Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn - Pdf 26



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ AN NI

ĐẶC TÍNH DÂN TỘC TRONG VIỆC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN TRONG GIA ĐÌNH
(Nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày,
xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn) Chuyên ngành : Xã hội học
Mã số : 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS. TS. Phạm Văn Quyết

1.1. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng 10
1.2. Hệ thống lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 10
1.3. Hệ thống khái niệm sử dụng trong đề tài 13
1.4. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 18
1.5. Vài nét về địa bàn nghiên cứu 24
CHƢƠNG 2. ĐẶC TÍNH DÂN TỘC TRONG VIỆC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN TRONG CÁC GIA ĐÌNH DÂN TỘC TÀY 26
2.1. Kiến thức của cha mẹ trong lĩnh vực giới tính và tầm quan trọng của giáo
dục giới tính đối với trẻ vị thành niên 26
2.1.1. Hiểu biết của cha mẹ về tuổi dậy thì, sự thay đổi tâm sinh lý và các
mối quan hệ bạn bè của con 26
2.1.2. Quan niệm của cha mẹ về vấn đề quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân và
những điều cấm kỵ của dân tộc Tày liên quan tới vấn đề này 38
2.1.3. Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục giới tính đối với trẻ vị
thành niên 44

1
2.2. Nội dung và phƣơng pháp giáo dục giới tính cho con trong độ tuổi vị thành
niên của cha mẹ ngƣời Tày 46
2.2.1. Các nội dung về biến đổi tuổi dậy thì cha mẹ ngƣời Tày dạy cho con
46
2.2.2. Phƣơng pháp giáo dục giới tính của cha mẹ với con trong tuổi vị
thành niên 53
2.2.3. Đánh giá của cha mẹ về kiến thức giới tính của con 61
2.3. Giáo dục giới tính trong gia đình nhìn từ góc độ trẻ vị thành niên 63
2.3.1. Đánh giá về vai trò của gia đình trong việc giáo dục giới tính cho trẻ
vị thành niên 63
2.3.2. Mong muốn về các thông tin giới tính đƣợc cung cấp 66
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 68
1. Kết luận 68

trong tuổi vị thành niên mang thai 40
Hình 2.3. Hành động của cha mẹ khi con gái có thai 41
Hình 2.4. So sánh sự cần thiết trao đổi với con về các vấn đề liên quan tới tuổi dậy thì
giữa cha mẹ ngƣời dân tộc Kinh và dân tộc Tày 45
Hình 2.5. Hình thức cung cấp thông tin về giới tính cho trẻ vị thành niên 59

DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 2.1. Lễ cúng sláo lƣờn của ngƣời Tày 42
Hộp 2.2. Chuyện của Lộc Thị B 52

4
MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong vài thập niên gần đây, các công trình nghiên cứu về tâm lý học, giáo
dục học cho thấy gia tốc phát triển của trẻ em rất nhanh. Điều này biểu hiện thông
qua sự trưởng thành và chín muồi nhanh về sinh lý giới tính (tuổi dậy thì phát triển
sớm hơn) và sự phát triển của tâm lý giới tính (nhu cầu quan hệ giới tính phát triển,
quan hệ với bạn bè khác giới, ứng xử với bạn khác giới…). Ở lứa tuổi dậy thì, các
em bắt đầu nảy sinh sự tò mò khám phá bản thân, những cảm xúc, tâm lý, các trạng
thái tình cảm mới mẻ, khác biệt với những gì các em đã từng trải qua trước đây.
Mặc dù vậy, những kiến thức được trang bị cho các em về vấn đề giới tính, tình
bạn, tình yêu còn rất hạn chế và không đầy đủ, chính xác. Là một nước Á đông,
giáo dục giới tính (GDGT) là một là một đề tài tế nhị nên từ xưa đến nay ít được đề
cập tới. Nhiều người quan niệm rằng việc dạy dỗ cho trẻ em về vấn đề này chính là
“Vẽ đường cho hươu chạy”. Chính vì vậy, trong một thời gian dài trước kia, cả nhà
trường, gia đình và xã hội đều hạn chế đề cập tới. Hiện nay, quan niệm về vấn đề
này đã cởi mở hơn nhưng việc GDGT cũng còn nhiều bất cập. Trong nhà trường,
những nội dung này thường được lồng ghép trong môn Sinh học và Giáo dục công
dân. Cả giáo viên và học sinh đều có tâm lý ngại ngùng, xấu hổ khi giảng dạy về sự

