skkn một số biện pháp quản lý học sinh yếu tại trường thpt võ trường toản - Pdf 25

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT VÕ TRƯỜNG TOẢN
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HỌC SINH YẾU
TẠI TRƯỜNG THPT VÕ TRƯỜNG TOẢN
Người thực hiện: PHAN DUY KHÁNH
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn: 
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: 
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Đĩa CD (DVD)  Phim ảnh  Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2013-2014
BM 01-Bia SKKN
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
––––––––––––––––––
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: PHAN DUY KHÁNH
2. Ngày tháng năm sinh: 10/ 9/ 1967
3. Nam, nữ: nam
4. Địa chỉ: xã Xuân Tây, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai
5. Điện thoại: 0618607816(CQ)/ 0613713849(NR); ĐTDĐ: 0985709423
6. Fax: E-mail: [email protected]
7. Chức vụ: Hiệu trưởng
8. Nhiệm vụ được giao: quản lý
9. Đơn vị công tác: trường THPT Võ Trường Toản

cuộc vận động này đã làm thay đổi khá nhiều về chất lượng giáo dục. Tuy có nhiều
tiến bộ nhưng chất lượng thật sự của giáo dục hiện nay ở bậc THPT còn khá nhiều
yếu kém. Yêu cầu đặt ra cho chúng ta là phải tìm những những nguyên nhân yếu
kém một cách chính xác, phải nhìn thẳng vào sự thật một cách khách quan .Từ đó
bình tĩnh đưa ra những giải pháp tích cực sát với thực tế để từng bước nâng cao
chất lượng. Vấn đề này cần phải có thời gian công sức của mọi người trong toàn xã
hội. Không nôn nóng nhưng cũng không để kéo dài làm trì trệ sự phát triển của
GD.
Nói đến chất lượng giáo dục là nói đến chất lượng sản phẩm của giáo dục làm
ra, để đánh giá sản phẩm của giáo dục thì phải đánh giá một cách toàn diện: gồm
cả chất lượng chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, thể lực.
Ai cũng biết là có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Đó là đội
ngũ cán bộ - giáo viên làm công tác giáo dục, chương trình, sách giáo khoa, thiết bị
dạy học, cơ sở vật chất, ý thức học tập của học sinh, sự quan tâm của cha mẹ học
sinh, của các cấp uỷ Đảng chính quyền, của các tổ chức xã hội, chính sách của
Đảng và Nhà nước đối với giáo dục.
Vậy yếu tố nào là quyết định đến chất lượng giáo dục? Mỗi chúng ta phải có
trách nhiệm trả lời câu hỏi này một cách khách quan và chính xác. Chúng ta sẽ và
phải làm gì để xây dựng một thương hiệu chất lượng giáo dục cho nhà trường? Từ
thực tế tại trường, trong những năm qua tỷ lệ học sinh yếu kém rất cao. Vì vậy, tôi
3
xin được trình bày một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng dạy học các
môn văn hoá và một số biện pháp quản lý học sinh yếu tại trường THPT Võ
Trường Toản hiện nay.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.Cơ sở lý luận
Mạnh Tử nói: "Nhân chi sơ tính bổn thiện, tính tương cận tập tương viễn",
nghĩa là con người sinh ra ban đầu vốn dĩ lương thiện, tính tình khá đồng nhất,
nhưng do môi trường và sự tiếp cận học hỏi khác nhau mà tính tình đâm ra khác
biệt nhau.

