Hoạt động giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo ngoại thành Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ THỊ THU HÒA Hoạt động giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo
ngoại thành Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp
hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương, huyện Từ
Liêm, Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
11
2. Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam
13
2.1.1. Thực trạng nghèo đói
13
2.1.2. Nguyên nhân nghèo đói
20
2.1.3. Giải pháp xoá đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay
23
II. Cơ Sở lý luận của luận văn
26
1. Quan điểm lý luận cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lê nin
26
2. Tư tưởng Hồ Chì Minh về xoá đói giảm nghèo
28
3. Đường lối chình sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam
về xoá đói giảm nghèo
32
4. Lý thuyết phân tầng xã hội ( Lý thuyết phân tầng xã hội
của K.Marx và M.Weber)
34
5. Quan điềm tiếp cận giới
35
6. Một số khái niệm cơ bản
37
6.1 Khái niệm nghèo đói
37
6.2. Khái niệm giảm nghèo
41
6.3. Khái niệm phụ nữ nghèo

69
2.2.2.4.2 Kế hoạch hoá gia đính, sức khoẻ sinh sản, y tế.
71
2.3. Vai trò của Phụ nữ trong hoạt động giảm nghèo
72
2.3.1. Vai trò của Hội Liên Hiệp phụ nữ trong xoá đói giảm nghèo
72
2.3.2. Nâng cao vị thế, vai trò của người phụ nữ
79
C: Kết luận
87
1. Kết luận
87
2. Kiến nghị
89
Tại liệu tham khảo
92

Danh mục chữ viết tắt
XĐGN: Xoá đói giảm nghèo
ESCAP : Uỷ ban Kinh tế và Xã hội Châu á, Thái Bính Dương
KTXH : Kinh tế xã hội
CN-TTCN: Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
BHYT: Bảo hiểm Y tế

của Chủ Tịch Hồ Chì Minh. Xóa đói giảm nghèo được coi là một trong những nội
dung quan trọng ưu tiên hàng đầu trong các mục tiêu phát triển xã hội của các quốc
gia . Đối với Việt Nam, vấn đề xoá đói giảm nghèo càng trở nên quan trọng, là
nhiệm vụ cách mạng cao quý của toàn Đảng, toàn dân, nhất là trong thời kỳ đổi
mới.
Giảm nghèo là tiền đề, là cơ sở quan trọng để đạt được mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” trong thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá hiện nay ở nước ta. Việt Nam đang được các tổ chức quốc tế đánh giá
là một trong những nước đạt thành quả cao trong chương trính giảm nghèo, một
nhiệm vụ cơ bản của mục tiêu thiên niên kỷ. Trong Bỏo cỏo "Việt Nam thực hiện
các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ", tỷ lệ nghèo của cả nước từ 30% năm 1992
cũn 8,3% năm 2004, dưới 7% năm 2005. Bộ mặt các xó nghốo, xó đặc biệt khó
khăn có sự thay đổi đáng kể, nhất là về kết cấu hạ tầng. Chất lượng cuộc sống của
người dân ở các xó nghèo được nâng cao, nhất là nhóm hộ nghèo, đồng bào dân
tộc thiểu số ở miền núi và phụ nữ. Tuy nhiên, cùng với một bộ phận dân cư trở nên
giàu có, thỡ vẫn cũn khụng ớt người nghèo, hộ nghèo đói, nhất là ở các vùng sâu,
vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang là thách thức đối với sự phát triển
đất nước theo hướng nhanh và bền vững.
Đồng thời nghèo đói cũng là vấn đề rất lớn của toàn cầu. Trong số hơn 6
tỷ người của thế giới hiện nay có tới 2,6 tỷ người sống nghèo khó với mức thu
nhập dưới 2 đô la Mỹ một ngày. Hiện nay Việt Nam vẫn là một nước nghèo khi
xếp ở thứ 167 trên thế giới và đến năm 2001 cả nước vẫn còn 17,2% hộ đói nghèo.
Tính trạng nghèo đói tập trung ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều dân
tộc thiểu số. Cụ thể là: miền núi đông bắc chiếm 22,4%, miền núi tây bắc chiếm
34%, bắc trung bộ là 35,6% và tây nguyên là 24,9% (MOLISA). Theo thu thập của
Quỹ Ford, năm 1991 Việt Nam có 19% dân số là dân đô thị, song đến năm 2007 là
27% và hiện số dân đô thị vẫn tăng mỗi năm khoảng 2%.
Trong quá trính phát triển kinh tế – xã hội, những vấn đề đi liền với quá
trính đô thị hoá như: mất việc làm, không còn đất canh tác, không được tiếp cận
với những dịch vụ cơ bản, không tận dụng được các cơ hội nhằm cải thiện đời sống