so với nhóm thanh niên tuổi 18-25 chưa lập gia đình (nam: 13,6% và nữ 2,2%).
Trong số nữ thanh niên trả lời đã QHTD trước hôn nhân có 26,8% số chưa lập gia
đình trả lời đã từng có thai. Như vậy cứ 4 người đã QHTD trước hôn nhân thì 1
người đã mang thai [6].
Dân tộc Tày là một cộng đồng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái có số dân
khoảng 1.500.000 người, đông nhất trong các dân tộc thiểu số nước ta. Ở Lạng Sơn,
dân tộc Tày chiếm số lượng đông đảo nhất. Là một dân tộc thiểu số lại nằm ở tỉnh
phía Bắc Việt Nam, đời sống của người dân ở đây còn gặp nhiều khó khăn và nhận
thức cũng còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, sự quan tâm của cha mẹ tới GDGT cho
con cái trong lứa tuổi VTN còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, yếu tố văn hóa dân tộc
cũng có những ảnh hưởng nhất định tới việc GDGT cho con cái. Nghiên cứu “Đặc
tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình
(nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày tại xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh
Lạng Sơn)” nhằm tìm hiểu các yếu tố, các đặc trưng của tộc người có ảnh hưởng
như thế nào tới nhận thức của cha mẹ về tầm quan trọng của việc GDGT cho con
cái trong lứa tuổi VTN, cũng như những nội dung, phương pháp, cách thức họ dạy
dỗ con về vấn đề này.

6
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc xây dựng một chương trình
hỗ trợ, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho cha mẹ thuộc nhóm các dân tộc ít người
trong việc GDGT cho con ở lứa tuổi VTN.
- Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm những khái niệm, phương
pháp của Xã hội học, góp phần bổ sung các tri thức thực tiễn vào hệ thống tri thức
và phương pháp nghiên cứu môn xã hội học Gia đình, xã hội học Văn hóa.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu nhằm làm rõ yếu tố, các đặc trưng của tộc người có tác
động tới việc GDGT cho con cái của cha mẹ, từ đó góp thêm tiếng nói vào việc

4.3. Khách thể nghiên cứu
- Các bậc cha mẹ trong các gia đình dân tộc Tày có con trong lứa tuổi 13 - 18
- Trẻ em trong lứa tuổi 13 – 18 có cha, mẹ là người dân tộc Tày
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập thông tin
5.1.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp này được vận dụng trong quá trình tác giả xây dựng đề cương
nghiên cứu cũng như trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Tài liệu là kết quả nghiên cứu của các đề tài, các dự án đã có, bài viết trên
các báo in, tạp chí, các trang báo điện tử và các số liệu thống kê có liên quan tới đề
tài nghiên cứu.
5.1.2. Phương pháp quan sát
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình thu thập số liệu tại địa bàn
nghiên cứu. Tác giả đã có 3 tuần sống cùng một gia đình người dân tộc Tày và tiếp
xúc với nhiều bậc cha mẹ, VTN người Tày trong quá trình PVS và phỏng vấn bằng
bảng hỏi tại xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
Các thông tin thu được từ phương pháp quan sát có ý nghĩa hết sức quan
trọng trong nghiên cứu này. Đó là những thông tin bổ sung, kiểm chứng cho các
thông tin thu được từ các phương pháp khác.
5.1.3. Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Phương pháp này được áp dụng với cha mẹ là người dân tộc Tày, có con
trong độ tuổi 13 – 18 tại 6 thôn của xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, Lạng Sơn. Tác
giả đã tiến hành phỏng vấn bằng bảng hỏi với 145 vị phụ huynh và xử lý toàn bộ số
phiếu thu về. Bảng hỏi được xây dựng với 27 câu hỏi chia làm 5 phần bao gồm:
kiến thức của cha mẹ về vấn đề giới tính, các nội dung về giới tính cha mẹ dạy dỗ

