Đánh giá tình trạng quần thể Vooc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa, Phượng Hoàng tỉnh Thái Nguyên - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG & MÔI TRƯỜNG
 
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG QUẦN THỂ VOỌC ĐEN MÁ TRẮNG
(Trachypithecus francoisi) Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
THẦN SA - PHƯỢNG HOÀNG - THÁI NGUYÊN
NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ SỐ : 302
Giáo viên hướng dẫn : TS. Đồng Thanh Hải
Sinh viên thực hiện : Lê Đình Duy
Khoá học : 2006 – 2010

Hà Nội, 2010
Chương I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thú Linh trưởng là nhóm động vật bậc cao và hầu hết các loài trong Bộ
đều được liệt kê trong sách đỏ thế giới và Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay tình
trạng của các quần thể thú linh trưởng đang đứng trước các nguy cơ bị đe dọa
rất nghiêm trọng. Vooc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) cũng là một
trong số đó.
Voọc đen má trắng đã được phát hiện cách đây đã khá lâu ở Việt Nam,
tuy nhiên tình trạng quần thể cũng như những đặc điểm về sinh thái và tập
tính của loài này vẫn chưa được đi sâu nghiên cứu. Hiện tại, số lượng Voọc
đen má trắng và phân bố của chúng vẫn là một câu hỏi đối với các nhà quản
lý và bảo tồn. Trước những năm 1973, Voọc đen má trắng được xác định là
có vùng phân bố khắp khu vực Đông Bắc, với số lượng cá thể tương đối lớn.
Tuy nhiên, hiện nay tình trạng của những quần thể Voọc đen má trắng đang bị
đe dọa và suy giảm một cách nghiêm trọng. Loài chỉ còn được bắt gặp ở một
số khu vực nhỏ của các tỉnh vùng Đông Bắc như: Hà Giang, Tuyên Quang,
Bắc Cạn, Thái Nguyên.

2002 3 25 Phạm Nhật (2002)
2004 3 24 Roos (2004)
2004 3 24 Groves (2004)
Qua bảng 2.1 có nhận xét, mặc dù có sự khác nhau về quan điểm, các
tác giả đều cơ bản thống nhất rằng Linh trưởng Việt Nam có 3 họ chính: Họ
Cu li ( Loridae ), họ khỉ (Cercopithecidae), họ Vượn (Hylobatidae); Số loài và
phân loài dao động từ 24 đến 25.
Tuy nhiên, có một điểm đáng lưu ý trong hệ thống phân loại mới hiện
nay là một số loài trước đây được xếp ở mức độ phân loài nay để thành loài
riêng biệt (Groves, 2004; Roos, 2004). Groves (2004) đã đưa ra hệ thống phân
mới cho Linh trưởng Việt Nam (bảng 2.2).
4
Bảng 2.2: Phân loại khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam
(Nguồn: Grove, 2004)
TT
Tên loài
Phổ thông Khoa học
1 Cu li lớn Nycticebus bengalensis
2 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus
3 Khỉ cộc Macaca arctoides
4 Khỉ mốc Macaca assamensis
5 Khỉ đuôi lợn Macaca leonine
6 Khỉ vàng Macaca mulatta
7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis
8 Voọc xám Trachypithecus crepusculus
9 Voọc bạc Trachypithecus obscurus
10 Voọc gec manh Trachypithecus germaini
11 Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi
12 Voọc đầu trắng Trachypithecus poliocephalus
13 Voọc gáy trắng Trachypithecus hatinhensis

