Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và thử nghiệm biện pháp phòng trị bệnh Care (Canine distemper) ở chó tại tỉnh Thái Nguyên. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
  
TRẦN THỊ DIỆP
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ THỬ NGHIỆM BIỆN
PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH CARE (CANINE DISTEMPER) Ở CHÓ
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y
Khoa : Chăn nuôi Thú y
Khoá học : 2010 - 2014


Giảng viên hướng dẫn: Th.S Đoàn Quốc Khánh
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Thái nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa chăn
nuôi thú y, các thầy cô giáo trong bộ môn dược lý và vệ sinh an toàn thực
phẩm và thầy giáo hướng dẫn, em thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
đặc điểm dịch tễ và thử nghiệm biện pháp phòng trị bệnh Care (Canine
distemper) ở chó tại tỉnh Thái Nguyên”.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu trường Đại học Nông
lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, cùng toàn thể các thầy cô
giáo đã tận tình giảng dạy, dìu dắt em trong thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn
ThS. Đoàn Quốc Khánh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo em trong suốt
quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp 42 - CNTY đã quan tâm, giúp
đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên.
Một lần nữa em xin kính chúc toàn thể các thầy, cô giáo lời chúc sức
khỏe, hạnh phúc và thành đạt. Chúc các bạn sinh viên mạnh khỏe, học tập tốt
và thành công trong cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 02 tháng 06 năm 2014
Sinh viên

tác nghiên cứu trong khoa học nên trong bản khóa luận này không tránh khỏi
những sai sót, hạn chế. Vì vậy, em mong nhận được sự đóng góp quý báu của
các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của em được
hoàn thiện hơn.
Sinh viên Trần Thị Diệp
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 4.1: Một số bệnh thường gặp trên chó nuôi tại tỉnh Thái Nguyên 31
Bảng 4.2: Tỷ lệ chó mắc bệnh Care ở Thái Nguyên theo địa phương 33
Bảng 4.3: Tỷ lệ chó mắc bệnh Care theo giống 34
Bảng 4.4. Tỷ lệ chó mắc bệnh Care theo lứa tuổi 36
Bảng 4.5: Tỷ lệ chó mắc bệnh Care theo tính biệt 37
Bảng 4.6: Tỷ lệ chó mắc bệnh Care theo các tháng trong năm 38
Bảng 4.7: Các chỉ tiêu lâm sàng ở chó mắc bệnh Care 40
Bảng 4.8: Tỷ lệ triệu chứng lâm sàng điển hình trên chó mắc bệnh Care 43
Bảng 4.9: Biến đổi bệnh lý giải phẫu đại thể của chó bị bệnh Care 44
Bảng 4.10: Thử nghiệm thuốc điều trị bệnh Care 46
Bảng 4.11: Ứng dụng phác đồ có hiệu quả trong điều trị bệnh Care cho chó tại
một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 48

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang
Hình 4.1. Một số bệnh thường gặp ở chó 32
Hình 4.2. Tỷ lệ chó mắc bệnh Care theo địa phương 34
Hình 4.3. Tỷ lệ chó mắc bệnh Care theo giống 35

2.1.2.2. Tần số hô hấp (lần/phút) 7
2.1.2.3. tần số tim mạch (nhịp tim) 8
2.1.2.4. Tuổi thành thục sinh dục và chu kỳ lấy giống 9
2.1.3. Một số hiểu biết về bệnh Care ở chó 9
2.1.3.1. Căn bệnh 10
2.1.3.2. Đặc điểm dịch tễ 13
2.1.3.3. Cơ chế gây bệnh 14
2.1.3.4. Triệu chứng 15
2.1.3.5. Bệnh tích 16
2.1.4. Chẩn đoán bệnh 17
2.1.4.1. Dựa vào đặc điểm dịch tễ học 17
2.1.4.2. Dựa vào triệu chứng lâm sàng 18
2.1.4.3. Dựa vào chẩn đoán phi lâm sàng 19
2.1.5. Phòng và trị bệnh 20
2.1.5.1. Phòng bệnh 20
2.1.5.2. Điều trị 21
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 22
2.2.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài 23
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 24
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 24
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu 24
3.1.2.1. Mẫu bệnh phẩm 24
3.1.2.2. Dụng cụ 24
3.1.2.3. Hóa chất 24
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 24
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 24