8
con cái, thái độ về QHTD, mang thai trước khi cưới, cách thức dạy bảo con cái về
vấn đề giới tính và thông tin chung về bản thân, gia đình người được phỏng vấn. Do
đặc thù là nhóm người ở vùng cao, trình độ học vấn hạn chế, lại là những người dân

9
- Tâm sự, giải thích, nói chuyện trực tiếp là hình thức chủ yếu cha mẹ giáo dục giới
tính cho con trong tuổi VTN.
- Gia đình không phải là nguồn chính cung cấp thông tin giới tính cho trẻ vị thành
niên.
- So với cha mẹ người Kinh ở Nam Định, tỷ lệ cha mẹ người Tày ở Tân Thanh nhận
thức được tầm quan trọng của việc GDGT cho trẻ VTN thấp hơn.
6.2. Khung lý thuyết
Nhận thức của
cha mẹ về tầm
quan trọng của
GDGT cho trẻ
VTN

Kiến thức và kỹ
năng của cha
mẹ trong việc
GDGT cho trẻ

- Những quy luật vận động phát triển của xã hội phải được xem xét khách
quan như nó đang tồn tại;
- Những hiện tượng xã hội phải được xem xét trong mối quan hệ biện
chứng với nhau;
- Xem xét các hiện tượng xã hội phải hướng đến cái bản chất, không tới cái
ngẫu nhiên, bất bình thường;
- Tuân thủ các nguyên tắc lịch sử cụ thể;
- Xem xét yếu tố con người mang bản chất xã hội, trong tính hiện thực của
nó “con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, đồng thời cũng là chủ
thể của xã hội; từ đó coi việc ra sức phát huy nhân tố con người, con
chiến lược con người là điểm mấu chốt của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Trong đề tài này, các nguyên lý cơ bản nêu trên được vận dụng để tìm hiểu
tính dân tộc trong việc GDGT cho trẻ VTN trong gia đình người dân tộc Tày. Cụ
thể là tác giả tìm hiểu các phong tục, những kiêng kỵ của tộc người có ảnh hưởng
như thế nào tới việc GDGT cho trẻ; sự giao lưu văn hóa, kinh tế có tác động tới nội
dung, phương pháp giáo dục trẻ ra sao.
1.2. Hệ thống lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu
1.2.1. Phương pháp luận dân tộc học
Phương pháp luận dân tộc học cũng là một lĩnh vực xã hội học quan tâm tới vì
nó nghiên cứu toàn bộ tri thức, hành vi ứng xử, những quá trình, nếp sống, lối sống
của một nhóm người trong xã hội trên cơ sở giải thích những loại hành động xã hội,
những phong tục tập quán truyền thống của xã hội. Tác giả nổi tiếng của trường
phái phương pháp luận dân tộc học là Harold Garfinkel.
- Phương pháp nghiên cứu thiết chế xã hội: Để nghiên cứu thiết chế xã hội,
việc nghiên cứu môi trường thiết chế, mối quan hệ của môi trường thiết chế có ý

11
nghĩa quan trọng để xác định những mô hình hành vi ứng xử, xác định phong tục
tập quán của các nhóm xã hội khác nhau. Do đó, mỗi thành viên trong cộng đồng có
xu hướng tuân thủ các giá trị của tập thể hay các mô hình mà mọi người xung quanh

