt
thời gian học tập trên ghế giảng đường, đặc biệt trong học kỳ này đã tạo điều kiện để
em thực hiện đề tài khóa luận cho chương trình tốt nghiệp của mình.
Em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến Ths. Nguyễn Thanh Trang – giảng
viên hướng dẫn cho đề tài khóa luận, em cảm ơn cô đã nhiệt tình hướng dẫn em qua
từng buổi làm việc, thảo luận về định hướng phát triển của đề tài; những lời khuyên
của cô đã giúp em rất lớn trong việc hoàn thiện nội dung bài thu hoạch, nếu không có
những lời góp ý từ cô em nghĩ rằng khóa luận này khó có thể hoàn thành được. Một
lần nữa em xin chân thành cám ơn cô. Bên cạnh đó em cũng xin cảm ơn gia đình, bạn
bè, những người đã hỗ trợ từ vật chất đến tinh thần, luôn bên cạnh an ủi, động viên và
tiếp sức cho em trong suốt thời gian làm việc.
Đây là lần đầu tiên thực hiện nghiên cứu khoa học một cách độc lập, kiến thức

4
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Xu thế hội nhập đang lan tỏa khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam nói riêng và
các quốc gia trên thế giới nói chung. Hội nhập khiến con người xích lại gần nhau hơn
bất chấp sự bất đồng về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán…con người luôn
muốn tìm kiếm, khám phá những điều mới lạ; theo đó du lịch chính là hình thức đáp
ứng và giải tỏa những nhu cầu này một cách hiệu quả nhất, chính những yếu tố này đã
tạo điều kiện thuận lợi cho ngành kinh doanh du lịch phát triển.
Du lịch phát triển kéo theo sự phát triển của các dịch vụ đi kèm như giao thông,
ẩm thực, vui chơi giải trí…và lưu trú được xem là yếu tố quan trọng không thể thiếu
trong hoạt động du lịch cũng ngày càng được đầu tư một cách kỹ lưỡng hơn. Những
yêu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ đang thôi thúc những nhà kinh doanh
không ngừng tìm hiểu và nâng cao chất lượng sản phẩm. Phục vụ khách hàng là điều
vô cùng khó khăn đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ, du lịch là một ngành dịch vụ khá
đặc trưng nên ngoài trình độ còn đòi hỏi sự linh hoạt và chính xác.
Đối tượng khách hàng được phân thành nhiều thị phần nhằm giúp doanh nghiệp
chủ động trong việc đặt ra mục tiêu và định hướng của mình một cách rõ ràng nhất.
Không chỉ có những khu vực sang trọng tập trung những khách sạn cao cấp như New
World, Cravell, Renaissance Riverside,…Khu Tây ba lô cũng được xem là một trong
khu đặc trưng khá thú vị của du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh, là khu tự phát nhưng
lại có mặt trên hầu hết các loại sách hướng dẫn dành cho khách du lịch, nên từ lâu
phường Phạm Ngũ Lão đã nghiễm nhiên trở thành đặc khu dành cho nhóm khách du
lịch đặc biệt này. Theo thống kê của các cơ quan chức năng thì hàng ngày có khoảng
hơn 5000 lượt khách đến với khu vực để lưu trú, hoạt động và đặc khu này cũng đang
nằm trong tầm ngắm cho các chính sách phát triển du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh.
Để có thể nắm rõ hơn cách nhận định của nhóm khách Tây ba lô về dịch vụ lưu
trú trên đường Phạm Ngũ Lão, đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu đánh giá chất lượng dịch
vụ của những khách sạn nằm trên đường Phạm Ngũ Lão mà khách hàng đã và đang
5

- Phân tích dữ liệu và ứng dụng mô hình SERVQUAL làm cơ sở để đánh giá
chất lượng dịch vụ lưu trú.
Hạn chế của đề tài:
Thời gian thực hiện đề tài có hạn nên chưa tìm hiểu sâu thực sự về tình trạng
kinh doanh, bên cạnh đó việc nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở con đường Phạm Ngũ
Lão nên chưa thật sự phản ánh được gì nhiều những hiện trạng trên toàn khu vực Tây
ba lô. Trên thực tế còn rất nhiều điều thú vị và những vấn đề nảy sinh khác mà nếu chỉ
tìm hiểu trên một con đường thì khó có thể có cái nhìn bao quát.
