Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón tới năng suất và dư lượng NO 3 - trong đậu trạch tại Thái Nguyên. - Pdf 29


1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM VŨ TIẾN DŨNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN TỚI
NĂNG SUẤT VÀ DƯ LƯỢNG NO
3
-
TRONG ĐẬU TRẠCH
TẠI THÁI NGUYÊN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Khoa : Nông học
Khoá : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Thúy Hà Vũ Tiến Dũng
3
MỤC LỤC

Bảng 2.5: Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam 2008 – 2012

13 8

Bảng 2.7: Ngưỡng giới hạn hàm lượng NO-3 trong rau tươi của FAO, 1993

18 8

Bảng 4.1: Tình hình thời tiết vụ Đông xuân 2013 tại Thái Nguyên

34 8

Bảng 4.5: Ảnh hưởng của hàm lượng đạm tới tốc độ ra lá của cây đậu trạch

40 8

Bảng 4.11: Sơ bộ hạch toán kinh tế (Triệu đồng/ha)

2.1.2. Giá trị kinh tế 10

2.1.3. Giá trị khác 10

2.2. Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp 11

Bằng kinh nghiệm sản xuất của mình nông dân Việt Nam đã đúc kết “ nhất nước,
nhì phân, tam cần, tứ giống”. Câu nông giao trên đã khẳng định vai trò của phân
bón trong hệ thống liên hoàn tăng năng suất cây trồng. Phân hóa học không chỉ
có nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng và phát triển mà còn
có tác dụng tăng chất hưu cơ cho đất thông qua việc làm tăng sinh khối cây
trồng. Toàn bộ sinh khối nếu được trả lại cho đất, độ phì của đất sẽ được ổn định
và nâng cao dần. Trong mấy thập kỷ vừa qua năng suất cây trồng đã không 4
ngừng tăng lên, ngoài vai trò của giống mới, phân bón cũng có vai trò quyết định.
Giống mới chỉ có thể phát huy được tiềm năng, cho năng suất cao nhất khi được
bón đầy đủ và hợp lí. FAO đã tổng kết bón phân không cân đối làm giảm hiệu
suất sử dụng 20-50%. Kết quả trong thí nghiệm và mô hình ở nước ta trong mấy
năm qua cho thấy nếu NPK cân đối so với chỉ bón đạm, năng suất lúa trên đất
bạc màu có thể tăng 100 – 200%. Nhờ có phân bón mà phẩm chất nông sản được
nâng cao. Bón phân không cân đối làm giảm chất lượng nông sản. Bón phân
cũng làm thay đổi thành phần hóa học của hạt, việc bón phân thừa hay thiếu đạm
làm giảm tỷ lệ vitamin B. 11

Kết quả nghiên cứu đánh giá của Viện Dinh dưỡng cây trồng quốc tế (IPNI) cho
thấy, phân bón đã làm tăng năng suất cây trồng, giúp gia tăng khoảng 30-35%
tổng sản lượng nông sản toàn thế giới. Những loại phân bón được sử dụng đúng
sẽ phát huy được những ưu thế: nguồn bổ sung dinh dưỡng cho đất đai, giúp tạo


3.2. Nội dung nghiên cứu 27

3.4.Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 31

3.4.1.Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển 31

3.4.2. Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển 31

3.4.3. Tình hình sâu bệnh 315
* Đối với sâu: Giòi đục lá (sâu vẽ bùa) 31

− 31

* Đối với bệnh gỉ sắt: 32

3.4.4. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 32

3.4.5. Các chỉ tiêu nghiên cứu 33

3.4.6. Sơ bộ hạch toán kinh tế 33

3.5. Phương pháp xử lý số liệu 33

3.5.1. Phương pháp lấy mẫu 33

3.5.2. Phương pháp phân tích mẫu 33

Công thức 42

Giòi đục lá 42

Bệnh phấn trắng 42

CT1 42

4,7 426
6,89 42

CT2 42

5,3 42

5,19 42

CT3 42

4,9 42

5,77 42

CT4 42

5,2 42


(tổ chức nông – lương thực thế giới)
KLTB : Khối lượng trung bình
LSD : Least significant difference
(sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa)
NL : Nhắc lại
NO
2
-
: Nitrit
NO
3
-
: nitrat
NSLT : Năng suất lí thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
NXB : Nhà xuất bản
P : Probabliity (xác suất)
STT : Số thứ tự
TB : Trung bình
VTM : Vitamin
8
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Giá trị dinh dưỡng của cây rau và cây ngũ cốc