Vai trò là tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được gán cho
một địa vị cụ thể. Những sự mong đợi này xác định các hành vi của con người được
xem như là phù hợp và không phù hợp đối với người chiếm giữ một địa vị. Mỗi cá
nhân có một loạt vai trò được đem lại từ những hình mẫu xã hội khác nhau mà anh
ta tham dự. Trong cả cuộc đời, mỗi cá nhân thực hiện một số những vai trò khác
nhau và tổng hợp tất cả các vai trò xã hội của anh ta đã thực hiện từ khi sinh ra cho
đến lúc chết tạo thành nhân cách xã hội của chính người đó.
Tương ứng với mỗi quan hệ xã hội, cá nhân có một địa vị xã hội, nhưng cá
nhân thường có rất nhiều quan hệ xã hội khác nhau, do vậy họ cũng có nhiều địa vị
khác nhau. Mỗi địa vị đó tương ứng với một vai trò cụ thể. Chính vì vậy một cá
nhân luôn có nhiều vai trò khác nhau. Do đó, Merton đã đưa ra khái niệm hệ vai trò
để chỉ một cấu trúc gồm các vai trò và các quan hệ của chúng mà cá nhân thực hiện
khi nắm giữ một địa vị xã hội nhất định.
Talcott Parsons đã phân tất cả các loại vai trò đa dạng khác nhau của cá nhân
thành năm loại cơ bản:
- Một số vai trò đòi hỏi sự kiềm chế tình cảm khi thực hiện, trong khi một
số vai trò khác lại không cần sự kiềm chế này.
- Một số vai trò xã hội dựa trên địa vị đã có sẵn, một số vai trò dựa trên địa
vị đạt được.
- Một số vai trò được xác định hẹp còn một số khác lại được xác định rộng.
- Một số vai trò đòi hỏi các cá nhân có thái độ ứng xử với mọi người theo
các nguyên tắc chung; ngược lại, một số vai trò khác đòi hỏi phải đối xử
với người khác theo cách đặc thù vì những quan hệ đặc biệt với họ.
- Các vai trò khác nhau có những động cơ khác nhau.
Theo năm loại vai trò do Parsons phân định, trong gia đình, vai trò của cha
mẹ dựa trên địa vị đã có sẵn, và khi đó gia đình trở thành một thiết chế giáo dục,
đóng vai trò xã hội hóa trẻ em và do đó, cha mẹ đóng vai trò là những nhà sư phạm,
giúp con cái hòa nhập, thích nghi với xã hội. Trong nghiên cứu này, vai trò xã hội
của cha mẹ được xem xét từ khía cạnh giáo dục, xã hội hóa cho con ở tuổi VTN về
vấn đề tuổi dậy thì, tình bạn tình yêu.

Theo đó, trong nghiên cứu này, đặc tính dân tộc được hiểu là những nét tiêu
biểu, đặc trưng về văn hóa, phong tục tập quán, suy nghĩ, lối sống (sinh hoạt, giao
tiếp, thói quen ) của nhóm người dân tộc thiểu số, cụ thể là dân tộc Tày.
Trong đời sống hàng ngày, người Tày rất coi trọng thứ bậc tôn ty trật tự
trong gia đình. Việc cha mẹ dạy bảo con cái rất được quan tâm tới tuy nhiên chỉ ở