4.5.1.1. Thử nghiệm thuốc điều trị bệnh Care 45
4.5.1.2. Ứng dụng phác đồ có hiệu quả cao trong điều trị bệnh Care cho chó
tại một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 47
4.6. Đề xuất một số biện pháp phòng trị bệnh 49
4.6.1. Phòng bệnh 49
4.6.2. Điều trị 49
Phần 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI, ĐỀ NGHỊ 50
5.1. Kết luận 50
5.2. Tồn tại 50
5.3. Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
I. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 52
II. TÀI LIỆU TIẾNG ANH 53

1
Phần 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Từ lâu chó đã trở thành con vật gần gũi với đời sống con người. Khác
hẳn với các loài vật nuôi khác, chó có các giác quan rất phát triển, đặc biệt là
khả năng thị giác, thính giác cao hơn rất nhiều so với con người, do đó từ xưa
con người đã biết thuần hóa, huấn luyện, nuôi chó với nhiều mục đích khác
nhau: làm cảnh, giữ nhà, làm bạn, làm chó nghiệp vụ, săn thú….
Chó được nuôi ở tất cả các nước trên thế giới. Tại các nước phát triển,
chó được nuôi, chăm sóc, khám chữa bệnh rất cẩn thận và có cả những quy
định bảo vệ chó. Ở nước ta, những năm gần đây, khi kinh tế phát triển, đời sống
nhân dân ngày càng được cải thiện, người dân đã quan tâm nhiều hơn đến việc
nuôi chó để làm cảnh, làm bạn thân thiết của con người và phục vụ những mục
đích kinh tế khác nhau.

thiệt hại do bệnh gây ra, góp phần nâng cao chất lượng chăn nuôi, thúc đẩy
nghề nuôi chó phát triển.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Hiểu biết chung về loài chó
2.1.1.1. Nguồn gốc
Loài chó được con người thuần hóa từ rất sớm và được nuôi rộng rãi ở
khắp các quốc gia trên thế giới. Các nhà khoa học đã đưa ra rất nhiều giả
thuyết khác nhau về nguồn gốc loài chó.
Theo Đac uyn, chó nhà được sinh ra từ các cuộc tạp giao tự nhiên giữa
chó sói, cầy, cáo và được con người thuần hóa, nuôi dưỡng chọn giống thích
hợp thành thành chó nhà thuần dưỡng.

ứng tốt với điều kiện ngoại cảnh, ít bị ốm, dễ ăn uống và bơi lội giỏi (Nguyễn
Văn Thanh và cs, 2012) [17].
Chó Lào: Thường thấy ở vùng trung du và miền núi, có bộ lông xồm,
màu khung với hai vệt trắng trên mí mắt. Có tầm vóc lớn hơn chó H’Mông,
cao 60 - 65cm, nặng 18 - 25kg. Được nuôi nhiều ở vùng núi phía Bắc và Tây
Bắc nước ta (Lê Văn Thọ, 1997) [19].
Chó H’Mông: Đây là giống chó gắn liền với lịch sử phát triển của
người H’Mông. Thích nghi tốt với điều kiện sống ở miền núi cao, được dùng
để giữ nhà, săn thú, có tầm vóc lớn hơn chó vàng, chiều cao 55 - 60cm, nặng
18 - 20kg (Lê Văn Thọ, 1997) [19].
Chó miền núi: Có tầm vóc cao to, tai vểnh, quen với khí hậu vùng cao.
Chó Phú Quốc: Có nguồn gốc từ bán đảo Phú Quốc - Việt Nam, thể
hình khá lớn, chó cao 60 - 65cm, nặng 20 - 25kg, là giống chó tinh khôn, màu
sắc lông một màu có thể vàng đen, vện, xám, hoặc màu lá úa, đường lưng
thẳng, trên lưng có một xoáy dài. Chó Phú Quốc rất thông minh, nhanh nhẹn
và có thể huấn luyện tốt, nhân dân ta thường sử dụng để làm chó đi săn, giữ
nhà hoặc làm chó bảo vệ (Lê Văn Thọ, 1997) [19].
* Một số giống chó nhập ngoại
+ Nhóm chó cảnh
Chó Chihuahua:
Đây là giống chó lâu đời nhất ở Châu Mĩ và là giống chó có thân hình nhỏ
nhất trong mọi loại chó trên thế giới. Tên của giống chó này được lấy từ tên của
bang Chihuahua của Mexico, nơi mà các nhà thám hiểm đã tìm ra chúng.
5
Ngoại hình chó có bộ lông ngắn đầu hình quả táo, tai lớn, mắt tròn và
lồi, đuôi mọc ở phần cao uốn cong trên lưng, chúng có lưng bằng và bốn chân
thẳng, chiều cao khoảng 15 - 23cm, cân nặng từ 1 - 2kg (Phạm Sĩ Lăng và
Phan Địch Lân, 1992) [8]. Chihuahua ở phần thóp trên đỉnh đầu có một hõm
mềm, hõm này khi lớn lên sẽ được xương sọ che phủ hết. Thường có hai loài
là loài lông ngắn và lông dài nhưng ở Việt Nam loài lông ngắn phổ biến hơn.