Dài sọ 92- 110,4mm, dài khẩu cái 28,2 - 34mm rộng gò má 66,5-
82mm.
2.2.2. Sinh thái và tập tính
Nơi sống điển hình của Voọc đen má trắng là rừng giàu, nhiều cây gỗ
lớn trên núi đá vôi. Tuy nhiên, cũng đã gặp Voọc đen má trắng sinh hoạt kiếm
ăn cả trong một số kiểu rừng khác như rừng kín thường xanh, rừng kín nửa
rụng lá nhưng nằm kề với rừng trên núi đá vôi.
Khu vực sống của Voọc đen má trắng thường ổn định qua nhiều năm
nếu không bị săn bắn hoặc chặt phá. Trong khu vực sống Voọc đen má trắng
có ít nhất là 2 chỗ ngủ. Chỗ ngủ của Voọc đen má trắng là các vách núi đá
dựng đứng, nơi có nhiều hang.
Voọc má trắng sống từng đàn. Trước đây đàn Voọc thường rất đông, 20
- 30 con (Lê Hiền Hào, 1973). Khảo sát thực địa ở Phong Quang - Hà Giang,
Ba Bể, Chợ Đồn, Na Rì trong những năm gần đây cho thấy, Đàn Voọc đen
má trắng có số lượng thay đổi phổ biến từ 5 - 15 con (Phạm Nhật,2000). Về
cấu trúc đàn, theo một số thợ săn thì mỗi đàn có một con đầu đàn và đó là một
con đực nhanh nhẹn. Tuy nhiên, cầu trúc của đàn Voọc đen má trắng hình như
không chặt chẽ và vai trò của con đầu đàn không rõ nét.
6
Hoạt động kiếm ăn của Voọc đen má trắng diễn ra ngày 2 buổi, sáng và
chiều , trưa nghỉ. Cường độ kiếm ăn của voọc đen má trắng diễn ra mạnh và 2
thời điểm đầu buổi sáng đến khoảng 10 giờ và từ 14 giờ đến 16 giờ 30.
Thời gian hoạt động trong ngày có khác nhau. Mùa nóng, Voọc rời chỗ
ngủ sớm, về hang muộn và thời gian nghỉ trưa khá dài. Về mùa lạnh, chúng đi
kiếm ăn muộn và về hang sớm.
Hoạt động của đàn Voọc ít ồn ào, chúng chỉ phát ra những âm thanh
nhỏ nhẹ "oọc, oọc ". Âm thanh của Voọc đen má trắng phát ra rất giống với
âm thanh của Voọc mông trắng, Voọc gáy trắng và Voọc đầu trắng.
Mùa nóng, Voọc đen má trắng thường ngủ trên các gờ đá hoặc các cây
gỗ trước cửa hang, ngược lại mùa đông chúng ngủ trong hang.

khu vực. (Báo cáo khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng). Tuy
nhiên hiên trạng của các loài Linh trưởng tại khu vực vẫn còn thiếu. Chưa có
công trình nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu các loài Linh trưởng tại khu
vực. Trong khi đó các mối đe doạ đối với đa dạng sinh học nói chung và đối
với các loài Linh trưởng nói riêng thì ngày một tăng lên. Vì vậy, những thông
tin về tình trạng quần thể, phân bố và các mối đe dọa đối với loài và sinh cảnh
của chúng là rất cần thiết phục vụ cho công tác quản lý và bảo tồn lâu dài.
2.4. Hiện trạng bảo tồn
Trước năm 1973, vùng phân bố của Voọc đen má trắng rất rộng và có
thể gần như trên khắp miền Đông Bắc.
Từ năm 1980 đến nay, vùng phân bố của Voọc đen má trắng bị thu hẹp
nhanh chóng do diện tích rừng trên núi đá giảm và do áp lực săn bắn.
Sách đỏ Việt Nam (1992) và (2000) xếp vào mức sắp nguy cấp (V).
Hội nghị bảo tồn thú Linh trưởng Việt Nam tháng 10 năm 1998 xếp Voọc đen
má trắng vào mức nguy cấp (EN). Sách đỏ thế giới (IUCN) 2009 xếp Voọc
8
má trắng vào nhóm nguy cấp (EN). Sách đỏ Việt Nam (2007) Xếp Voọc đen
má trắng vào cấp EN. A1c,d C2a.
Voọc đen má trắng đã được phát hiện khá lâu, được xem là một loài
quý hiếm. Tuy nhiên, những nghiên cứu về loài là chưa nhiều và công tác bảo
tồn đối với loài cũng chưa đạt kết quả cao. Hiện trạng của loài đang bị đe dọa
ngày một nghiêm trọng do tình trạng săn bắt và mất nơi sống. Trong những
năm trước năm 2000 Voọc đen má trắng được xếp vào cấp sắp nguy cấp,
nhưng hiện nay nó đã bị xếp vào cấp nguy cấp. Điều đó có nghĩa là công tác
bảo tồn của chúng ta đã không đạt kết quả cao, mức độ bị đe dọa của chúng
không những không được giảm mà còn tăng lên trong những năm qua.
Loài Voọc đen má trắng đã được bảo tồn tại vườn quốc gia (VQG) Ba
Bể, KBTTN Na Hang, KBTTN Nà Rì, KBTTN Phong Quang, KBTTN Hữu
Liên. Đây là những khu bảo vệ còn đủ các điều kiện sinh thái cần thiết cho
loài này và biện pháp bảo tồn nội vi vẫn được xem là biện pháp tốt nhất.