14
góc độ giáo dục cách ứng xử, lễ phép thông thường. Những vấn đề “tế nhị”, “nhạy
cảm” liên quan tới mối quan hệ nam nữ, sự phát triển tâm sinh lý tuổi dậy thì ít
được đề cập tới một cách thẳng thắn. Mẹ thường nói riêng với con gái, cha ít nói với
con trai bởi chính trong suy nghĩ của mình họ cũng cho rằng các em khắc lớn khắc
biết.
1.3.2. Khái niệm Giới
Khái niệm giới được hiểu là những đặc điểm, tính cách, cách ứng xử, vai trò
và trách nhiệm của con trai và con gái mà xã hội quy định. Các đặc điểm này được
hình thành từ cuộc sống, chịu ảnh hưởng của gia đình, bạn bè, tôn giáo, văn hóa,
nhà trường, báo chí… Các đặc điểm này có thể thay đổi được.
1.3.3. Khái niệm Giới tính
Giới tính là khái niệm chỉ tập hợp những đặc điểm, tính chất riêng biệt tạo
nên sự khác nhau giữa nam và nữ, những đặc điểm ấy giúp ta phân biệt được dễ
dàng nam và nữ. Giới tính hình thành từ hai nguồn gốc:
- Nguồn gốc sinh học: nam với nhiễm sắc thể XY, nữ là nhiễm sắc thể XX;
nhiễm sắc thể quy định tính trạng nam, nữ là Y, X. Cấu tạo cơ thể, nội tiết, tâm sinh
lý bắt nguồn từ đó.
- Nguồn gốc xã hội: tình cảm, ý thức được hình thành qua giao tiếp dưới ảnh
hưởng của giáo dục, xã hội. Mỗi xã hội có sự phân công lao động riêng, có quan
niệm về giới tính theo những chuẩn mực đạo đức và văn hóa nhất định.
Như vậy, giới tính là chỉ sự phân biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, theo
đó các đặc điểm về giới tính không thể thay đổi được trừ khi phẫu thuật.
1.3.4. Khái niệm Giáo dục giới tính

truyền giống ở đàn ông, chức năng sinh đẻ ở đàn bà cũng cần được giải thích làm
sáng tỏ cơ sở khoa học của sự hoạt động có quy luật của hành vi tình dục nhằm
mang lại “sự an toàn và tự do” cho con người. Con người chỉ cảm thấy “tự do” khi
đã nắm vững được cái “tất yếu”, những quy luật phát triển sinh lý, tâm lý của con
người.
1.3.4.4. Định nghĩa của D.N.Ixaev và V.E.Kagan
Theo D.N.Ixaev và V.E.Kagan, GDGT cần được hiểu theo hai nghĩa. Trước
hết, theo nghĩa rộng, thuật ngữ GDGT chỉ sự ảnh hưởng của môi trường đến sự phát
triển tâm lý tình dục và sự hình thành cá nhân. Môi trường bao quanh con người là
thực thể nhiều mặt và cơ động, không phải lúc nào cũng hoạch định được hay mong
muốn được những ảnh hưởng của nó. GDGT là một bộ phận hợp thành của giáo dục
học đại cương “Giáo dục phải đảm bảo sự phát triển tự do và vui sướng của mọi thể

16
hiện tăng trưởng của con người từ bầu vú mẹ đến chiếc giường chung vợ chồng”
[29, tr.17].
Theo nghĩa hẹp, GDGT là một quá trình tác động có hệ thống, được hoạch
định và thực hiện một cách có ý thức, hướng tới kết quả cuối cùng xác định vào sự
phát triển tâm lý và thể chất của em trai và em gái với mục đích tối ưu hóa sự phát
triển nhân cách và hoạt động của chúng trong mọi lĩnh vực của đời sống có liên
quan tới các mối quan hệ của hai giới.
Tóm lại: GDGT là một vấn đề quan trọng trong việc giáo dục sự phát triển toàn
diện của con người. GDGT nhằm bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những hiểu biết cần thiết
về giới tính, giúp họ có thái độ và kỹ năng giao tiếp, ứng xử lịch sự, văn minh trong
quan hệ với người khác giới trong hoạt động và đời sống xã hội. GDGT chủ yếu
hướng vào thế hệ trẻ trước hôn nhân. Ở nhiều nước, GDGT được tiến hành từ lứa
tuổi mẫu giáo và đặc biệt được quan tâm ở giai đoạn tuổi dậy thì và thanh niên.
Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, các nội dung GDGT cha mẹ người Tày dạy con
được nghiên cứu là:
- Giải thích về sự thay đổi của cơ thể khi trẻ bước vào tuổi dậy thì