Giống chó này được nhập vào nước ta từ những năm 1960. Ngoại hình
có tầm vóc tương đối lớn so với các giống chó khác ở nước ta, trọng lượng từ
28- 37kg. Bộ lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và mõm; đầu, ngực và
bốn chân có màu vàng sẫm (Phạm Sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 1992) [8].
Chó Boxer:
Boxer có nguồn gốc từ Đức và được phát hiện vào năm 1850. Đầu cân
đối với cơ thể, trán không có nếp nhăn, mặt ngắn hơn sọ, hàm dưới uốn cong
lên và hơi xa so với hàm trên. Tai mọc ở phần cao của đầu, mũi lớn và đen,
chân cao khỏe, vai cao khoảng 58cm. Đuôi mọc ở phần cao và thường được
cắt ngắn, màu vàng hoặc vện (Đỗ Hiệp, 1994) [6].
Chó Rottweiler:
Rottweiler bắt nguồn từ con Mastiff của Ý và được tạo giống ở Đức tại
thị trấn Rottwell. Chúng đã bị tuyệt giống vào năm 1800, sau đó nhờ sự nhiệt
tình của những người làm công tác giống ở Stuttgart mà giống chó này đã
được phổ biến trở lại vào đầu thế kỷ XX.
Chó Rottweiler có thể trạng mạnh mẽ và rất vạm vỡ, đầu dài gần bằng
sọ, mõm phát triển, mặt hơi gãy. Mặt màu nâu đen với dáng vẻ trung thành,
tai hình tam giác cụp và cụp về phía trước. Lưng phẳng, cổ và lưng tạo thành
một đường phẳng, cấu trúc cơ thể có dạng hình vuông, chân trước khá cao,
vai trung bình 69,5cm. Bộ lông ngắn cứng và rậm rạp, màu lông đen với một
ít đốm vàng ở gần hai mắt, trên má, mõm, ngực và chân (Phạm Sĩ Lăng và
Phan Địch Lân, 1992) [8].
2.1.2. Đặc điểm sinh lý lâm sàng của chó
2.1.2.1. Thân nhiệt (°C)
Thân nhiệt là nhiệt độ cơ thể gia súc đo được qua trực tràng trong lúc
con vật yên tĩnh. Ở trạng thái sinh lý bình thường thân nhiệt của chó là 38°C -
39°C (Nguyễn Xuân Tịnh và cs, 1996) [20]. Trong tình trạng bệnh lý thân
nhiệt có sự thay đổi tùy vào tính chất và mức độ bệnh (Hồ Văn Nam và Phạm
Ngọc Thạch, 1997) [11].
7