đe dọa đối với loài khỉ ăn lá của Việt Nam.
Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng, 2000 cho ra cuốn sổ tay ngoại
nghiệp nhận diện thú khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng giúp cho cán bộ kiểm
lâm khu vực thực hiện các chương trình điều tra giám sát thú đuợc thuận lợi
hơn. Trong số đó có 10 loài linh trưởng được thống kê (Cu li nhỏ, cu li lớn,
khỉ cọc, khỉ mốc, khỉ đuôi lợn, khỉ vàng, chà vá chân nâu, voọc hà tĩnh, voọc
đen tuyền, vượn đen má trắng).
Nguyễn Vũ Khôi 2005 tập hợp các tài liệu và cho ra cuốn hướng dẫn
điều tra ngoại nghiệp thú linh trưởng. Đây là tài liệu giúp cho tra cứu nhanh
các loài trong bộ linh trưởng về đặc điểm nhận biết, phân bố, tình trạng trong
sách đỏ thế giới và Việt nam giúp cán bộ kiểm lâm và nhân viên hải quan dễ
dàng trong việc kiểm soát và ngăn chặn nạn buôn bán trái phép động vật
hoang dã.
Hầu hết các nghiên cứu trên về linh trưởng Việt Nam trước đây chủ
yếu tập trung vào điều tra khu hệ,thành phần loài, số lượng, phân bố, sinh thái
10
là chính. Chưa có hoặc ít có những công trình đi sâu và nghiên cứu tập tính
của từng loài. Đây là một hạn chế trong công tác quản lý và bảo tồn loài ở
Việt Nam.
2.6. Các mối đe dọa đối với thú Linh trưởng
Mất nơi sống và áp lực săn bắt là hai mối đe dọa chính đối với thú Linh
trưởng ở Việt Nam hiện nay (Phạm Nhật, 2002; Tilo, Đồng Thanh Hải,2009).
Mất nơi sống, các quần thể Linh trưởng giảm khả năng tăng trưởng và
phát triển. Mặt khác, mất rừng buộc các quần thể thú Linh trưởng phải co cụm
lại và chính điều này tạo thuận lợi cho các thợ săn tiêu diệt chúng một cách dễ
dàng và nhanh chóng hơn, và Voọc đen má trắng cũng không phải là ngoại lệ
trong số đó. Mất sinh cảnh sống do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể là
do phá rừng lấy gỗ, đốt nương làm rẫy, khai thác các loại lâm sản khác, do
xây dựng các công trình, cháy rừng và có thể do thiên tai. (Phạm Nhật, 2002).
Bên cạnh việc mất sinh cảnh sống thì việc săn bắt bừa bãi cũng là một