thường trong ứng xử, hành vi và có sự thay đổi rõ nét trong mối quan hệ với gia
đình, bạn bè và xã hội.
Như vậy, trong giai đoạn không còn là trẻ con cũng chưa trở thành người
lớn, đặc trưng cơ bản của VTN là sự tăng trưởng nhanh về thể chất với việc hoàn
thiện cơ quan sinh sản và sự phát triển về nhân cách.
1.3.6. Khái niệm Gia đình
Gia đình được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc
(UNESCO) định nghĩa: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng
sống chung và có cùng ngân sách chung”. Như vậy, gia đình là một nhóm xã hội
đặc biệt gắn bó với nhau bởi huyết thống và tình cảm. Gia đình được hình thành
trên cơ sở hôn nhân, và quan hệ huyết thống có được từ hôn nhân đó.
Gia đình là một thiết chế đặc biệt, có nhiều chức năng khác nhau và đầu tiên
phải kể tới là chức năng xã hội hóa. Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên giúp
cá nhân thích nghi, làm quen với đời sống xã hội. Chính vì vậy, gia đình có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục cho các thành viên để hòa nhập với xã hội.
1.3.7. Giáo dục giới tính cho vị thành niên trong gia đình
GDGT là một phần của hoạt động giáo dục trong gia đình, chuẩn bị các kiến
thức cần thiết cho VTN để các em có tâm lý vững vàng, biết cách ứng phó với
những thay đổi bất ngờ về sinh lý cũng như tâm lý ở độ tuổi mới lớn. Tuy nhiên
hiện nay việc GDGT trong các gia đình Việt Nam nói chung và gia đình người dân

18
tộc Tày nói riêng vẫn chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức. Chính vì vậy,
việc nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này có ý nghĩa quan trọng để góp phần thúc đẩy
việc nâng cao vai trò của gia đình trong việc GDGT cho thế hệ tương lai.
1.4. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.4.1. Các công trình nghiên cứu, bài viết về vấn đề giáo dục giới tính
GDGT không phải là một chủ đề mới trong các nghiên cứu, bài viết, đã có
rất nhiều nghiên cứu, bài báo, sách viết về đề tài này ở những khía cạnh khác nhau.
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả xin đề cập tới một số bài viết,

chúng với các chuyên ngành khoa học có liên quan.
Bài viết “Về vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ em trong gia đình” của tác giả
Nguyễn Thị Tố Quyên trên Tạp chí Xã hội học số 1, năm 2005 cho thấy 61,6% bố
mẹ thấy cần thiết phải trao đổi với con về vấn đề giới tính, trong đó 56,6% ông bố
và 64,3% bà mẹ cho rằng cần phải giáo dục về vấn đề này (trang 87). Liên quan tới
phương pháp GDGT, bài viết cũng đã chỉ ra một thực tế ngoài việc trò chuyện trực
tiếp, có tới 20,5% ông bố và 24,2% bà mẹ cho rằng chỉ cần GDGT, tình dục và
SKSS cho con bằng việc mua sách báo cho chúng tự học, không cần trao đổi hay
nói chuyện trực tiếp về vấn đề này. Bài viết này đã chỉ ra được thực trạng hiện nay
trong việc GDGT của các gia đình, tuy nhiên chưa lý giải được những nguyên nhân
dẫn tới thực trạng đó.
Luận án phó tiến sỹ khoa học tâm lý “Những yếu tố tâm lý trong sự chấp
nhận giáo dục giới tính cho thanh niên, học sinh” của tác giả Bùi Ngọc Oánh đã
phát hiện được những yếu tố tâm lý ảnh hưởng tới sự chấp nhận GDGT ở thanh
niên học sinh, từ đó đề xuất một số phương hướng, biện pháp nhằm nâng cao sự
chấp nhận đó ở thanh niên, học sinh. Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ tìm hiểu sự
chấp nhận GDGT trong nhà trường mà chưa đề cập tới khía cạnh GDGT trong gia
đình.
Luận án tiến sỹ giáo dục “Một số biện pháp giáo dục giới tính cho sinh viên
Đại học Sư phạm” của nghiên cứu sinh Phan Bích Ngọc nhằm đánh giá thực trạng
sử dụng biện pháp GDGT cho sinh viên đại học sư phạm và đưa ra các biện pháp,
nội dung GDGT cho họ. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào nhóm đối
tượng đặc thù là sinh viên trong trường Đại học Sư phạm.
Tóm lại, các cuốn sách, bài viết nêu trên mới chỉ đưa ra được những nội
dung nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản cho người đọc cũng như nêu lên tầm
quan trọng, vai trò của gia đình, nhà trường trong việc GDGT cho VTN, thanh niên.
Hai luận án đã tìm hiểu ở những khía cạnh cụ thể hơn trong việc GDGT cho sinh
viên, học sinh.