7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Khái niệm về dịch vụ du lịch:
1. Dịch vụ:
Theo nguồn Wikipedia có định nghĩa như sau
1
:
Trong kinh tế học dịch vụ được hiểu như là hàng hóa nhưng mang tính phi vật
chất. Có những sản phẩm hữu hình và những sản phẩm là dịch vụ, tuy nhiên đa số vẫn
là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa-dịch vụ.
Đặc điểm:
- Tính đồng thời (Simultaneity): sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra cùng lúc tại
cùng thời điểm;
- Tính không thể tách rời (Inseparability): sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không
thể tách rời, không có người tiêu dùng sẽ không có hoạt động sản xuất và
ngược lại;
- Tính không đồng nhất (Variability): dịch vụ là hình thái sản phẩm vô hình, vì
vậy không có chất lượng đồng nhất cho mỗi lần cung cấp sản phẩm cho khách
hàng;
- Tính vô hình (Intangibility): không có hình hài rõ rệt, không thể nhìn thấy và
nhận xét trước khi tiêu dùng;
- Không lưu trữ được (Perishability): không lập kho để lưu trữ như hàng hóa hữu

với địa điểm hay quốc gia mà mình có trú quán thường xuyên, với lý do không
phải để làm một công việc để kiếm sống”… Điều 10 Pháp lệnh du lịch ngày 8-
2-1999 quy định: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường
xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong
một khoảng thời gian nhất định”.
- Các học viện đã tranh luận về những định nghĩa của du lịch trong nhiều thập
kỷ, cho đến năm 1991 thì Tổ chức Du lịch Thế giới thống nhất phát biểu sau:
“Du lịch bao gồm những hoạt động của con người, di chuyển đến và ở lại
những nơi ngoài môi trường quen thuộc của họ ít hơn một năm liên tục để giải
trí, công vụ và những mục đích khác”
4
.
3 Phan Đăng Thanh-Trương Thị Hòa (tháng 11-1999), Pháp Luật Du Lịch, NXB Trẻ.
4 ThS. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh (2011), Marketing Căn Bản (tài liệu lưu hành nội bộ).
9
4. Kinh doanh dịch vụ lưu trú:
Là kinh doanh dưới hình thức khách sạn, motel, làng du lịch, biệt thự, bungalow.
Thường dịch vụ lưu trú kết hợp với dịch vụ nhà hàng, phục vụ ăn uống
5
.
Các loại cơ sở lưu trú du lịch bao gồm:
• Khách sạn;
• Làng du lịch;
• Biệt thự du lịch;
• Căn hộ du lịch;
• Bãi cắm trại du lịch;
• Nhà nghỉ du lịch;
• Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê;
• Các cơ sở lưu trú du lịch khác.
5. Khách du lịch:

loại khách này thông qua một vài điểm thú vị như thích sử dụng những dịch vụ giá rẻ,
thức ăn đường phố với giá bình dân, hay tụ tập ở những quán vỉa hè về đêm,…
Về bản chất, đây là một hình thức du lịch khá phổ biến vì giá cả rẻ và khách
tham quan có thể thăm thú nhiều nơi cùng sự giúp đỡ thuận lợi đến từ người dân bản
địa. Thành phần xã hội trong nhóm khách Tây ba lô rất phong phú và đa dạng, khách
du lịch ba-lô phần lớn là thanh niên, sinh viên, công chức, những người thất nghiệp,…
kết hợp du lịch để làm thêm và cả những người có sở thích du lịch nhưng chi tiêu tiết
kiệm.
II. Cơ sở lý luận “Mô hình năm khoảng cách trong chất lượng dịch vụ”:
Khách du lịch đến từ rất nhiều quốc gia, lãnh thổ, vùng miền trên thế giới với
những tập tục, nghề nghiệp đa dạng, vì vậy tâm lý của họ thường rất phức tạp, có thể
rất vui vẻ hòa đồng, nhưng cũng có thể có những đòi hỏi khắc khe,…để tìm hiểu về
tâm lý của khách hàng phải có những kiến thức căn bản nhất định, các nhà quản lý cần
có quá trình tìm hiểu nhu cầu của khách hàng để có thể nắm vững tâm lý của họ, đồng
thời lên kế hoạch thiết kế sản phẩm dịch vụ phù hợp nhất với nhóm khách hàng mục
tiêu của doanh nghiệp.