nào nâng cao từng bước chất lượng dạy và học trong trường ở những năm gần đây.
2.Cơ sở thực tiễn
Trong những năm qua chúng tôi đã thực hiện nhiều biện pháp quản lý nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục như phụ đạo học sinh yếu, giáo viên chủ nhiệm
thường xuyên nhắc nhở học sinh cố gắng học tập, trao đổi về tình hình học tập của
học sinh với cha mẹ học sinh, còn nặng về giáo dục mang hình thức, lý thuyết,
thiếu tính thực tế.
- Những kết quả đạt được trong năm học 2011- 2012:
a. Về học lực
Xếp Khối 12 Khối 11 Khối 10 Cộng
Loại Số HS % Số HS % Số HS % Số HS %
Giỏi 12 2.1 55 8.8 23 3.5 90 4.8
Khá 208 35.7 294 46.8 184 28.2 686 36.8
Tr. bình 301 51.7 251 40 298 45.6 850 45.6
Yếu 60 10.3 27 4.3 133 20.4 220 11.8
Kém 1 0.2 1 0.2 15 2.3 17 0.9
b. Về hạnh kiểm
Xếp Khối 12 Khối 11 Khối 10 Cộng
loại Số HS Tỷ lệ % Số HS % Số HS % Số HS %
Tốt 463 79.6 481 76.6 347 53.1 1291 69.3
Khá 101 17.4 106 16.9 202 30.9 409 22
Tr. bình 18 3.1 29 4.6 78 11.9 125 6.7
Yếu 11 1.8 26 4 37 2
Kết luận rút ra từ 2 mặt giáo dục:
Các chỉ tiêu cơ bản nhìn chung đều đạt so với chỉ tiêu đề ra, đó là sự nỗ lực
cao về nhiều mặt của thầy và trò, sự quyết tâm của tập thể sư phạm và kết quả của
các biện pháp thực hiện.
Tỷ lệ học sinh khá giỏi không tăng, đây là một diễn biến bình thường, biểu
hiện của việc thực hiện từng bước hiệu quả cuộc vận động “hai không”. Đang từng
bước khắc phục các hoạt động chạy theo thành tích, chỉ tiêu mà không có biện

các bạn cùng trang lứa. Hàng quán xung quanh trường phức tạp, dễ đẩy các em
nhiễm những tệ nạn xã hội.
Do mất căn bản ở lớp dưới, nhiều học sinh đuối sức trong học tập, không
theo kịp các bạn (thiếu kiến thức, kỹ năng, khả năng để học tập lớp đang học: ngồi
nhầm lớp) sinh ra chán học, sợ học.
Học sinh chưa có phương pháp học tập khoa học, hầu hết là học thụ động; lệ
thuộc vào các loại sách bài giải, học thêm; trong thi cử thì quay cóp; chưa có
phong trào học nhóm, học tổ do đó không có thời gian nghiên cứu để biến kiến
thức của sách giáo khoa thành kiến thức cho mình, nên khi bị trật bài mẫu, bài tủ
thì điểm yếu kém.
Một bộ phận lớn cha mẹ học sinh xác định mục đích cho con đi học còn lơ
mơ, thiếu quan tâm hoặc quan tâm không đúng mức đến học tập của con cái, còn
khoán trắng cho nhà trường, sự phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh không tốt
(phụ huynh ở vùng sâu vùng xa trình độ còn hạn chế, lo làm ăn không quan tâm
đến việc học của con cái ).
6
Phụ huynh học sinh do lao động hoặc làm ăn, buôn bán… không nắm được
giờ giấc đi học của các em cũng như thời khóa biểu và học trái buổi. Một số đi làm
ăn xa gởi con lại cho người thân nên quan tâm chưa chặt chẽ.
Do trong gia đình có sự thay đổi lớn như: bố mẹ li dị, hay cãi vã đánh nhau,
gia đình tan vỡ vv… Làm cho học sinh bị thay đổi về tâm lí dẫn đến chán học…
b. Đối với chương trình và sách giáo khoa
Chương trình học còn nặng nề, thiếu thực hành, cung cấp kiến thức sự kiện
là chính, một số nội dung chưa phù hợp với lứa tuổi học sinh, nhiều học sinh
không theo kịp chương trình vì nặng kiến thức và nhiều môn, nội dung nhiều trong
một tiết học nên giáo viên khó thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
phát huy tính tích cực của HS vì sợ cháy giáo án.
c. Đối với nhà trường
Cơ sở vật chất: Còn nhiều thiếu thốn, chưa có điều kiện để tổ chức tốt các
hoạt động để nâng cao chất lượng dạy và học. Số học sinh trong một lớp còn quá