20

chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân và cuộc sống văn minh của toàn xã hội.

21
Trong những năm 1984, 1986, các Hội nghị UNESCO đã làm sáng tỏ những
yêu cầu về giáo dục đời sống gia đình và GDGT trong quá trình giáo dục ở các
nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Nội dung và phương pháp GDGT ở các
nước có thể có những khía cạnh khác nhau vì mỗi dân tộc đều có những phong tục
tập quán, những đình hướng giá trị về tgd, về nam, nữ khác nhau. Nhưng tất cả đều
thống nhất ý kiến về tầm quan trọng và sự cần thiết phải GDGT cho thế hệ trẻ, giúp
họ làm chủ quá trình sinh sản của mình một cách khoa học, phù hợp với tiến bộ của
xã hội.
1.4.2.2. Giáo dục giới tính ở Việt Nam
Nhận thức về giới có từ rất sớm trong văn hóa truyền thống Việt Nam. Trong
ca dao, truyền thuyết, dân ca, nghệ thuật, khảo cổ… của các dân tộc đều cho thấy
ngay từ thời xa xưa, ông cha ta đã có quan niệm về giới, “Trời – Cha”, “Mẹ - Đất”,
Trời – Đất như một cặp Nam – Nữ. Trong nền văn hóa Chàm có những tượng thờ
bằng đá thể hiện quan niệm rất rõ về đặc điểm giới và giới tính.
Nhận thức về giới và GDGT trong văn hóa còn được thể hiện trong các
phong tục, đặc biệt là trong các lễ hội cổ truyền của nhiều địa phương. Nói chung,
người Việt cổ có quan niệm tương đối đầy đủ về các yếu tố của vấn đề tâm sinh lý
giới tính, khá cởi mở, phóng khoáng về tình dục, coi đó là hành động tự nhiên, cần
thiết để bảo tồn và phát triển nòi giống, có quan hệ đến sự phồn thịnh và hạnh phúc
của quốc gia, dân tộc.
Sau khi tiếp nhận ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo với chữ Lễ được đề cao,
dần dần khía cạnh tâm lý xã hội của giới tính được khai thác nhằm phục vụ lợi ích
của giai cấp phong kiến, tạo nên sự bất bình đẳng về giới. Hàng rào lễ giáo được
dựng lên, ngăn chặn một cách giả tạo sự tiếp xúc giữa những người khác giới.
Những chuyện liên quan đến khía cạnh sinh lý của giới tính và tình dục trở thành
điều cấm kỵ đối với giới trẻ. Toàn xã hội được hướng dẫn bởi những thuyết giáo
đạo đức “Trung, Hiếu, Tiết hạnh” phục vụ cho quân quyền, phụ quyền và nam