theo tuyến và phỏng vấn người dân để giải quyết các vấn đề của nội dung
nghiên cứu. Có thể nói, đây là những phương pháp phù hợp và được áp dụng
rộng rãi. Tuy nhiên, một trong những hạn chế của điều tra thú Linh trưởng là
các thông tin có được chủ yếu từ phỏng vấn, quan sát trực tiếp còn hạn chế.
Do linh trưởng là loài có số lượng rất ít, chúng lại phân bố rải rác, sinh cảnh
sống của chúng thường là các khu rừng già núi sâu.
Ngoài ra, hạn chế của tuyến điều tra là chưa đi hết các dạng sinh cảnh.
Đối với điều tra thú Linh trưởng thường tuyến điều tra phải dài nên rất khó
thực hiện do các điều kiện về địa hình và ngoại cảnh là rất phức tạp. Việc lập
tuyến điều tra như thế nào, vị trí tuyến, số lượng tuyến và chiều dài tuyến như
thế nào không được quy định rõ. Nhưng thực tế là không có cách nào khác là
chúng ta phải thực hiện, do vậy để khắc phục những nhược điểm này ta cần
đầu tư nhiều nhân lực để có thể tiến hành điều tra một cách tỉ mỉ và chi tiết.
Phương pháp phỏng vấn cũng chưa có những quy tắc cụ thể, chủ yếu
là dựa và kinh nghiệm của những người điều tra. Để khắc phục những nhược
12
điểm của phương pháp này thì cần phải tham khảo các ý kiến của các chuyên
gia và đề tài cần được thực hiên trong một thời gian dài.
13
CHƯƠNG III
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI
3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý
Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng cách thành phố Thái
Nguyên 40 km về phía Bắc, nằm trên địa bàn 6 xã và 1 thị trấn thuộc huyện
Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên. Bao gồm: Thần Sa, Thượng Nung, Sảng Mộc,
Nghinh Tường, Vũ Trấn, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả.
Khu bảo tồn có ranh giới địa lý là:
105
0

Thần Sa và xã Sảng Mộc và giáp huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn.
Tổng diện tích khu bảo tồn là 48.913,66 ha.
3.1.2. Địa hình, địa chất và thổ nhưỡng
3.1.2.1. Địa hình
Khu bảo tồn thuộc vùng núi cao nằm phía đông nam của tỉnh Thái
Nguyên, địa hình chia cắt hiểm trở, núi đá chiếm gần 87 % diện tích đất. Khu
vực thuộc phần cuối cùng phía nam của dãy Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn.
Độ cao tuyệt đối trung bình khoảng 700m.
3.1.2.2. Địa chất và thổ nhưỡng
a. Địa chất
14
Khu bảo tồn có lịch sử kiến tạo địa chất vào kỷ Đệ Tam, dưới tác dụng
của nhiệt độ, nước, sinh vật và áp suất cùng với sự vận động của vỏ trái đất
các sản phẩm phong hóa phân dị thành 2 dạng đá trầm tích:
- Trầm tích hóa học: Đá Phinít phân bố rải rác, diện tích nhỏ.
- Trầm tích cơ học: Đá sa thạch chiếm tỷ lệ lớn.
b. Thổ nhưỡng
Trong khu vực có các loại đất chính sau:
- Đất phù sa không được bồi hàng năm: phân bố dọc các triền sông. Tầng
dày > 100 cm, đây là diện tích trồng cây lương thực và hoa màu hàng
năm chủ yếu trong khu vực.
- Đất phù sa ngoài suối: Phân bố ở ngoài các con suối. Là những dải đất
có diện tích hẹp có thành phần cơ giới nhẹ, đất chua , hàm lượng mùn
nghèo, được sử dụng để trồng lúa hai vụ và hoa màu khác.
- Đất dốc tụ thung thũng: Phân bố rải rác dưới chân địa hình đồi núi, độ
dốc địa hình nhỏ. Đất có thành phần cơ giới nhẹ, có lẫn nhiều mảnh đá
dăm. Phần lớn diện tích đất này được sử dụng để canh tác chè, cây ăn
quả và hoa màu.
- Đất feralit: Bao gồm các loài đất feralit bị biến đổi do trồng lúa nước,
đất feralit nâu đỏ trên đá macma trung tính và bazo, đất feralit đỏ vàng