11
Thực tế hiện nay có rất nhiều quan điểm về đánh giá chất lượng dịch vụ, mỗi
một ý kiến nhận định đều có những lập luận và cơ sở riêng, cần dựa vào tình hình thực
tế và ngành nghề mới có thể lựa chọn được cơ sở lý luận phù hợp.
Nội dung nghiên cứu của đề tài: Dựa vào nhu cầu của khách Tây ba lô để đánh
giá chất lượng dịch vụ lưu trú trên đường Phạm Ngũ Lão, vì vậy hệ thống cơ sở lý
thuyết được sử dụng sẽ tập trung vào mô tả hệ thống nhu cầu cơ bản của khách hàng
và cơ sở nền tảng cho việc đánh giá một dịch vụ, trong quá trình tìm hiểu tài liệu liên
quan, tác giả quyết định lựa chọn Mô hình năm khoảng cách trong chất lượng dịch
vụ của Parasuman làm cơ sở lý thuyết nghiên cứu cho đề tài, nội dung cụ thể như
sau:
Đánh giá chất lượng của sản phẩm dịch vụ cần dựa vào rất nhiều yếu tố từ môi
trường bên trong lẫn bên ngoài, điều đó đòi hỏi phải xác định rõ những điều kiện nào
thật sự cần thiết cho nghiên cứu, để tránh việc rơi vào tình trạng lệch hướng, người

KHÁCH HÀNG
NHÀ CUNG ỨNG
Khoảng cách 5
Khoảng cách 3
Khoảng cách 2
Khoảng cách 1
Khoảng cách 4
Mô hình 5 khoảng cách trong chất lượng dịch vụ
Khi chất lượng mong đợi và chất lượng đạt được không trùng nhau thì khi đó
xuất hiện khoảng cách. Có 5 khoảng cách khiến chất lượng không được đảm bảo, cụ
thể gồm:
- Khoảng cách 1: Sự khác biệt giữa dịch vụ khách hàng mong đợi và những
hiểu biết của những nhà quản lý về sự mong đợi đó.
13
- Khoảng cách 2: Sự khác biệt giữa hiểu biết của nhà quản lý về sự mong đợi
của khách hàng với các đặc tính chi tiết về chất lượng dịch vụ của doanh
nghiệp.
- Khoảng cách 3: Sự khác biệt giữa các đặc tính chi tiết về chất lượng dịch vụ
nhận biết được với quá trình thực tế phân phối tới khách hàng.
- Khoảng cách 4: Sự khác biệt giữa dịch vụ thực tế phân phối và cung cấp với
những thông tin mà khách hàng nhận được qua hoạt động truyền thông về dịch
vụ đó.
- Khoảng cách 5: Sự khác biệt giữa dịch vụ mong đợi và dịch vụ thực tế khách
hàng nhận được.
Bốn sự khác biệt đầu tiên là những thành phần chính về khoảng cách chất lượng
dịch vụ mà khách hàng có thể cảm nhận được. Sự khác biệt thứ năm là một định nghĩa
cơ bản theo hướng của khách hàng về chất lượng dịch vụ : sự khác biệt giữa kỳ vọng
của khách hàng về một dịch vụ mà theo họ là tốt nhất đồng thời thể hiện nhận thức
của họ về các dịch vụ thực tế. Sự khác biệt này là nền tảng cơ bản về công cụ
SERVQUAL. Khoảng cách khác biệt càng nhỏ, chất lượng dịch vụ đưa ra cang tốt, vì

vào 4 thành phần là độ tin cậy, năng lực phục vụ, mức độ đáo ứng và phương tiện hứu
hình.
Trong nội dung của các biến quan sát mô tả dựa theo nội dung của 5 thành phần
chất lượng dịch vụ vẫn có sự khác biệt nhất định trong khi nghiên cứu giữa các ngành.