thành, giống chó to có tần số hô hấp từ 10 - 20 lần/phút, giống chó nhỏ có tần
số hô hấp từ 20 - 30 lần/phút (Hồ Đình Chúc, 1993) [2].
8
Tần số hô hấp phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất, tuổi, tầm vóc,
trạng thái dinh dưỡng, trạng thái làm việc, trạng thái sinh lý, thời tiết, khí hậu
và tình trạng bệnh lý (Hồ Đình Chúc, 1993) [2].
Ý nghĩa chẩn đoán:
Ở trạng thái bệnh lý tần số hô hấp thay đổi gọi là hô hấp bệnh lý. Tần
số hô hấp tăng trong những bệnh làm thu hẹp diện tích hô hấp ở phổi (viêm
phổi, lao phổi) làm mất đàn tính ở phổi (phổi khí thũng), những bệnh hạn chế
phổi hoạt động (chướng hơi dạ dày, đầy hơi ruột). Những bệnh có sốt cao,
bệnh thiếu máu nặng, bệnh ở tim hay thần kinh quá đau đớn. Tần số hô hấp
giảm trong những bệnh hẹp thanh khí quản (viêm, phù thũng), ức chế thần
kinh (viêm não, u não, xuất huyết não); do trúng độc, chức năng thận rối loạn,
bệnh ở gan nặng, liệt sau khi đẻ hoặc các trường hợp sắp chết. Trong bệnh
xeton huyết ở bò sữa, viêm não tủy truyền nhiễm của ngựa, tần số hô hấp
giảm rất rõ (Hồ Văn Nam và Phạm Ngọc Thạch, 1997) [11].
2.1.2.3. Tần số tim mạch (nhịp tim)
Tần số tim mạch là số lần co bóp của tim trong một phút (lần/phút).
Khi tim đập thì mỏm tim hoặc thân tim chạm vào thành ngực, vì vậy
mà ta có thể dùng tay, áp tai hoặc dùng tai nghe áp vào thành ngực vùng tim
để nghe được tiếng tim. Khi tim co bóp sẽ đẩy một lượng máu vào động mạch
làm mạch quản mở rộng, thành mạch quản căng cứng. Sau đó nhờ vào tính
đàn hồi, mạch quản tự co bóp lại cho đến thời kì co tiếp theo tạo nên hiện
tượng động mạch đập. Dựa vào tính chất này ta có thể tính được nhịp độ
mạch sẽ tương đương với mạch tim đập. Mỗi loài gia súc khác nhau thì tần số
tim mạch cũng khác nhau, sự khác nhau này cũng biểu hiện ở từng lứa tuổi
trong một loài động vật, tính biệt, thời điểm, nhịp mạch đập tương ứng với
nhịp tim. Tuy vậy, tần số tim mạch của động vật chỉ dao động trong một
phạm vi nhất định (Cù Xuân Dần và cộng sự, 1977) [4].

Bệnh Care là một bệnh truyền nhiễm lây lan mạnh, chủ yếu ở chó non
với các triệu trứng sốt, viêm phổi, viêm ruột, niêm mạc và các nốt sài ở vùng
da mỏng. Cuối thời kỳ bệnh thường có hội chứng thần kinh. Sự kế phát các vi
khuẩn ký sinh sẵn có ở đường tiêu hóa, hô hấp thường làm bệnh trầm trọng
thêm, lúc đó bệnh thể hiện chủ yếu dưới hai dạng viêm phổi và viêm ruột
(Vương Đức Chất và Lê Thị Tài, 2004) [1].
Đây là một bệnh có tính chất lưu hành cao ở chó. Bệnh Care hay còn
gọi là Canie Distemper (CD) gây tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lên tử vong trên chó
10
cao hơn bất kỳ virus khác. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở chó con 3 - 6 tháng tuổi,
khi miễn dịch tự động từ mẹ truyền sang đã làm giảm tỷ lệ mắc bệnh từ 25% -
30% và tỷ lệ gây chết ở chó mắc bệnh thường cao từ 50% - 90% (Trần Thanh
Phong, 1996) [13].
Lịch sử bệnh
Bệnh Care hay còn gọi là bệnh sài sốt chó có tên khoa học là Canie
Distemper (CD) xuất hiện ở một số nước Châu Âu, một số nước Châu Á và
Nam Mĩ từ giữa thế kỷ XVIII (Tymothy Y. Woma, Moritz Van vuuren, 2009)
[35]. Virus Care ở chó được phát hiện từ thế kỷ XVIII và được tìm thấy ở
Peru, thuộc Châu Á. Bệnh phân bố khắp thế giới, trong nhiều năm nguyên
nhân của bệnh này được gán cho nhiều loại vi khuẩn. Năm 1905, bác sĩ thú y
người Pháp tên là Care trong quá trình nghiên cứu ông lấy nước mũi của chó
bệnh lọc qua vi khuẩn gây bệnh thực nghiệm cho chó cũng vẫn gây được
bệnh và ông cho rằng nguyên nhân bệnh là do virus. Vì vậy, bệnh này được
gọi là bệnh Care (David T. Smith, Donald S. Martin, 1979) [25].
Hiện nay bệnh có ở khắp nơi trên thế giới, không chỉ xảy ra trên chó
nuôi mà còn xảy ra ở nhiều quần thể động vật hoang dã. Người ta cho rằng
những chó mắc bệnh Care không biểu hiện rõ ràng triệu trứng là mối đe dọa
nghiêm trọng cho việc bảo tồn nhiều loại thú ăn thịt và thú có túi. Năm 1991,
bệnh xảy ra trên quần thể sư tử Serengeti ở Tanzania làm giảm 20% số lượng
toàn đàn (Tymothy Y. Woma, Moritz Van vuuren, 2009) [35]. Đặc biệt, virus