của học sinh để động viên, nhắc nhở, tâm sự giúp học sinh hiểu nhiều hơn.
Cán bộ quản lý thì chưa xác định đúng trách nhiệm kiểm tra chất lượng học
sinh là thuộc trách nhiệm của mình nên chưa bài bản và nề nếp trong tổ chức kiểm
tra đánh giá chất lượng học sinh, nhỉều khi làm cản trở sự đổi mới (ngân hàng đề,
bốc thăm đề kiểm tra, quản lý đề , duyệt đề ). Vậy làm sao mà giao lưu đề được
với các trường? Điều này chứng tỏ ta chưa thực hiện tốt việc kiểm tra đánh giá
chất lượng học sinh đã được bồi dưỡng. Phải học cách kiểm tra đánh giá học sinh.
Nội dung sinh hoạt chuyên môn còn nghèo nàn, nặng về hành chính, thời
gian sinh hoạt ít, chưa tập trung thảo luận, bàn bạc để tìm ra những biện pháp tốt
nhằm nâng cao chất lượng dạy học của bộ môn, một số môn nhiều năm liền chất
lượng thấp mà vẫn chưa có chuyển biến, vì sao vậy? Chúng ta còn xem nhẹ việc
chỉ đạo công tác dạy và học, còn giao hẳn cho tổ chuyên môn, tổ chuyên môn thì
triển khai có hạn , kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ (tổ chức hội thảo, mở chuyên
đề, ) làm còn qua loa, chưa triển khai tốt các chuyên đề phục vụ nâng cao chất
lượng dạy và học. Phải mạnh dạn đưa ra những biện pháp cụ thể để thay đổi.
d. Đối với các lực lượng xã hội
Chưa có chương trình, kế hoạch cụ thể để tham gia giáo dục học sinh ở địa
phương. Nhiều biểu hiện tiêu cực trong xã hội, nhiều thanh thiếu niên vi phạm
pháp luật, sống thiếu lành mạnh vẫn chưa được xử lý đúng mức làm tác động xấu
đến quá trình học tập và rèn luyện của các em. Nhiều quán xá còn lợi dụng học
sinh để trục lợi cho mình (kinh doanh thiếu đạo đức).
2. Một số biện pháp quản lý học sinh yếu
2.1. Xác định nguyên nhân, lập kế hoạch dạy học sinh yếu kém
Ngay từ đầu năm học giáo viên thống kê được số lượng học sinh yếu kém và
có nguy cơ trở thành học sinh yếu kém ở lớp mình. Phải tìm ra những nguyên nhân
dẫn đến sự yếu kém đó ở học sinh. Phân loại học sinh yếu kém theo những nguyên
nhân chủ yếu và có kế hoạch giúp đỡ thích hợp với từng loại hoặc từng bộ môn
qua phiếu khảo sát.
Ví dụ: Học sinh yếu kém vì mất kiến thức căn bản từ lớp dưới… học sinh yếu
kém vì ham chơi với bạn xấu, ham chơi game… học sinh học yếu vì hoàn cảnh gia