Bảng 4.8: Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến hàm lượng nitrat (NO
3
-
)
trong quả đậu trạch
45
Bảng 4.9: Các yếu tố cấu thành năng suất của quả đâu trạch
45
Bảng 4.10: Năng suất của đậu trạch
46
Bảng 4.11: Sơ bộ hạch toán kinh tế (Triệu đồng/ha)
47

1
Phần 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Rau xanh là thực phẩm không thể thiếu trong đời sống hằng ngày của
con người. Bởi chúng cung cấp phần lớn các chất: vitamin, protein,
khoáng, đường, tinh bột, chất xơ đó là những chất dinh dưỡng không thể
thiếu đối với hoạt động sinh lý của con người, góp phần cân bằng dinh
dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Đồng thời, rau còn là cây trồng mang lại hiệu
quả kinh thế cao, là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước.
Trước tình hình thế giới hiện nay, dân số ngày càng tăng do đó nhu
cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng lớn. Cùng với sự phát triển của
nền kinh tế - xã hội,đời sống của con người được nâng cao hơn do đó

trong rau. Đó cũng là tiêu chuẩn để các nước
đánh giá chất lượng rau xuất, nhập khẩu. Ở nước ta,đây cũng là chỉ tiêu
khiến cho ngành xuất khẩu rau đã nhiều lần phải điêu đứng vì bị làm mất
uy tín với khách hàng gây thiệt hại nhiều cho người sản xuất.
Xuất phát từ những vấn đề trên và để đấp ứng cho nhu cầu của thực
tiễn sản xuất, để góp phần vào việc tìm hiểu, nâng cao hiệu quả sử dụng
của phân bón nói chung và phân đạm nói riêng tôi được giao nhiệm vụ tiến
hành đề tài “Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất và dư lượng
nitrat (NO
3
-
) trong đậu trạch tại Thái nguyên”.
1.2. Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài
1.2.1. Mục đích
−Xác định liều lượng bón đạm thích hợp cho đậu đũa nhằm đạt năng
suất cao và hiệu quả kinh tế cao mà dư lượng NO
3
-
dưới ngưỡng cho phép
1.2.2. Yêu cầu
−Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây rau
đậu trạch ở các công thức bón đạm khác nhau.
−Đánh giá mức độ sâu, bệnh hại.
−Phân tích dư lượng NO
3
-
trong sản phẩm của cây rau đậu trạch

3
- Sơ bộ hoạch toán hiệu quả kinh tế

một lượng phân lớn vượt quá nhu cầu của cây còn gây ra lãng phí, tồn dư
trong đất và sản phẩm tăng.
Trong mấy thập kỉ qua năng suất cây trồng đã không ngừng tăng
lên,ngoài vai trò của giống mới, phân bón cũng có vai trò quyết định.
Giống mới chỉ phát huy của tiềm năng cho năng suất khi được bón đầy đủ
và hợp lý. PAO đã tổng kết phân bón không cân đối làm giảm hiệu suất sử
dụng 20-50% (Nguyễn Ngọc Nông, 1999) [4]. Khi bón phân không chỉ bón
một loại phân riêng rẽ mà phải kết hợp giữa phân vô cơ và phân hữu cơ thì
mới phát huy được hiệu quả cao và bền vững.
Mặt khác, chi phí phân bón trong nông nghiệp chiếm đến 30% -
50%. Trong đó, mục đích của người sản xuất không chỉ nhằm đặt năng suất