quan nghiên cứu thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội, đặc biệt là các Tổ chức Quốc tế tại Việt Nam như Liên Hiệp Quốc,
Ngân hàng Thế giới… đã đề cập đén rất nhiều khìa cạnh của thực trạng và giải
pháp coá đói giảm nghèo trong bối cảnh kinh tế – xã hội vĩ mô… Những nghiên
cứu này thường tập trung vào các khìa cạnh chung của phân tầng xã hội và vấn đề
nghèo đói ở diện rộng. Bên cạnh đó, cũng có nhiều nghiên cứu của các tổ chức phi
chình phủ trong nước và quốc tế, các chương trính và đề tài đề cập đến vấn đề xoá
đói giảm nghèo ở từng khìa cạnh hoặc trên từng địa bàn cụ thể, tập trung chủ yếu
vào các vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số.
Trong đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về hoạt động của các tổ
chức chình trị – xã hội, đặc biệt là Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, tổ chức này
được lựa chọn ví sự năng động và tìch cực của họ trong các hoạt động xoá đói
giảm nghèo và đồng thời ví tình đa dạng và linh hoạt của các loại hính hoạt động
trong việc trợ giúp các thành viên của mính vươn lên vượt qua đói nghèo. Đồng
thời cũng tím hiểu về khả năng vươn lên vượt nghèo của bản thân người phụ nữ
nghèo và gia đính họ. Điạ bàn tiến hành nghiên cứu là hai xã Cổ Nhuế và Xuân
Phương thuộc huyện Từ Liêm – Hà Nội. Đây là một trong những xã thuộc vùng
nông thôn của Thủ đô. Nghèo đói ở đây trong nhiều năm qua đã trở thành vấn đề
bức xúc của Đảng bộ và chình quyền các cấp. Các hoạt động ở đây không chỉ
nhằm xoá được đói, giảm nghèo mà còn làm cho hội viên trở nên tìch cực, năng
động và từng bước nâng cao vị thế của mính trong gia đính và xã hội.
Hà Nội với diện tìch là 921,8km2 với dân số là 3.216,7 nghín người(2006)
có 9 quận và 5 huyện. Tại 4 quận nội thành Hà Nội, dân số vào năm 1954 là 400
nghín người, năm 1991 là 800 nghín người và năm 2006 là 1,2 triệu người . Chình
sự gia tăng dân số ở Hà Nội như vậy đã dẫn đến tính trạng nghèo đói. Hiện nay với
sự sát nhập với Hà Tây đã lên hơn 6 triệu người.
Chình ví vậy hoạt động giảm nghèo là một vấn đề luôn luôn nóng bỏng
không chỉ riêng Việt Nam mà cả thế giới, phụ nữ và trẻ em chiếm 80%. Từ sự cấp
thiết của vấn đề ví vậy tác giả chọn đề tài “ Hoạt động giảm nghèo đối với phụ nữ
nghèo ngoại thành Hà Nội”.

nghèo của 2 xã Cổ Nhuế, Xuân Phương (mỗi xã 6 trường hợp)
4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo ngoại thành Hà Nội
b. Khách thể nghiên cứu
- Phụ nữ nghèo ngoại thành Hà Nội.
- Lãnh đạo chình quyền và Hội phụ nữ tại 2 xã
c. Phạm vi nghiên cứu
- Xã Cổ Nhuế, xã Xuân Phương thuộc huyện Từ Liêm
5. Khung lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
1. Giả Thuyết nghiên cứu :
Giả thuyết 1:
Phụ nữ nghèo thường có học vấn thấp, đông con, có nghề nghiệp là thuần
nông hoặc lao động không có chuyên môn.
Giả thuyết 2:
Phụ nữ nghèo có đời sống khó khăn, khó tiếp cận các dịch vụ kinh tế – xã
hội và văn hoá, ìt cơ hội phát triển cho bản thân và gia đính.
Giả thuyết 3:
Hoạt động giảm nghèo đối với phụ nữ phụ thuộc vào tình tìch cực và sự phối
hợp của chình quyền với Hội phụ nữ và các tổ chức quần chúng tổ chức dân sự với
xu hướng “ xã hội hoá” của hoạt động này. Mặt khác và tình chủ động của bản thân
các đối tượng phụ nữ nghèo.
2. Khung lý thuyết