từng đối tượng học sinh. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phải nắm chắc
và phân loại đối tượng học sinh, phải chú ý đối tượng học sinh yếu kém. Giáo viên
chủ nhiệm và giáo viên bộ môn cần hướng dẫn học sinh sắp xếp thời gian tự học,
chuẩn bài trước khi đến lớp . Phải xem lại yêu cầu chuẩn kiến thức bộ môn để ra
đề kiểm tra cho phù hợp. Tổ chức soạn bài theo nhóm chuyên môn. Tổ chức tốt
sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn để thảo luận, trao đổi những biện pháp giúp đỡ học
sinh yếu kém. Phải xác định: Mỗi thầy cô giáo phải có trách nhiệm giúp đỡ học
sinh yếu kém để các em này cải thiện tình hình học tập của mình một cách tốt nhất
(Dạy học là dạy cho những người chưa biết để họ được biết). Xây dựng tốt mối
quan hệ thân thiện tích cực trong thầy trò để dạy và học tốt hơn.
Trong soạn bài giáo viên cần chú ý: tránh rập khuôn sách giáo viên, sách
thiết kế có sẵn, soạn đối phó; phải đầu tư cho soạn bài, nghiên cứu tài liệu tham
khảo để bổ sung kiến thức cho mình, có như vậy thì mới dạy tốt được, phải nắm
9
chắc và chuyên sâu kiến thức phổ thông có liên quan đến bộ môn mình đang giảng
dạy. Hãy trở thành người giáo viên giỏi thật sự chứ không phải giỏi về "biểu diễn
dạy giỏi".
Trong giảng dạy cần xác định trọng tâm bài học, nội dung chương trình,
tránh tình trạng dạy tràn lan gây nặng nề cho học sinh (không để học sinh phải
hoang mang, lo sợ khi học bộ môn mình), nắm chắc các đối tượng trong từng lớp
đẻ có biện pháp giảng dạy phù hợp nhất, tránh tình trạng dạy học theo kiểu cào
bằng (em nào cũng như em đó), đặc biệt chú ý giúp đỡ các em học tập còn yếu
kém để các em tiến bộ, sẵn sàng tham gia phụ đạo học sinh yếu theo phân công
Phải thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học, hướng dẫn học sinh phương
pháp học, tăng cường giáo dục động cơ thái độ học tập bộ môn, thầy phải giỏi, dạy
hay, hấp dẫn để giáo dục học sinh. Cống hiến hết sức mình cho công việc mình
phụ trách. Dạy thật.
Trong đánh giá chất lượng học sinh cần thực hiện đúng theo qui định. Đặc
biệt chú ý đúng chuẩn kiến thức bộ môn, đề kiểm tra phải chính xác và khoa học.
2.3. Đối với học sinh và phụ huynh học sinh

cũng có không ít học sinh lười học - mất căn bản, trở thành gánh nặng cho việc dạy
dỗ của thầy cô và sự lo lắng của xã hội, của gia đình.
Phải nói rằng trong thời gian qua đông đảo thầy cô giáo đã làm tốt công việc
của mình với tinh thần đầy trách nhiệm, đầy tâm huyết vốn có của nghề nghiệp. Ở
đây tôi xin nêu một số lệch lạc như sau: Còn nặng về cung cấp kiến thức để đối
phó với thi cử, ít chịu chăm chút cho nền tảng căn bản một cách có hệ thống cho
học sinh từ kiến thức kỹ năng đến tinh thần trách nhiệm; chưa thay đổi kịp cách
dạy trong tình hình mới, chưa chú ý đúng mức đến khía cạnh tâm lý của học sinh
trong quá trình giảng dạy, yêu cầu quá cao đối với học sinh, còn lơ mơ trong việc
xác định nhiệm vụ trọng tâm của mình! (Dạy chữ và dạy người).
Tôi nghĩ nếu bản thân người giáo viên xác định được trọng tâm công việc
của mình trong cấp học, bậc học mà mình phụ trách thì sẽ tránh được tình trạng
quá tải, tránh được việc dạy thiếu căn bản, lệch hướng.
“GD phổ thông thì quá cứng nhắc, máy móc, có tính sắp đặt theo chương
trình, sách giáo khoa, giáo viên hoàn toàn bị động, chấp nhận, một mực tuân thủ
các đề án cải cách từ nội dung đến phương pháp được thiết kế sẵn và áp đặt
xuống". Ít có người chịu khó sáng tạo.
b. Hiểu được tâm lý người đi học
Có nhiều nguyên nhân làm cho hiện tượng bất hợp lý là “học để đi thi” còn
tồn tại lâu dài. Theo tôi, nguyên nhân chính là tỉ lệ con số học sinh vào đại học, cao
đẳng của chúng ta còn rất thấp. Đa số mọi gia đình thúc ép con cái học hành, học
thêm, học trước chương trình, ôn luyện tủ , tất cả những nỗ lực không mệt mỏi ấy
chỉ để nhắm đến một mục đích cuối cùng là kiếm lấy một ghế trên giảng đường
ĐH rồi sau như thế nào sẽ tính tiếp”.
Nhiều học sinh sợ học vì không tiếp thu được, nhiều em buông xuôi chuyện
học đến đâu thì đến!
c. Tâm lý người dạy
11
Ai cũng muốn mình có cuộc sống "vừa phải" để đầu tư công sức cho việc
dạy học của mình đảm nhiệm và phấn đấu dạy hay, dạy giỏi. Luôn yêu cầu học