5
tối đa mà còn tìm lợi nhuận cao nhất. Cho nên con người phải tìm đến
những biện pháp kỹ thuậ bón phân cân đối hợp lý cho từng loại cây trồng
khác nhau.
Bón phân vô cơ là rất tốt cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt,
tuy nhiên nếu bón không đúng nồng độ, liều lượng, thời gian cách ly không
đảm bảo sẽ dẫn đến tình trạng dư lượng NO
3
-
trong sản phẩm vượt quá
ngưỡng cho phép ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm và sức khẻo người
tiêu dùng.
Vì vậy, trong việc sử dụng phân đạm, kali hay bất cứ loại phân nào
khác ta phải sử dụng hợp lý cho từng loại cây trồng, giai đoạn sinh trưởng,
loại đất, nước, vi sinh vật và mùa vụ khác nhau… đồng thời, bón đúng
chủng loại, đúng lúc đúng cách đúng nông độ, liều lượng, đảm bảo hời gian
cách ly. như vậy, sẽ góp phần tăng hiệu suất sử dụng phân bón, tránh lãng
phí và bảo vệ môi trường.


8,5

349

0,009

0

10

2,8

Lúa mỳ 12,8

71,2

11,8

346

0,064

0

41

4,9

Rau ăn lá 88,5


Rau ăn quả 88

8,4

2,2

46

1,00

25

35

0,8

Rau ăn củ 80,7

16,2

1,5

89

1,34

21

24

min B(chủ yếu là B1)…Công tác, học tập sinh hoạt h à ng ngày mỗi người
đều cần một lượng vitamin nhất định, nhu cầu vitamin hàng ngày mỗi
người cần 100 mg C trong đó 90% lấy từ rau quả.

8
Rau là nguồn cung cấp chất khoáng cho cơ thể. Rau chứa các chất
khoáng chủ yếu như Ca, P, Fe, là thành phần cấu tạo của xương và máu.
Những chất khoáng có tác dụng trung hòa độ chua do dạ dày tiết ra khi
tiêu hóa các loại thức ăn như thịt, các loại ngũ cốc. Hàm lượng Ca rất
cao trong các loại rau cần, rau dền, rau muống, nấm hương, mộc nhĩ
(100- 357 mg%).
Rau là nguồn cung cấp các dinh dưỡng khác. Rau cung cấp cho cơ thể
các axit hữu cơ, các hợp chất thơm, các vi lượng, các xellulo (chất xơ) giúp
cơ thể tiêu hoá thức ăn dễ dàng, phòng ngừa các bệnh về tim mạch áp huyết
cao. Ngoài ra nhiều loại rau còn chứa các kháng sinh thực vật như Linunen,
Carvon, Pinen ở cần tây, allixin ở tỏi, hành có tác dụng như một dược liệu
đối với cơ thể. Bởi vậy nhu cầu về rau ngày càng cao. Theo tính toán của
các nhà dinh dưỡng học thì mức tiêu dùng rau tối thiểu cho mỗi người cần
90 - 110 kg/năm tức250 -300 g/người/ngày. Trong khi đó, theo thống kê
nước ta mới cung cấp được 60g/người/ngày (Trần khắc thi, Trần ngọc
hùng, 2006) [8].Như vậy mới đáp ứng được 20-30% nhu cầu về rau.
Thành phần dinh dưỡng trong 100g rau của một số loại rau nước ta
được thể hiện như sau:

9
Bảng 2.2: Thành phần chất dinh dưỡng trong 100g rau ở một số loại rau (theo bảng thành phần hóa học thức
ăn ở nước ta)
Loại rau Thành phần hóa học(%g) Calo
(100g)
Muối khoáng (mg%) Vitamin (mg %)