dưỡng…

B. Nội Dung chình
Chương 1: Cơ sở lý luận
I. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1. Tình hình nghiên cứu về nghèo đói
Thực hiện đường lối Đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đất nước
ta đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội và tạo ra những tiền đề cần
thiết để chuyển sang một giai đoạn phát triển mới – giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Việt Nam hiện được cộng đồng thế giới thừa
nhận là một trong số ìt quốc gia đã thành công trong công cuộc cải cách kinh tế –
xã hội, văn hoá và ổn định chình trị xã hội, tăng trưởng kinh tế khá. Đặc biệt,
những thành công trong công cuộc xoá đói giảm nghèo được coi là thành tựu nổi
bật của chúng ta trong thời gian qua.
Tuy nhiên, để đi đến thành công, chúng ta đã và đang đối mặt với nhiều
thách thức để có thể duy trí bền vững các kết quả đạt được. Trong đó, những biểu
hiện mặt trái của quá trính chuyển sang nền kinh tế thị trường, sự phân tầng mức
sống, vấn đề nghèo đói, tệ nạn xã hội, v.v… là những chủ đề đã và đang thu hút sự
quan tâm ngày càng lớn của xã hội và đã trở thành nội dung chình của nhiều công
trình nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu về vấn đề nghèo đói ở nước ta được rất nhiều cơ quan, tổ chức
thực hiện và các kết quả nghiên cứu với quy mô và phạm vi khác nhau đã thể hiện
khá nhiều trong vòng 15 năm nay. Có thể nhóm những công trính nghiên cứu về
nghèo đói dựa theo các tiêu chì khác nhau. Từ góc độ giới gồm các nghiên cứu có
hoặc không đề cập đến các vấn đề nghèo đói của phụ nữ, nam giới, v.v… Dưới đây
xin nêu một số công trính thuộc một vài nhóm nói trên.
Về nghiên cứu vĩ mô, một số nghiên cứu chình có thể kể ra bao gồm“ Giảm
nghèo ở Việt Nam” của UNICF năm 1995” Vấn đề nghèo đói ở Việt Nam” của
ADUKI năm 1995, “Giàu nghèo trong nông thôn hiện nay” của Nguyễn Văn Tiêm
1993, “Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay” của Nguyễn Thị

Một đề tài khác thuộc nhóm này là “ Vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Hồng” do trung tâm nghiên cứu Khoa học về
Phụ nữ và Gia đính cũng đã tiến hành năm 1996. Bên cạnh vai trò của phụ nữ
nông thôn trong phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo, nghiên cứu này cũng đã
đề cập đến vai trò của các đoàn thể chình trị – xã họi như Hội liên hiệp Phụ nữ,
Hội nông dân, v.v trong phát triển kinh tế – xã hội, nói chung và phong trào giảm
nghèo nói riêng.
Ngoài ra còn rất nhiều công trính nghiên cứu của các cơ quan nghiên cứu
thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia nay là Viện Khoa học xã
hội Việt Nam, Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam và các Tổ chức Quốc tế Tại Việt
Nam ( Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Lao động quốc tế, Tổ chức lương nông liên hiệp
quốc ). Tất cả những công trính nghiên cứu đó đã đưa ra những phân tìch cụ thể
về thực trạng kinh tế – văn hóa – xã hội của Việt Nam và xem xét vấn đề nghèo đói
như là một trong những thách thức đối với phát triển bền vững. Trong đề tài này,
chúng tôi không đi sâu vào các khìa cạnh đã được làm rõ trong các công trính
nghiên cứu trước đó mà tập trung phân tìch làm rõ hoạt động của các tổ chức kinh
tế – xã hội có vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo ngoại
thành Hà Nội
2. Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam
2.1.1. Thực trạng nghèo đói.
Quá trính đổi mới của Việt Nam diễn ra trong gần hai mươi năm qua đã làm
thay đổi diện mạo kinh tế – xã hội và văn hoá đất nước. Nền kinh tế của Việt Nam
đã có những bước tăng trưởng khá nhanh, trung bính là 7,76%/năm, nhiều lĩnh vực
đời sống có sự chuyển biến tìch cực. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường đã mở ra những khả năng mới để giải phóng sức sản
xuất của từng cá nhân, từng hộ gia đính. Những nhân tố kím hãm sự phát triển
trước đây đã được tháo gỡ. Tuy nhiên, do quy mô dân số lớn, nhịp độ gia tăng dân
số nhanh, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, trính độ
sản xuất thô sơ, năng suất lao động thấp cho nên về cơ bản Việt Nam vẫn thuộc
nhóm nước nghèo.