tộc Tày với 8720 người (chiếm 42,4%), sau đó đến dân tộc Dao 4816 người
(chiếm 23,4%). Phân bố dân cư không đều, đa số các thôn bản tập trung ở
thung lũng, gần sông suối, có khả năng làm ruộng nước và dọc theo các trục
đường giao thông.
Tổng số lao động trong vùng là 9.101 lao động chiếm 44,6% dân số,
trong đó lao động nông nghiệp là chủ yếu: chiếm 85,7%; lao động thuộc các
ngành nghề khác bao gồm cán bộ chủ chốt xã, huyện, cán bộ y tế, giáo dục.
3.2.2. Giao thông
Giao thông trong vùng chưa phát triển. Toàn bộ hệ thống giao thông chỉ
có gần 150 km đường ô tô. Trong đó chỉ có 13 km đường nhựa, còn lại là đường
cấp phối và đường đất. Tất cả các xã trong vùng đều đã có đường ô tô đến được
trung tâm xã. Tuy nhiên chất lượng đường rất xấu nên việc đi lại rất khó khăn,
đặc biệt là trong mùa mưa lũ. Ngoài ra còn hàng trăm km đường mòn dân sinh
trong các xã, thôn bản, mặt đường nhỏ hẹp, chất lượng xấu.
16
3.2.3. Y tế
Các xã trong khu vực đều đã xây dựng trạm y tế đặt ở trung tâm xã.
Tại các trạm y tế các xã có 10 bác sỹ, 14 y sỹ, 7 y tá hoạt động khám chữa
bệnh cho nhân dân trong vùng. Ngoài ra còn có 70 cộng tác viên tham gia y tế
cộng đồng, 9 y sỹ hoạt động y tế học đường. Tuy lực lượng cán bộ y tế đã
được tăng cường nhưng do đội ngũ cán bộ y tế chưa đồng đều, trình độ
chuyên môn chưa cao, cơ sở vật chất và thuốc men còn thiếu nên công tác
chăm sóc sức khỏe cho nhân dân cũng như công tác tuyên truyền phòng
chống dịch bệnh trong nhân dân còn hạn chế.
3.2.4. Giáo dục
Toàn bộ khu vực có 27 trường, 275 lớp với 4 cấp học: Mầm non, tiểu
học, phổ thông cơ sở và phổ thông trung học. Các trường ở thị trấn và ở trung
tâm các xã được xây dựng khá khang trang nên điều kiện học tập đã cơ bản
đảm bảo việc dạy và học của giáo viên và học sinh. Còn lại một số trường ở
các thôn bản, nhất là các lớp tiểu học chưa được xây dựng kiên cố. Cơ sở vật

hàng ngày.
18
Chương IV
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Mục tiêu nghiên cứu
Cung cấp số liệu về tình trạng, phân bố của quần thể Voọc đen má
trắng phục vụ công tác quản lý và bảo tồn loài và sinh cảnh tại khu vực
nghiên cứu.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Loài Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) và sinh cảnh của
chúng.
4.3. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Luận văn được thực hiện từ ngày 3 tháng 03 năm 2010 đến ngày 14
tháng 05 năm 2010 tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng –
Thái Nguyên. Nội dung công việc được chia thành các giai đoạn.
STT Nội dung công việc Thời gian
1
Thu thập, phân tích tài liệu và hoàn thiện đề cương
nghiên cứu
05/01/2010-
30/01/2010
2
Điều tra thực địa tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần
Sa – Phượng Hoàng, đợt 1.
12/03/2010-
27/03/2010
3
Điều tra thực địa tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần
Sa – Phượng Hoàng, đợt 2
10/04/2010-