Đối với ngành này có thể đây là biến quan sát tốt nhưng đối với ngành khác thì hoàn
toàn không phù hợp. Trên thực tế rất khó để đưa ra một chuẩn mực cụ thể về thang đo
dịch vụ cho doanh nghiệp, cần có sự linh hoạt từ những nhà nghiên cứu để có thể đưa
ra những kiểm định chinh xác. Vì vậy, cách tiếp cận để cải tiến và đo lường chất lượng
dịch vụ không nhất thiết phải đi theo mô hình đối với dịch vụ thuần túy mà phải phụ
thuộc vào dịch vụ đang kinh doanh. Khi áp dụng mô hình thang đo của Parasuman
trong môi trường kinh doanh, nghiên cứu cụ thể cần phải rất thận trọng vì một vài yếu
tố có thể không giống với quy luật chung.
15
Khách hàng là nhân tố quan trọng, quyết định đến sự thành công của doanh
nghiệp, không có khách hàng doanh nghiệp không thể tồn tại. Vì vậy để nắm rõ nhu
cầu của khách hàng cần có cơ sở nghiên cứu cụ thể để từ đó xây dựng sản phẩm phục
vụ khách hàng một cách chất lượng và hiệu quả nhất.
Hiện nay có rất nhiều cơ sở lý luận khác nhau, trong phần 1 ngoài việc trình bày
một vài khái niệm có liên quan còn mô tả về hai mô hình thông dụng nhất trong đánh
giá chất lượng dịch vụ thông qua những hiểu biết về nhu cầu của khách hàng. Việc kết
hợp hai mô hình này sẽ tạo nền tảng ban đầu cho quá trình nghiên cứu, tìm hiểu tâm lý
của khách (Tây ba lô) thông qua mô hình Maslow và kết hợp mô hình 5 khoảng cách
trong dịch vụ - cụ thể là dịch vụ lưu trú, từ đó sẽ phần nào phản ánh được sự chênh
lệch giữa chất lượng sản phẩm dịch vụ mà khách hàng thực sự nhận được với những
kỳ vọng mà khách mong muốn đối với dịch vụ lưu trú khi du lịch.
Từ những cơ sở lý luận được đưa ra trong phần 1 sẽ tạo nền tảng tiếp tục hoàn
thành nhiệm vụ của phần 2 là tập trung phân tích tình hình kinh doanh và đưa ra
những con số khảo sát cụ thể. Vận dụng cơ sở lý thuyết để mô tả mặt tích cực và
những điểm chưa được hoàn thiện của hệ thống dịch vụ lưu trú trên đường Phạm Ngũ
Lão thông qua mô hình 5 khoảng cách trong dịch vụ.

 Gửi bảng khảo sát tại những khách sạn (chủ yếu là những khách sạn nằm
trong hẻm) trên đường Phạm Ngũ Lão.
 Phát bảng khảo sát trực tiếp cho khách ở công viên 23/9.
- Thời gian: bắt đầu từ ngày 1/4/2014 đến ngày 11/4/2014
- Số lượng phát đi: 170 bảng.
 Khách sạn: 50 bảng.
 Trực tiếp: 120 bảng.
- Số lượng thu về: 120 bảng.
 Khách sạn: 0 bảng.
 Trực tiếp: 120 bảng.
- Số lượng hợp lệ: 105 bảng trong đó những bảng không hợp lệ là những bảng
không hoàn thành một trong những nội dung bắt buộc được đưa ra khảo sát bao
gồm: 4 câu hỏi trắc nghiệm, 1 câu hỏi sắp xếp và 2 bảng lựa chọn mức độ.
1.2. Phỏng vấn:
Chủ khách sạn và nhân viên làm việc tại khách sạn. Để có thể phỏng vấn được
những khách sạn trong khu vực Phạm Ngũ Lão tác giả đã tiến hành liên hệ và hẹn lịch
trước 1 tháng.
- Số lượng liên hệ: 10 khách sạn.
- Số lượng đồng ý: 3 khách sạn.
- Số lượng phỏng vấn thành công: 2 khách sạn.