biến đổi về độc lực (giảm tính gây bệnh) nhưng vẫn giữ tính gây nhiễm và có
thể gây bệnh cho một số loài thú hoang dã (Assessment M .E., 2005) [22].
* Hình thái, cấu trúc của virus Care
Hình thái: Virus quan sát được thấy có hình vòng tròn, hình bán nguyệt
do các sợi cuộn quanh tạo thành. Dạng tròn này có đường kính đo được
115nm - 230nm. Màng cuộn kép có độ dày 75 - 85A° với bề mặt phủ các sợi
xoắn ốc từ bên trong ra, không ngưng kết hồng cầu (David T. Smith, Donald
S. Martin, 1979) [25].
Cấu trúc: Nucleocapside chứa ARN một sợi không phân đoạn gồm
1600 nucleotit mã hóa thành 6 protein cấu trúc và 1 protein không cấu trúc.
N: Nucleocapsid, khối lượng phân tử 60 - 62Kda bao quanh và phòng
vệ cho hệ gen của virus, nhạy cảm với những chất phân giải protein.
P: Phosphoprotein, khối lượng phân tử 73 - 80Kda, nhạy cảm với những
yếu tố phân giải protein, đóng vai trò quan trọng trong sự tự sao chép của RNA.
12
M: Matrix, khối lượng phân tử 34 - 39Kda, đóng vai trò quan trọng
trong sự trưởng thành của virus và nối nucleocapsid với những protein vỏ
bọc.
F: Fusion là glycoprotein trên bề mặt của vỏ bọc, khối lượng phân tử 59 -
62Kda, đóng vai trò trong sự kết hợp virus với thụ thể màng tế bào, dẫn đến
kếp hợp nhiều tế bào cảm nhiễm (hợp bào).
H: Protein ngưng kết hồng cầu (Haemagglutinin), hay yếu tố kết dính là
glycoprotein thứ hai của vỏ bọc, khối lượng phân tử 76 - 80Kda, thể hiện tính
chuyên biệt của loài virus. Ở virus Care, protein này không hấp phụ hồng cầu
cũng như không ngưng kết hồng cầu.
*Sức đề kháng của virus Care
Virus Care tương đối không ổn định dễ bị mất tính gây nhiễm ở nhiệt
độ cao, thời tiết khô, hóa chất tẩy rửa, dung môi hào tan mỡ và chất sát trùng.
Trong điều kiện hoang dã, virus sống được ít nhất một năm khi giữ ở 7°C.
Trong Nitrogen không có oxy sống được một năm và đông khô sống được