4.5.2. Công tác ngoại nghiệp
4.5.2.1. Phương pháp phỏng vấn
Đối tượng phỏng vấn là cán bộ kiểm lâm, cán bộ khu bảo tồn, người
dân địa phương và đặc biệt là các thợ săn ở trong vùng. Trong số đối tượng
phỏng vấn này sẽ được chia ra các nhóm khác nhau. Nhóm về giới tính, tuổi,
dân tộc và nghề nghiệp. Việc phỏng vấn sẽ được áp dụng bằng cách phỏng
vấn trược tiếp bằng các câu hỏi phỏng vấn (câu hỏi đóng và câu hỏi mở) và
phát phiếu phỏng vấn cho người dân. Trong quá trình phỏng vấn có sử dụng
ảnh về loài cho người dân quan sát. Câu hỏi phỏng vấn được thiết kế theo
từng bộ câu hỏi tùy thuộc vào nội dung điều tra dự kiến như sau:
Bộ câu hỏi 1: Điều tra về sự có mặt và phân bố của Voọc đen má trắng
1. Anh/chị biết bao nhiêu loài Linh trưởng ở đây?
20
2. Anh/ chị có thể kể tên những loài đã biết?
3. Anh/chị có biết loài VDMT không?
4. Nếu có. Anh/chị gặp nó ở đâu và khi nào?
5. Lần gặp gần đây nhất vào khi nào (ngày, tháng nào)?
5. Anh/chị gặp đàn có nhiều không?
6. Anh/chị có thể mô tả bộ lông của nó?
7. Anh/chị đã bao giờ nhìn thấy nơi ngủ của VDMT chưa?
8. Anh/chị thấy nó ngủ ở đâu ? Mô tả nơi ngủ
9. Anh/chị cho biết những mối đe dọa đối với quần thể Voọc đen má trắng?
10. Theo anh/chị mối đe dọa nào là lớn nhất? Tại sao?
11. Ở đây ngươi dân thường sử dụng biện pháp gì để săn bắt Vooc?
12. VDMT sử dụng làm gì ? Ăn thịt, nấu cao, bán ra thị trường
13. Chúng ta đã tiến hành những biện pháp gì để bảo tồn quần thể Voọc ở
đây?
Bộ câu hỏi 2: Xác định hang ngủ
1. Các Bác thường gặp loài Vooc này ở đâu?
2. Đã bao giờ các Bác gặp chúng vào ban đêm chưa? Ở đâu?

Sa. Độ dài mỗi tuyến khoảng từ 3- 5 km. Tuyến điều tra được chọn cần phải
đi qua tất cả các sinh cảnh, đặc biệt là các nơi phân bố thức ăn và nơi ở của
chúng. Lập tuyến điều tra cần xác định thực địa và trên bản đồ, dùng máy
định vị GPS xác định toạ độ điểm đầu và điểm cuối của tuyến điều tra. Trên
mỗi tuyến, cứ 200m định vị một lần để xác định tọa độ của tuyến điều tra.
Trên tuyến điều tra chính có thể tiến hành lập một số tuyến phụ nhằm điều tra
bổ xung các thông tin liên quan đến nội dung nghiên cứu. Tuyến phụ được lập
vuông góc với tuyến chình, chiều dài tuyến phụ khoảng 500m. Cách 1km lại
lập một tuyến phụ.
Bảng 4.3: Tổng hợp tuyến điều tra
22
Tuyến số
Toạ độ điểm đầu,
điểm cuối
chiều dài
tuyến
Dạng sinh cảnh
01
0601476/2413429
0599748/2413000
2.5 km
Rừng thứ sinh trên núi
đá và rừng nguyên sinh
trên núi đá
02
0598513/2413817
0598715/2413599
5 km
Rừng thứ sinh trên núi
đá

phút, người quan sát sẽ nghỉ 10 phút để quan sát điểm.
Khi bắt gặp trực tiếp đối tượng điều tra những thông tin sau đây sẽ
được thu thập: Thời gian bắt gặp, đàn số, số lượng cá thể trong đàn, tỷ lệ tuổi
và giới tính, hoạt động của đàn lúc bắt gặp, vị trí bắt gặp (GPS), khoảng cách
từ người quan sát đến đối tượng điều tra.
Kết quả điều tra được ghi vào biểu sau: (Biểu 01)
23
Mẫu biểu 01: Tình trạng, phân bố của Vooc má trắng
Ngày điều tra………………………….Thời gian bắt đầu………………
Người điều tra…………………………Thời gian kết thúc……………
Tuyến điều tra……………………………
Thời tiết ngày điều tra……………………
Khu vực điều tra:………………………………
Đàn
số
Thời
gian
Địa điểm
( GPS )
Sinh
cảnh
Số lượng
các thể
Hoạt động Ghi
chú
24
Ngoài quan sát trực tiếp, những thông tin gián tiếp về loài cũng sẽ được
ghi nhận: Thức ăn để lại, phân, tiếng kêu, di vật còn lại trong nhà dân (da,
lông, sọ, xương), các thể bị nhốt hoặc giết chết.
Phân chia sinh cảnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status