- Số lượng nhân viên phỏng vấn thành công: 4 người.
Những trường hợp phỏng vấn được xem là thành công: không bị gián đoạn trong
quá trình phỏng vấn, người phỏng vấn lấy được những thông tin mong muốn.
3. Khó khăn và thuận lợi:
3.1. Khó khăn:
Khi khảo sát và phỏng vấn được thực hiện đã phát sinh rất nhiều khó khăn và trở
ngại tác giả chưa tính trước, những trở ngại này ảnh hưởng nhiều đến tiến độ cũng
như kế hoạch đã đặt ra:
- Với đối tượng phỏng vấn là những chủ khách sạn, quá trình liên hệ gặp rất
nhiều khó khăn, vì lý do cá nhân và ngại phiền phức nên những khách sạn đều

(guidebook) là một trong những khu vực đặc sắc và nổi bật, nên thử trải nghiệm khi
đến với thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm Ngũ Lão là khu vực được tạo thành từ 3 trục đường chính là Phạm Ngũ
Lão, Bùi Viện, Đề Thám và một vài khu vực khác thuộc quận 1; diện tích chưa đến
nửa km
2
(0.499 km
2
) có tổng dân số chỉ vỏn vẹn 21.324 người (Tổng cục dân số Việt
Nam) nhưng vì lưu lượng khách du lịch ra vào thường xuyên nên có mật độ dân số
cao hơn hẳn (42.733 người/km
2
). Tại đây tập trung rất nhiều những cơ sở dịch vụ du
lịch như nhà hàng, khách sạn, cửa hàng đồ lưu niệm,…giá cả bình dân đi kèm với chất
lượng phục vụ tương đối thì Phạm Ngũ Lão chính là địa điểm lý tưởng dành cho
những khách du lịch có thu nhập từ trung bình trở xuống.
Mật độ khách thuê phòng và lưu trú tại phường Phạm Ngũ Lão được đánh giá là
đông nhất nước, trung bình mỗi ngày có khoảng 5000 lượt khách ra vào và 1200 lượt
khách lưu lại mỗi tuần. “Khu Tây ba lô” là cái tên đã được người dân thành phố đặt
cho Phạm Ngũ Lão từ lâu vì ở đây nổi tiếng với những dịch vụ du lịch chuyên dành
cho khách Tây ba lô, khu du lịch này phát triển hoàn toàn tự phát nhưng cho đến nay
những giá trị tích cực mà khu vực đã mang lại là không thể phủ nhận. Chính vì vậy, ủy
ban phường và thành phố đang đưa ra những chính sách quy hoạch mới áp dụng cho
nơi đây với mong muốn sẽ phát huy tối đa tiềm lực sẵn có của phường một cách hiệu
quả nhất.
2. Tình hình kinh doanh dịch vụ:
Hơn hai thập kỷ sau năm 1975 và kể từ khi thành lập vào năm 1988, Phạm Ngũ
Lão ngày ấy vẫn còn là khu vực thưc thớt người qua lại, tình hình kinh tế không nổi
bật và bị liệt vào danh sách những khu vực chậm phát triển của thành phố. Khi nhà
nước ta có chính sách mở rộng ngoại giao, mở cửa giao lưu ra thế giới, lúc bấy giờ

thường tụ tập tại những quán vỉa hè như thế để trò chuyện, điểm đặc biệt là những
hoạt động càng về đêm lại càng đông đúc và nhộn nhịp, do đó những khách đến đây
không hề phải lo ngại việc những khách sạn hay nhà nghỉ sẽ đóng cửa vào buổi tối.
21
Chúng ta có thể thấy rằng lưu lượng người ra vào nhộn nhịp với rất nhiều thành
phần khác nhau, đặc biệt khách lưu trú tại Phạm Ngũ Lão hầu hết là khách nước
ngoài, vì vậy vấn đề an ninh khu vực cực kỳ phức tạp, liên quan trực tiếp đến việc
kinh doanh của các hộ gia đình tại đây. Đảm bảo an ninh khu vực sẽ hỗ trợ cho những
hoạt động kinh doanh được ổn định, thu hút du khách đến với khu vực nhằm phát triển
du lịch Phạm Ngũ Lão nói riêng và thành phố nói chung được vững mạnh hơn trong
tương lai.