thị/nụng thụn qua cỏc năm để loại từ yếu tố biến động giá. Số liệu căn cứ kết quả
chình thức Điều tra mức sống hộ gia đỡnh Việt Nam 2002 và kết quả sơ bộ Khảo
sát mức sống hộ gia đỡnh Việt Nam năm 2004, Tổng cục Thống kê tình toán tỷ lệ
(%) hộ nghèo cho năm 2002 và 2004 theo chuẩn nghèo được Thủ tướng Chình phủ
ban hành áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 (200 nghỡn đồng/người/tháng cho
khu vực nông thôn, 260 nghỡn đồng/người/tháng cho khu vực thành thị) như sau:
Bảng 1.1. Tỷ lệ hộ nghèo 2002 và 2004 theo chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010”
Tỷ lệ ngh ốo
2002
2004
1. Cả nước
23,0
18,1
2.Chia theo khu vực - Thành thị
10,6
8,6
- Nụng thụn
26,9
21,2
3. Chia theo vựng - Đồng bằng sông Hồng
18,2
12,9
- Đông Bắc
28,5

với ngưỡng nghèo đói, do vậy, khi có những dao động về thu nhập cũng có thể
khiến họ trượt xuống ngưỡng nghèo. Tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp
cũng tạo nên khó khăn cho người nghèo.
Mức độ cải thiện thu nhập của người nghèo chậm hơn nhiều so với mức
sống chung và đặc biệt so với nhóm có mức sống cao. Sự gia tăng chênh lệch thu
nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất (từ 7,3 lần năm 1993 lên 8,9
lần năm 1998) cho thấy, tình trạng tụt hậu của người nghèo (trong mối tương
quan với người giàu). Mặc dù chỉ số nghèo đói có cải thiện, nhưng mức cải thiện
ở nhóm người nghèo chậm hơn so với mức chung và đặc biệt so với nhóm người
có mức sống cao. Hệ số chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn còn rất
cao.
Những tỉnh nghèo nhất hiện nay cũng là tỉnh xếp thứ hạng thấp trong cả
nước về chỉ số phát triển con người và phát triển giới.
Đa số người nghèo sinh sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất
nghèo nàn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa
hoặc ở các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung, do sự biến động của
thời tiết (bão, lụt, hạn hán ) khiến cho các điều kiện sinh sống và sản xuất của
người dân càng thêm khó khăn. Đặc biệt, sự kém phát triển về hạ tầng cơ sở của
các vùng nghèo đã làm cho các vùng này càng bị tách biệt với các vùng khác.
Năm 2000, khoảng 20-30% trong tổng số 1.870 xã đặc biệt khó khăn chưa có
đường dân sinh đến trung tâm xã; 40% số xã chưa đủ phòng học; 5% số xã chưa
có trạm y tế; 55% số xã chưa có nước sạch; 40% số xã chưa có đường điện đến
trung tâm xã; 50% chưa đủ công trình thuỷ lợi nhỏ; 20% số xã chưa có chợ xã
hoặc cụm xã.
Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, số người trong diện
cứu trợ đột xuất hàng năm khá cao, khoảng 1-1,5 triệu người. Hàng năm số hộ tái
đói nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi nghèo vẫn còn lớn.
Nghèo đói là một hiện tượng khá phổ biến ở nông thôn với trên 90% số
người nghèo sinh sống ở nông thôn. Năm 1999, tỷ lệ nghèo đói về lương thực,
thực phẩm của thành thị là 4,6%, trong khi đó của nông thôn là 15,9%. Trên 80%