4,2

0,8

20

12,0

26,0

1,4

2,0

0,06

0,04

10

Đậu đũa 6,0

83,0

8,3

12,0

59


0,01

0,06

0,05

36

Rau muống 3,2

92,0

2,5

1,5

23

100

37,0

1,4

2,90

0,04

0,09


4,9

0,9

30

26,0

51,0

1,4

0,05

0,11

0,10

70

Dưa chuột 0,8

95,0

3,0

0,7

16

Âu. Hàng năm lượng rau được xuất khẩu rất nhiều cả cả về số lượng và
chủng loại.
Rau góp phần phát triển các ngành kinh tế khác như: Ngành chăn nuôi
(rau là ngồn thức ăn cho chăn nuôi).
2.1.3. Giá trị khác
* Giá trị y học
Rau không những có giá trị dinh dưỡng cao mà còn được sử dụng như
cây dược liệu quý: hành hoa, gừng, nghệ, tía tô… Đặc biệt là cây tỏi ta
được xem là cây dược liệu quý trong nền y học cổ truyền của nhiều nước.
Người ta cho rằng nếu ăn mướp đắng và bí ngô thường xuyên thì có thể
phòng chống bệnh đái tháo đường.
* Giá trị xã hội
Khi ngành sản xuất rau được phát triển một cách nhanh chóng và
vững chắc sẽ góp phần làm tăng thu nhập cho người dân lao động, thỏa
mãn nhu cầu ngày càng cao của con người, đồng thời đáp ừng yêu cầu của
công cuộc xây dựng đất nước.

11

Khi sản xuất rau được coi là một nghề tì những khu chuyên canh rau
sẽ được mở rộng, sẽ có điều kiện để sắp xếp lao động một cách hợp lí, giải
quyết việc làm cho người nông dân lúc nông nhàn.
2.2. Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp
Bằng kinh nghiệm sản xuất của mình nông dân Việt Nam đã đúc kết “
nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Câu nông giao trên đã khẳng định
vai trò của phân bón trong hệ thống liên hoàn tăng năng suất cây trồng.
Phân hóa học không chỉ có nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng
sinh trưởng và phát triển mà còn có tác dụng tăng chất hưu cơ cho đất
thông qua việc làm tăng sinh khối cây trồng. Toàn bộ sinh khối nếu được
trả lại cho đất, độ phì của đất sẽ được ổn định và nâng cao dần. Trong mấy

và được trình bày tại bảng 2.4.
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ 2008 – 2012
Chỉ tiêu

Năm
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
2008 52,81 188,413 994,98
2009 54,03 188,629 1019,10
2010 55,72 188,210 1048,71
2011 56,81 191,371 1087,12
2012 57,27 193,133 1106,13
(Nguồn: FAOSTAT, 2014)[12]
Theo thống kê của FAO, diện tích trồng rau năm 2008 là 52,81 triệu
ha nhưng đến năm 2012 đã mở rộng lên tới 57,27 triệu ha, tăng so với
năm 2008 là 4,46 triệu ha, tăng 8.45% so với năm 2008. Như vậy, diện
tích trồng rau trên thế giới đang tăng lên, nguyên nhân là do người nông
dân đang chuyển một phần diện tích đất trồng các cây trồng khác sang
trồng rau.

13

Năng suất rau bình quân trên thế giới không biến động nhiều đạt
từ 188,413 – 193,133 ta/ha qua 5 năm, bởi diện tích trồng rau hiện nay
không tập trung về tăng năng suất mà chú trọng hơn đến viêc tăng chất
lượng sản phẩm.