trò, chứ không nói tất cả). Một kinh nghiệm lớn của nền giáo dục nước ta và cũng
có thể là của khoa học giáo dục, là cuối cùng chất lượng giáo dục do nhiệt tình dạy
của thầy và nhiệt tình học của trò quyết định. Ở đâu có thầy giỏi thì sẽ có trò giỏi.
Các yếu tố khác, mục tiêu, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy
học, cơ sở vật chất tuy hết sức quan trọng nhưng chỉ phát huy tác dụng đầy đủ nếu
thầy và trò ham muốn chiếm lĩnh và sử dụng chúng. Vì thế không có gì lạ nếu
12
nhiều chuyên gia hàng đầu của chúng ta trong nhiều lĩnh vực đều được đào tạo từ
nhà trường trong thời gian kháng chiến.
e. Vấn đề đánh giá chất lượng học sinh
Khi đánh giá chất lượng, cần xác định thống nhất là đánh giá so với cái
"chuẩn" nào?
Đánh giá chất lượng là đánh giá chất lượng của một số đông học sinh chứ
không phải là đánh giá chất lượng của những cá nhân học sinh riêng lẻ cá biệt; vì
những chất lượng (tốt hay xấu) cá biệt thường phụ thuộc những nguyên nhân ở
ngoài phạm vi của giáo dục; thời nào, nơi nào, bất kể là nền giáo dục cao thấp thế
nào cũng có thể có những trường hợp cá biệt như vậy.
Hiện nay giáo viên chỉ nói đến chất lượng văn hóa. Ở bình diện nhà trường
nên sớm áp dụng hệ thống kiểm tra chất lượng. Công tác quản lý chất lượng tại
trường học phải được tổ chức chặt chẽ và có nền nếp theo qui định, đề cao vai trò
của người thầy, tạo điều kiện phát triển hết khả năng của người học thông qua tự
học, biết cách tự học sáng tạo”.
Kiểm tra không chỉ là để cho điểm mà kịp thời lấp chỗ yếu kém cho các em
và điều chỉnh nội dung và phương pháp đạy học của giáo viên!
Kiểm tra đánh giá học sinh là hoạt động bắt buộc và quen thuộc đối với tất
cả giáo viên đứng lớp. Nhưng phần lớn các giáo viên đều quan niệm, việc ra đề
kiểm tra cho học sinh đơn giản là có điểm số ghi vào sổ điểm. Từ đó, có căn cứ để
cuối học kỳ, cuối năm đánh giá học sinh. Còn các cán bộ quản lý giáo dục thì cho
rằng, đó là công việc của giáo viên chứ không phải của mình.
Xu hướng quốc tế hiện nay xem mục đích chính của việc đánh giá là nâng

có chỉ tiêu phấn đấu cho phù hợp (Thầy-trò cùng phấn đấu).
Thấu hiểu những vấn đề trên, tôi đã thực hiện trong công tác quản lý ở
trường THPT Võ Trường Toản từ năm học 2011-2012 cho đến nay và từng bước
mang lại kết quả khả quan.
Đội ngũ GV và HS có sự chuyển biến về chất. Tâm lý học tự giác, chủ động,
sáng tạo hơn.
Các bước tiến hành:
+ Ngay từ đầu năm học, yêu cầu mỗi GV phải nắm được chất lượng học sinh
của lớp mình phụ trách của năm học trước để đăng ký thực hiện chất lượng bộ
môn. Đồng thời dựa vào tình hình học sinh qua kỳ thi khảo sát chất lượng đầu
năm, tôi đặc biệt chú ý đến đối tượng học sinh giỏi, học sinh yếu kém tiến hành lập
danh sách, phân loại học sinh. Tôi tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền địa
phương, sự phối hợp của PHHS, GV trong trường và định hướng cho các em mục
đích của việc học.
+ Lên kế hoạch cụ thể về thời gian giảng dạy, nắm bắt chương trình giảng
dạy trong một thời gian nhất định.
+ Lựa chọn giáo viên giỏi, có tâm huyết.
+ Quy định số lần kiểm tra đánh giá, nắm bắt đối tượng học sinh có tiến bộ
động viên, khen thưởng kịp thời.
14
+ Có quản sinh theo dõi thường xuyên.
+ Chỉ đạo GV có học sinh yếu thường xuyên kiểm tra các em trên lớp và báo
cáo tình hình học tập của các em hàng tháng.
+ Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên nhắc nhở, động viên HS và báo cáo sự
tiến bộ của các em theo hàng tháng.
+ Tổ chức thăm dò ý kiến của các em về giáo viên bộ môn, về môn học mà
các em học yếu qua phiếu khảo sát.
+ Biện pháp vừa mềm dẻo, vừa cương quyết tôi phối hợp với GV uốn nắn
các em kịp thời.
Hàng năm tôi đều tổ chức các lớp giỏi, yếu, kém của 03 khối nhằm phát