17,0
Nguồn: Tổng cục Thống kê, VLSS 1997-1998; ĐTMS 2002,2004,2006
Khoảng cách giàu nghèo tăng lên và khoảng cách bất bính đẳng này diễn ra
theo trục quan hệ: Nông thôn – Thành thị với 90% người nghèo sống ở địa bàn
nông thôn; Người Kinh – người dân tộc thiểu số. Vùng Tây Bắc và Tây Nguyên
có tỷ lệ nghèo cao nhất (tỷ trọng nghèo ở các dân tộc ìt người lớn gấp 4 lần so với
người Kinh, Hoa, trên thực tế thậm trì còn cao hơn): tỷ lệ nghèo lương thực được
cải thiện không nhiều kể từ năm 1993 và tỷ trọng người nghèo ở nông thôn nhiều
gấp hơn 2 lần ở đô thị năm 2006 ( 17%/7,7%). [1.tr6]
Phần lớn những người nghèo ở thành thị đều tham gia vào làm việc ở các
khu vực không kết cấu.
Trong khu vực thành thị, tuy tỷ lệ nghèo đói thấp hơn và mức sống trung
bính cao hơn so với mức chung cả nước, nhưng mức độ cải thiện điều kiện sống
không đång đều. Đa số người nghèo đô thị làm việc trong khu vực kinh tế phi
chính thức, công việc không ổn định, thu nhập thấp và bấp bênh.
Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và chủ sở hữu trong khu vực Nhà nước dẫn
đến sự dôi dư lao động, mất việc làm của một bộ phận người lao động ở khu vực
này, làm cho điều kiện sống của họ càng thêm khó khăn hơn. Số lao động này phải
chuyển sang làm các công việc khác với mức lương thấp hơn, hoặc không tìm
được việc làm và trở thành thất nghiệp.
Người nghèo đô thị phần lớn sống ở những nơi có cơ sở hạ tầng thấp kém,
khó có điều kiện tiếp cận tới các dịch vụ cơ bản (nước sạch, vệ sinh môi trường,
thoát nước, ánh sáng và thu gom rác thải ).
Người nghèo đô thị dễ bị tổn thương do sống phụ thuộc chủ yếu vào nguồn
thu nhập bằng tiền. Họ thường không có hoặc có ít khả năng tiết kiệm và gặp nhiều
khó khăn trong việc vay vốn tạo việc làm.
Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa làm tăng số lượng người di cư tự do
từ các vùng nông thôn đến các đô thị, chủ yếu là trẻ em và người trong độ tuổi lao
động. Hiện tại chưa có số liệu thống kê về số lượng người di cư tự do này trong các
báo cáo về nghèo đói đô thị. Những người này gặp rất nhiều khó khăn trong việc

vào công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam. Các tổ chức WB, ADB, UNDP,
UNICEF, UNFPA, SIDA, OXFAM các nước, Quỹ cứu trợ Nhi đồng các nước….
Các tổ chức này tiến hành tư vấn cho Chình phủ và các nhà tài trợ Việt Nam trong
nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực xoá đói giảm nghèo. Các tổ chức này còn đưa
đến nông thôn Việt Nam, đặc biệt các vùng sâu vùng xa những dự án phát triển sản
xuất nhằm xoá đói giảm nghèo. Mục đìch các dự án này không cung cấp tài chình
cho các địa phương để giảI quyết nghèo đói trước mắt mà cung cấp cho họ những
kiến thức, kỹ năng và vận động người dân tham gia vào quá trính lập kế hoạch
cũng như thực hiện và tiếp tục các chương trính đó.
2.1.2. Nguyên nhân nghèo đói
Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế – xã hội, vừa là vấn đề của lịch sử để
lại, vừa là vấn đề của phát triển. Nó liên quan trực tiếp tới cuộc sống của các cá
nhân, gia đính và cộng đồng xã hội. Ví vậy, để giải quyết vấn đề giảm nghèo cần
phải xác định được những nguyên nhân dẫn tới hiện tượng nghèo đói. Theo kết quả
nghiên cứu có nhiều nguyên nhân sinh ra đói nghèo, trong đó có nhiều nguyên
nhân cơ bản : Thứ nhất, do sự biệt lập (có thể là sự biệt lập về địa lý, xã hội, về
thông tin); Thứ hai, gặp quá nhiều rủi ro do thiên tai, do không chủ động trong kế
hoạch sinh đẻ, do mùa màng thất thu, hoặc bệnh dịch…., Thứ ba, do thiếu nguồn
lực cho sản xuất (thiếu lao động, đất đai, vốn…); Thứ tư, do thiếu yếu tố bền vững
chủ yếu do rừng ngày càng thu hẹp và Thứ năm, do thiếu sự tham gia vào việc
vạch kế hoạch và thực hiện các chương trính của chình phủ. Tài liệu này cũng đưa
ra một định nghĩa tổng quát về nghèo khổ là “không đủ năng lực tham gia vào đời
sống đất nước, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế”(Sđd.tr2)
Bên cạnh đó cũng còn rất nhiều nguyên nhân gây ra nghèo đói ở Việt Nam
nhưng nói chung nghèo đói ở Việt Nam có nhiều nguyên nhân đó là nguyên nhân
khách quan và chủ quan như sau:
Nguyên nhân lịch sử, khách quan: Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc
hậu vừa trải qua một cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá,
ruộng đồng bị bỏ hoang, bom mín, nguồn nhân lực chình của các hộ gia đính bị sút
giảm do mất mát trong chiến tranh, thương tật, hoặc phải xa gia đính để tham gia