- Biết cách tìm được lối giải quyết đúng đắn các vấn đề đạo đức cụ thể, xuất hiện
trong lĩnh vực các quan hệ theo tinh thần của đạo đức xã hội;
- Kiên định trước ảnh hưởng của tư tưởng cổ vũ cho tính phóng đãng về tình dục và
thái độ hưởng thụ đối với người khác giới, coi thường các giá trị đạo đức.
1.4.3.2. Nhiệm vụ của giáo dục giới tính
- Giúp cho thế hệ trẻ có hiểu biết nhất định về giới tính và có kỹ năng xây dựng các
quan hệ của mình với người khác trên cơ sở tính đến những đặc điểm giới tính của
họ. Hình thành và giáo dục một số phẩm chất đạo đức giới tính (biết yêu thương,

23
quan tâm đến người thân xung quanh mình, có ý thức trách nhiệm và tôn trọng mọi
người, mong muốn đem lại điều tốt lành cho người khác…)
- Giáo dục cho thanh thiếu niên nguyện vọng có một gia đình hạnh phúc, khỏe
mạnh, ít con (1 hoặc 2 con) và có thái độ tự giác, có trách nhiệm đối với việc nuôi
dưỡng và giáo dục con cái.
- Giáo dục thái độ có trách nhiệm đối với sức khoẻ của mình và của người khác.
Biết đề phòng tác hại của các mối QHTD quá sớm và ý thức không chấp nhận thái
độ vô trách nhiệm, nhẹ dạ trong lĩnh vực quan hệ thầm kín nhất với người khác
giới.
1.4.3.3. Nội dung của giáo dục giới tính
GDGT có thể chia ra thành ba nội dung:
- Giáo dục tâm lý nhân cách, các đặc điểm tâm lý (hành vi, đạo đức, phép ứng xử
của từng người), thái độ đối với vợ, chồng, với con và những người khác trong xã
hội.
- Giáo dục sinh lý, đời sống sinh sản: đặc điểm và những điều cần biết về vấn đề
sinh lý, giới tính về hôn nhân và đời sống vợ chồng cho mỗi lứa tuổi, mỗi giới.
- Giáo dục xã hội: nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của từng giới đối với xã hội
và ngược lại.
1.4.4. Ý nghĩa của giáo dục giới tính trong sự phát triển nhân cách của trẻ
GDGT là hệ thống các biện pháp y khoa và sư phạm nhằm giáo dục cho mỗi

của người dân ở Tân Thanh đã có nhiều thay đổi, được cải thiện đáng kể. Tuy
nhiên, cùng với đó, các tệ nạn xã hội cũng phát triển theo. Lợi dụng chính sách mở
cửa quan hệ buôn bán Việt Nam – Trung Quốc, các loại tội phạm hoạt động qua
biên giới như chuyển tiền giả, vũ khí, ma tuý, buôn bán phụ nữ, trẻ em đã xuất hiện.
Điều này có tác động không nhỏ tới đời sống của người dân nơi đây.
Trước kia, Tân Thanh là địa bàn cư trú của hai dân tộc chính là Tày và Nùng.
Tuy nhiên, từ khi mở cửa biên giới với các hoạt động giao lưu thương mại, người
Kinh tới Tân Thanh sinh sống và làm ăn ngày một nhiều. Và một lần nữa sự giao
thoa văn hoá giữa các dân tộc lại có điều kiện phát triển. Bên cạnh những nét đặc
trưng dân tộc vẫn còn lưu giữ được, nhiều yếu tố đã có sự biến đổi để thích nghi
trong thời đại mới.
Điểm nổi bật của người Tày ở Tân Thanh là việc cấm nam nữ chưa kết hôn
ngủ với nhau trong nhà bởi hành động như vậy làm dơ bẩn cửa nhà, khi đó gia đình
phải tổ chức lễ cúng sláo lườn để rửa sạch nhà, chuộc lỗi với ông bà tổ tiên. Ngày
nay, với sự phát triển của các nhà nghỉ, khách sạn cũng như ảnh hưởng bởi phim


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status