* Đặc tính nuôi cấy:
Có thể nuôi cấy CDV trên môi trường phôi gà, trên môi trường tế bào
thận chó, trên môi trường tế bào thận khỉ, trên chồn (McCarthy AJ và cs,
2007) [30].
2.1.3.2. Đặc điểm dịch tễ
* Loài vật mắc bệnh
Trong tự nhiên tất cả các giống chó đều cảm thụ, nhưng mẫn cảm nhất
là chó nhập ngoại, chó nội ít mắc hơn. Ngoài ra cáo, cầy và các loài ăn thịt
khác cũng mắc, đặc biệt là loài chồn vô cùng mẫn cảm, thú ăn thịt có vẩy ở
biển cũng mắc.
Chó là loài động vật mắc Care nhiều nhất, đặc biệt là chó đã chọn lọc,
lai tạo. Ngoài chó ra thì cáo, chồn (chồn đen, rái cá…) cũng mắc bệnh. Hổ,
báo, loài gặm nhấm, ngựa, trâu bò không mắc (Nguyễn Vĩnh Phước và cs,
1978) [14].
Năm 1987, người ta cũng tìm thấy bệnh do virus Care trên hải cẩu
(Phocasibirica) ở hồ Baikal Sibero những chủng này đã được lần lượt đặt tên
PDV1 và PDV2 (Phocine Distemper virus).
Trong phòng thí nghiệm, tốt nhất là dùng chồn đen. Ngoài ra, có thể
dùng chuột lang, thỏ, chuột nhắt trắng, khỉ để gây nhiễm.
Chồn và chó là động vật rất mẫn cảm với bệnh vì vậy người ta
thường tiêm truyền virus vào chồn non và chó non để giữ độc lực và đặc
tính kháng nguyên.
* Lứa tuổi mắc bệnh
Trong tự nhiên hầu hết xảy ra ở chó từ 2 đến 12 tháng tuổi, nhiều nhất
là chó từ 3 đến 6 tháng tuổi. Những chó đang bú mẹ ít mắc do được miễn dịch
thụ động qua sữa đầu. Việc gây bệnh thử nghiệm trên chó 6 tháng tuổi dễ hơn
chó 3 tuần tuổi do chó 3 tuần tuổi có kháng thể thụ động thu nhận được từ chó
mẹ (Simson K.W và cs, 1994) [33].
* Mùa vụ nhiễm bệnh
Tô Du và Xuân Giao (2006) [5] khi nghiên cứu về dịch tễ học bệnh

và gan. Vào thời điểm này thì chó bắt đầu sốt.
6 đến 9 ngày sau khi cảm nhiễm, virus vào máu và lan rộng đến tất cả
các cơ quan lympho rồi đến những cơ quan khác. Nếu kháng thể trung hòa
15
được tổng hợp trong 10 ngày sau khi cảm nhiễm thì biểu hiện lâm sàng sẽ
không rõ ràng. Nếu không có kháng thể virus sẽ xâm lẫn tất cả các cơ quan
tạo những biểu hiện lâm sàng và gây chết.
Theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1978) [14] : thời kỳ nung bệnh
khoảng 4 - 5 ngày, dao động từ 2 - 3 ngày đến 2 tuần. Sau khi qua niệm mạc,
virus được lâm ba cầu mang đến các hạch lân cận và phát triển ở đấy. Sau đó,
virus vào máu gây bại huyết. Nó tác động đến nội mạc, mạch máu, gây sốt.
Cơn sốt chỉ khoảng 1 - 2 ngày rồi lùi. Con vật có thể chết, nhưng ít. Do cơ thể
bị yếu đi, một số vi khuẩn ký sinh sẵn trên cơ thể như: Staphylococcus,
Bronchisepticum, Salmonella, Pasteurella, trỗi dậy, nên ít ngày sau cơn sốt
thứ hai xuất hiện nặng hơn, chứng tỏ có sự nhiễm trùng nặng trong phủ tạng.
Vì vậy, con vật bị bệnh có những biến chứng như viêm phổi, viêm não, viêm
ruột thể cata, con vật chết nhiều ở giai đoạn này.
2.1.3.4. Triệu chứng
Biểu hiện bệnh thường rất đa dạng phụ thuộc vào tuổi chó mắc bệnh,
giống chó, tình trạng sức khỏe, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và độc lực của
mầm bệnh.
Đầu tiên chó xuất hiện các triệu chứng chung: mệt mỏi, ủ rũ, ăn ít,
không thích vận động, chảy nước mắt, nước mũi, nôn mửa, sau đó sốt, thân
nhiệt lên đến 40 - 41,5
o
C kéo dài từ 24 - 26 giờ rồi thân nhiệt giảm xuống
38,5 - 39,5
o
C lúc này chó ăn ít, mệt mỏi, 3 - 4 ngày sau xuất hiện cơn sốt thứ
hai, đó là do sự bội nhiễm của các vi khuẩn kế phát. Cơn sốt kéo dài 3 - 4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status