thiết chế phòng ngừa hữu hiệu, dễ tái nghèo trở lại như : thiên tai, dịch bệnh, sâu
hại, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, thất nghiệp, rủi ro về giá sản phẩm đầu
vào và đầu ra do biến động của thị trường thế giới và khu vực như khủng hoảng về
dầu mỏ làm tăng giá đầu vào, rủi ro về chình sach thay đổi không lường trước
được, rủi ro về chình sách thay đổi không lường trước được, rủi ro hệ thống hành
chình kém minh bạch, qun liêu, tham nhũng.
Nền kinh tế phát triển không bền vững, tăng trưởng tuy khá nhưng chủ yếu là do nguồn vốn đầu tư trực
tiếp, vốn ODA, kiều hối, thu nhập từ dầu mỏ trong khi nguồn vốn đầu tư trong nước còn thấp. Tín dụng
chưa thay đổi kịp thời, vẫn còn ưu tiên cho vay các doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả thấp, không thế
chấp, môi trường sớm bị huỷ hoại, đầu tư vào con người ở mức cao nhưng hiệu quả còn hạn chế, số lượng
lao động được đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường còn thấp, nông dân khó tiếp cận tín dụng ngân hàng
nhà nước.
Ở Việt Nam, sự nghèo đói và HIV/AIDS tiếp tục phá hủy từng kết cấu của
tuổi thơ. Các em không được thừa hưởng quyền có một tuổi thơ được thương yêu,
chăm sóc và bảo vệ trong mái ấm gia đính hoặc được khìch lệ phát triển hết khả
năng của mính. Khi trưởng thành và trở thành cha mẹ, đến lượt con cái các em có
nguy cơ bị tước đoạt các quyền đó ví các hiểm họa đối với tuổi thơ lặp lại từ thế hệ
này sang thế hệ khác.
Sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền, thành thị và nông thôn, giữa các dân
tộc về các điều kiện phát triển kinh tế- xã hội hội cũng như phúc lợi xã hội.
Môi trường sớm bị hủy hoại trong khi đa số người nghèo lại sống nhờ vào
nông nghiệp. Hiệu năng quản lý chình phủ thấp.
Với kết quả đã điều tra cũng đã nêu lên các nguyên nhân dẫn tới nghèo đói:
Do sự trở ngại về vị trì địa lý và sự phát triển thấp kém của địa phương (xa xôi, hẻo
lánh, địa hính hiểm trở, đất đai và các tài nguyên ìt), do bản thân từng gia đính (
không có việc làm, không biết làm ăn, thiếu vốn, đông con, có người tàn tật đau
ốm kinh niên, gặp tai nạn, rủi ro), do hậu qủa chiến tranh (liệt sĩ, gia đính chình
sách neo đơn), do các chình sách không thìch hợp. Thông qua đó cũng đưa ra các
giải pháp vĩ mô xoá đói giảm nghèo như: đổi mới cơ cấu sản xuất nông nghiệp, đầu
tư cơ sở hạ tầng, phát triển ngành nghề, tìn dụng cho người nghèo kết hợp với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status