loại Số HS % Số HS % Số HS % Số HS %
Tốt 449 81.79 417 70.20 322 70.46 1188 74.25
Khá 86 15.66 89 14.98 99 21.66 274 17.13
Tr. bình 14 2.55 86 14.48 32 7 132 8.25
Yếu 2 0.34 4 0.88 6 0.38
Qua bảng thống kê trên, tỷ lệ học sinh khá, giỏi đạt 49,9% (40,5% năm học
2012-2013), tăng 9,4%; tỷ lệ học sinh yếu kém 9,5% (12,7% năm học 2012-2013),
giảm 3,2%. Điều này cho chúng ta thấy kết quả giáo dục ngày càng nâng cao thể
hiện qua tỷ lệ học sinh khá, giỏi tăng mạnh và học sinh yếu kém giảm đáng kể.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Để có được giải pháp thiết thực, thực hiện hiệu quả SKKN vào thực tiễn.
Điều trước tiên đòi hỏi ở mỗi một cá nhân khi thực hiện đề tài cần có sự trải
nghiệm qua thực tế; phải thực sự có cái Tâm trong tiến trình thực hiện. Có khả
năng sáng tạo, linh hoạt, năng động bắt kịp cái mới. Nắm vững nhiệm vụ trọng tâm
hàng năm để cụ thể hoá vào thực tế trường học. Nắm bắt được tâm tư, nguyện
vọng của đối tượng giáo dục, từ đó ứng dụng thực hiện. Điều kiện CSVC, trang
thiết bị dạy học phải đáp ứng nhu cầu. Đội ngũ GV được học tập nâng cao trình độ
thường xuyên. Được sự đồng thuận, phối kết hợp của các ban ngành, lãnh đạo các
cấp trong cả tiến trình thực hiện thì chắc chắn việc ứng dụng vào thực tiễn của đề
tài sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.
Việc giúp đỡ học sinh yếu kém có kết quả hơn, theo tôi, chúng ta cần phải
tiến hành một số công việc sau: Ngay từ đầu năm học, sau khi tiến hành khảo sát
chất lượng đầu năm, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn cần phối hợp phân
tích, đánh giá kết quả đạt được của học sinh để đưa ra các dự báo về học sinh yếu
kém. Cần phải nhận diện học sinh yếu kém, phát hiện các nguyên nhân dẫn đến
tình trạng học sinh yếu kém trước khi tìm các biện pháp giúp đỡ các em. Các biện
pháp giúp đỡ học sinh yếu kém phải được nghiên cứu một cách khoa học, đúc kết
kinh nghiệm, phổ biến rộng rãi cho giáo viên sử dụng nhằm hạn chế dần tình trạng
học sinh học kém trong các năm học tới. Cả gia đình, nhà trường và xã hội phải
chia sẻ trách nhiệm trong công tác khắc phục tình trạng học sinh yếu kém (không