3. Giá và mùa vụ:
Khách thường xuyên lui tới khu vực Phạm Ngũ Lão thuê phòng là những khách
du lịch bụi theo dạng tiết kiệm. Giá phòng ở khu phố Tây trung bình
12USD/người/đêm. Nếu khách sạn được giới thiệu trên các trang du lịch nước ngoài
thì mức giá có thể lên đến 22 USD. Tuy nhiên đến mùa thấp điểm thì mức giá này lại
bị rơi xuống mức rất thấp (từ 7USD đến 10USD).
Một năm kinh doanh tại khu Tây ba lô được chia thành 2 mùa: cao điểm và thấp
điểm. Từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau là mùa cao điểm, đón khách trú đông đến từ
Mỹ, Úc, Anh. Tháng 2 đến tháng 4 là mùa thấp điểm khách đến thuê phòng chủ yếu là
khách Châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, những tháng còn lại là khoảng
thời gian trung bình, khách đến từ rất nhiều nơi và không tập trung vào bất kỳ khu vực
nào.
Công suất phòng vào mùa cao điểm có thể đạt đến 100% vào cuối tuần, giá sẽ
được đẩy lên cao nhưng vẫn không đủ số lượng đáp ứng. Từ năm 2011 lượng khách
Châu Á bắt đầu đông hơn và khách cũng thường xuyên hơn nên việc kinh doanh
tương đối đồng đều giữa các mùa. Theo sau hoạt động kinh doanh lưu trú là những
hoạt động kinh doanh khác như ẩm thực, bar, quán coffee, thuê xe, đặt tour…cũng
phát triển không kém.
22

doanh trong năm gồm 2 mùa chính vẫn là cao điểm và thấp điểm, tuy nhiên có sự
khác nhau trong việc phân định lượng khách giữa những khách sạn ở đường Phạm
Ngũ Lão so với toàn khu vực vì vậy thời điểm bắt đầu và kết thúc các mùa kinh doanh
cũng tương đối khác biệt, cụ thể như sau:
- Mùa cao điểm lại bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 4 đón khách trú đông ở các
nước Úc, Nga, Pháp và Mỹ là chủ yếu;
- Tháng 5 đến tháng 10 là mùa thấp điểm, khách du lịch rất ít và rải rác, tập trung
là những khách đến từ Đức, Úc và khách Châu Á;
- Tháng 11 và 12 là giai đoạn trung bình, đây là khoảng thời gian khá ổn định,
khách đến thuê phòng với cường độ tương đối đều đặn, lượng khách đến từ các
quốc gia vẫn thường xuyên là khách Châu Âu.
Bên cạnh đó khu vực vẫn thường xuyên đón khách ở khắp mọi nơi đến lưu trú ở
cả mùa cao điểm lẫn thấp điểm. Đây là đánh giá chung của các chủ khách sạn trong
quá trình kinh doanh, những khách sạn nhỏ tại Phạm Ngũ Lão đều có thời gian kinh
doanh tương đối dài (từ 5 năm trở lên) nên những đánh giá của họ về đối tượng khách
sẽ dựa vào kinh nghiệm quan sát là chủ yếu, rất ít khách sạn có chủ hoặc quản lý đã
được đào tạo trong ngành du lịch, tuy nhiên kinh nghiệm thực tế lại giúp họ kinh
doanh tương đối ổn định trên đường Phạm Ngũ Lão.
Sau đây là bảng số liệu khảo sát về quốc tịch và độ tuổi của 105 khách Tây ba lô
đang sử dụng dịch vụ lưu trú trên đường Phạm Ngũ Lão, những con số sẽ phản ánh
được độ xác thực về những nhận định của các chủ khách sạn:
Bảng 1: Quốc gia và độ tuổi của khách Tây ba lô trên đường Phạm Ngũ Lão –
tháng 4/2014.
Quốc gia Số lượng
Độ tuổi
< 30 30 - 50 >50
Úc 26 7 13 6
24
Đức 24 22 2 0
Khác 55 25 17 13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status