14

tích tăng 157.58 ha.Sản lượng rau có chiều hướng ra tăng, năm 2000 đạt
hơn 6triệu tấn tăng 81% so với năm 1990, mức tăng sản lượng trung bình
hằng năm từ 1990-2000 là xấp xỉ 260 nghìn tấn. Do diện tích tăng nhanh
dẫn đến sản lượng rau ở nước ta tăng lên đáng kể từ 7.724.502tấn năm
2008 tăng lên 9.064.085 tấn năm 2009, đến năm 2010 lại giảm xuống
8.975.534 tấn, năm 2012 sản lượng rau lại tăng lên 9.439.000tấn. Sản
lượng rau cảu nước ta được thu chủ yếu từ 2 vùng chính đó là vùng chuyên
canh rau ven thành phố và vùng rau luân canh với cây lương thực.
2.3.2. Sơ lược về tình hình sản xuất sử dụng phân bón trên thế giới và
việt nam
* Sơ lược về tình hình sản xuất sử dụng phân bón trên thế giới
Phân bón có vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.
Ngay từ thời cổ đại, người Trung Quốc và Hi lạp đã biết sử dụng tro đốt và
phân chăn nuôi để bón cho cây trồng. Tiêu thụ phân hóa học tăng mạnh là
một trong những nguyên nhân làm tăng giá phân bón. Theo Hiệp hội phân
bón thế giới, mức tiêu thụ phân bón toàn cầu đã tăng đều qua các năm và
đạt 155.438.000 tấn quy về dinh dưỡng nguyên chất( N +P2O5 +K2O) vào
năm 2005, tăng 19,75% so với năm 1995 và 3,87% so với năm 1961. Gần
đây mơcs tiêu thụ tại các nước đang phát triển tăng mạnh, trong khi các
nước phát triển lại có xu hướng giảm. Trung Quốc là nước tiêu thụ nhiều
phân bón nhất thế giới với tổng lượng 46.204.100 tấn năm 2005, chiếm tỉ lệ
29,7% so với toàn cầu.
Các số liệu khảo sát cho thấy, bình quân các nước châu Á sử dụng
phân khoáng nhiều hơn nhiều hơn bình quân thế giới. Tuy nhiên, Ấn Độ(
nước có khí hậu nóng) lại dùng phân khoáng ít hơn bình quân toàn châu Á.
Trong đó Trung Quốc và Nhật Bản lại sử dụng phân khoáng nhiều hơn
bình quân toàn châu Á. Việt Nam là nước sử dụng nhiều phân khoáng trong
số các nước ở Đông Nam Á.


16

Về chất lượng phân bón trên thị trường thì kết quả kiểm tra về tình
hình sản xuất, kinh doanh phân bón của các doanh nghiệp ở 10 tỉnh thành
phố của Cục trồng trọt trong tháng 7/2007 cho thấy: vẫn tồn tại trên thị
trường những loại phân chưa đăng ký vào Danh mục phân bón, phân bón
không đảm bảo chất lượng. Có những lô hàng, khi kiểm tra có tới 54% mẫu
không đạt chất lượng đăng ký. Năm 2008 tình hình phân bón kém chất
lượng vẫn còn diễn biến rất phức tạp. Với tình trạng trên thị trường còn rât
nhiều phân bón không đảm bảo chất lượng như hiện nay, thì Nhà nước ta
cần có nhiều biện pháp tích cực hơn để ngăn chặn việc sản xuất các loại
phân giả, chất lượng thấp làm thiệt hại đến lợi ích của người nông dân.
2.3.3. Ảnh hưởng của NO
-
3
tới sức khỏe và tuổi thọ của con người
Việc tích lũy NO
-
3
trong mô cây không gây độc với cây trồng nhưng
nó có thể làm hại gia súc, người, đặc biệt là trẻ em khi sử dụng cây trồng có
hàm lượng NO
-
3
cao. Hiện nay vấn đề chất lượng rau là một vấn đề hết sức
đáng lo ngại. Những năm gần đây do nhu cầu của thị trường ngày càng cao
về số lượng cũng như ngoại hình sản phẩm, về phía người nông dân lại
muốn đảm bảo hoặc tăng năng suất cây trồng nên các loại thuốc bảo vệ
thưc vật, kích thích tăng trưởng ngày càng được sử dụng rộng rãi. Tuy

“phân chuồng tươi”, đặc biệt là việc bón đạm quá liều và phương pháp bón
( bón lót ít, kéo dài bón thúc tới gần thời gian thu hoạch) chưa hợp lý dẫn
đến việc tích lũy nitrat rau cao mặc dù lượng phân sử dụng ở Việt Nam
không cao so với thế giới.
2.3.4. Ngưỡng hàm lượng NO
3
-
trong rau
Cũng bởi rau là nguyên nhân chính đưa hàm lượng NO
-
3
vào cơ thể
người, do vậy đã có rất nhiều tổ chức, nhiều nước, nhiều tác giả đưa ra
ngưỡng hàm lượng NO
-
3
trong rau.
Do tính độc của NO
-
3
nên khó đưa ra ngưỡng hàm lượng NO
-
3
trong
rau cũng như trong các loại lương thực, thực phẩm. Mặt khác tính độc này
còn phụ thuộc vào lượng NO
-
2
được tạo ra từ NO
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status