6. Tình trạng sức khoẻ của bản thân không tốt.
7. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, ở xa trường.
8. Phân tán tư tưởng do hoàn cảnh gia đình.
9. Chưa tập trung chú ý nghe giảng, chưa thực hiện các yêu cầu trên lớp
của thầy, cô giáo.
10. Không hứng thú trong học tập bộ môn
11. Phương pháp dạy học của giáo viên nhàm chán.
12. Việc kiểm tra đánh giá của thầy cô giáo chưa thường xuyên, chưa
nghiêm túc, chưa có tác dụng khích lệ động viên học tập.
Nguyên nhân khác (nêú có):17
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT
VÕ TRƯỜNG TOẢN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO
về tình hình giúp đỡ học sinh yếu tháng . . . . .
* Danh sách học sinh yếu ở những lớp thầy/cô dạy:
Họ và tên Lớp Họ và tên Lớp Họ và tên Lớp
* Thầy/cô đã giúp đỡ những học sinh yếu bộ môn của mình bằng cách nào?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
* Những khó khăn nào mà quý thầy/cô gặp phải?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

1. Mục đích
- Tập trung phụ đạo học sinh học lực yếu chưa đạt chuẩn kiến thức kỹ năng các
môn học tại lớp đang học bằng nhiều hình thức. Nhằm tạo điều kiện cho các em phát huy
được khả năng học tập, lĩnh hội các kiến thức – kĩ năng đạt chuẩn theo quy định.
- Giúp học sinh yếu củng cố kiến thức cơ bản, có thói quen độc lập suy nghĩ, tự
giác trong học tập, có tinh thần trách nhiệm, có ý thức tổ chức kỷ luật.
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hạn chế học sinh yếu và lưu ban.
2. Yêu cầu
- Giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm gần gũi, trực tiếp giúp
đỡ, dạy cho học sinh cách học tích cực. Việc theo dõi, giúp đỡ, phụ đạo học sinh yếu phải
trở thành một nhiệm vụ hàng ngày của giáo viên và cũng là tiêu chí đánh giá xếp loại
cuối năm.
- Tạo mọi điều kiện để học sinh được phát huy năng lực học tập, tích cực tư duy
sáng tạo trong các giờ lên lớp.
- Giáo viên phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết phụ đạo học sinh yếu.
- Học sinh phải đi học đầy đủ theo thời khoá biểu và tích cực rèn luyện để theo kịp
các bạn học trong lớp.
19
II. NỘI DUNG KẾ HOẠCH
1. Đặc điểm tình hình
1.1. Thuận lợi
- Nhà trường có đầy đủ cơ sở vật chất, phòng học dành cho phụ đạo học sinh yếu.
- Đội ngũ giáo viên có tay nghề vững vàng,tâm huyết với nghề ,có tinh thần trách
nhiệm cao trong công việc được giao.
- BGH nhà trường luôn quan tâm, sát sao với công tác nâng cao chất lượng hai
mặt giáo dục và nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trong trường, có
thời khóa biểu phụ đạo rõ ràng.
1.2. Khó khăn
- Do nhà trường có rất nhiều các hoạt động khác vào trái buổi nên thời gian cho
các buổi phụ đạo chưa nhiều. Một số giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác

kết quả học kỳ I, những học sinh nào tiến bộ được xếp loại trung bình, không phải đi học
phụ đạo. Những học sinh nào có kết quả học lực yếu được tham gia học lớp phụ đạo.
- Các tổ chuyên môn phân công giáo viên có kinh nghiệm, nhiệt huyết với nghề và
biết thông cảm học sinh gởi ban giám hiệu duyệt. Chú ý đến những giáo viên có học sinh
yếu nhiều để thuận lợi trong việc giảng dạy và theo dõi.
- Giáo viên bộ môn soạn bài tập phù hợp với năng lực học sinh nhằm cũng cố kiến
thức cơ bản theo chương trình chuẩn trong sách giáo khoa; tổ chức kiểm tra đánh giá và
20
động viên, khích lệ tạo niềm tin cho học sinh. Chú trọng đến việc duy trì sỉ số và chịu
trách nhiệm chất lượng giáo dục của lớp phụ trách cũng như của bộ môn.
- Học sinh đi học đầy đủ, nghiêm túc và không phải đóng phí. Số ngày nghỉ học
phụ đạo được tính vào số ngày nghỉ trong năm (45 ngày) theo quy định.
- Thời gian học: Mỗi môn học xếp tối đa không quá 02 tiết/tuần. Đợt I: bắt đầu
học từ tuần đầu tiên của tháng 11 đến thi học kỳ I. Đợt II: sau khi có kết quả học kỳ I đến
khi thi học kỳ II.
- Kinh phí: trả theo tăng giờ của giáo viên sau khi tính tổng số giờ quy định trong
một học kỳ và cả năm học.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
- Hiệu trưởng lập kế hoạch, phân công giảng dạy và quản lý chung.
- Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn: thành lập các lớp học phụ đạo, kiểm tra
dạy và học của giáo viên và học sinh khối 12. Tổng hợp và đánh giá công tác phụ đạo
học sinh yếu sau mỗi kỳ và cuối năm.
- Phó hiệu trưởng phụ trách hoạt động ngoại khoá: kiểm tra nề nếp học tập của học
sinh, bố trí phòng học và kiểm tra dạy và học của giáo viên và học sinh khối 10.
- Phó hiệu trưởng phụ trách hành chính: phối hợp với phó hiệu trưởng phụ trách
chuyên môn thành lập lớp, xếp thời khoá biểu, tổ chức cung cấp các trang thiết bị cần
thiết để phục vụ phụ đạo học sinh yếu, kiểm tra dạy và học của giáo viên và học sinh khối
11.
- Tổ trưởng chuyên môn đề cử giáo viên giảng dạy, kiểm tra nội dung giáo án của
giáo viên, thường xuyên đánh giá trong các cuộc họp tổ chuyên môn.

––––––––––––––––––––––––
Cẩm Mỹ, ngày 15 tháng 5 năm 2014
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2013-2014
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
Một số biện pháp quản lý học sinh yếu tại trường THPT Võ Trường Toản.
Họ và tên tác giả: Phan Duy Khánh Chức vụ: Hiệu trưởng
Đơn vị: Trường THPT Võ Trường Toản
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực
khác)
- Quản lý giáo dục -Phương pháp dạy học bộ môn: 
- Phương pháp giáo dục - Lĩnh vực khác:

Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị  Trong Ngành 
1.Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô dưới đây)
-Đề ra giải pháp thay thế hoàn toàn mới, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn

-Đề ra giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, bảo đảm tính khoa học,
đúng đắn 
-Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở
đơn vị mình, nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị 
NGƯỜI THỰC HIỆN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
Phan Duy Khánh
22
BM04-NXĐGSKKN
2.Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 5 ô dưới đây)
-Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu
quả cao 

23
NGƯỜI THỰC HIỆN
SKKN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
Phan Duy Khánh
XÁC NHẬN CỦA TỔ
CHUYÊN MÔN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, ghi rõ
họ tên và đóng dấu)
• Lưu ý:
a) Mẫu này chỉ áp dụng cho các báo cáo sáng kiến, cải tiến của các cá nhân
đề nghị xét công nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua và áp dụng cho sáng kiến kinh
nghiệm của giáo viên trong Hội thi giáo viên dạy dạy giỏi cấp trường, cấp huyện,
cấp tỉnh của các cấp học mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục
nghề nghiệp; không áp dụng cho báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học hoặc báo cáo
đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng.
b) Trong sáng kiến kinh nghiệm phải trình bày đầy đủ và thể hiện rõ 03 yêu
cầu: tính mới, hiệu quả và khả năng áp dụng như Quy định thẩm định, đánh giá, công
nhận sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, giải pháp công tác, áp dụng công nghệ mới, đồ dùng, đồ
chơi trong Giáo dục và Đào tạo và báo cáo nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng do
Sở GD&ĐT tỉnh Đồng Nai ban hành.
c) Sáng kiến kinh nghiệm soạn thảo trên máy vi tính và in ra giấy khổ A4;
quy định canh lề: Trên 2,0 cm, dưới 1,5 cm, phải 3,0 cm, trái 1,5 cm; Font chữ
24
Việt Nam UNICODE (Times New Roman); size chữ 14pt; giãn cách dòng đơn
(single); giãn cách đoạn trên hoặc dưới 6pt.
d) Tất cả biểu mẫu đóng thành tập theo thứ tự: Bìa (BM01-Bia SKKK), Lý
lịch khoa học (BM02-LLKHSKKN), Thuyết minh đề tài (BM03-TMSKKN),


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status