TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN HOÀNG MINH
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
QUYẾT ĐỊNH GỬI TIỀN CỦA NGƯỜI DÂN
VÀO NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH
NINH KIỀU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
MÃ NGÀNH: 52340201
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
MÃ NGÀNH: 52340201
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:
Ths. MAI LÊ TRÚC LIÊN
Cần Thơ – 12/2013 1
CHƢƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Sau hơn sáu năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nền
kinh tế Việt Nam ngày càng thay da đổi thịt và từng bước hội nhập vào nền
kinh tế mở toàn cầu. Tuy vậy, trong thời gian qua, nền kinh tế nước ta có khá
nhiều biến động trên hầu hết các lĩnh vực từ nông nghiệp, công nghiệp cho
đến thương mại, tài chính, Năm 2011, tỷ lệ lạm phát tăng đến 18,13%; số
Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng
đến quyết định gửi tiền của người dân vào ngân hàng Nông nghiệp và Phát
2
triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của
mình.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của người dân
vào Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá công tác huy động vốn và phân tích thực trạng huy động tiền
gửi của dân cư tại Agribank chi nhánh Ninh Kiều từ năm 2010 đến 6 tháng
đầu năm 2013.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của người dân
vào Agribank chi nhánh Ninh Kiều.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác huy động
tiền gửi từ dân cư tại Agribank chi nhánh Ninh Kiều.
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1. Tình hình hoạt động kinh doanh và công tác huy động tiền gửi từ dân
cư tại Agribank chi nhánh Ninh Kiều giai đoạn từ năm 2010 đến 6 tháng đầu
năm 2013 như thế nào?
2. Các nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của người dân vào
Agribank chi nhánh Ninh Kiều?
3. Agribank chi nhánh Ninh Kiều cần làm gì để nâng cao công tác huy
động tiền gửi từ dân cư trong thời gian tới?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Không gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại Agribank chi nhánh Ninh Kiều, số 08 - 10 Nam
Kỳ Khởi Nghĩa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ và khảo sát trên địa bàn
Tổng dư nợ
Vốn huy động
Chỉ tiêu này đánh giá khả năng huy động vốn của ngân hàng để phục vụ
cho vay, phản ánh ngân hàng cho vay bao nhiêu trong tổng vốn huy động
được. Chỉ tiêu này còn đánh giá ngân hàng có sử dụng hiệu quả vốn huy động
để cho vay hay không. Nếu chỉ tiêu này nhỏ, một mặt phản ánh tình hình huy
động vốn tốt, một mặt phản ánh tình hình cho vay chưa tốt. Nếu chỉ tiêu này
lớn, một mặt đánh giá khả năng huy động vốn chưa tốt, mặt khác phản ánh
tình hình sử dụng vốn khá tốt.
+ Chi phí huy động trên tổng chi phí:
Chỉ tiêu 3 =
Chi phí huy động
Tổng chi phí
Chỉ tiêu này đánh giá chi phí của ngân hàng phải bỏ ra cho hoạt động
huy động vốn so với tổng chi phí hoạt động, tỷ lệ càng thấp cho thấy hoạt
động huy động vốn của ngân hàng càng hiệu quả (Quy định hướng dẫn sử
dụng, vận hành chấm điểm, xếp hạng khách hàng trên hệ thống xếp hạng tín
dụng nội bộ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam ban
hành kèm theo Quyết định số 1197/QĐ-NHNo-XLRR ngày 18 tháng 10 năm
2011 của Tổng Giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam, 2011, trang 5).
2.1.2 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng Thƣơng mại
2.1.2.1 Tiền gửi tiết kiệm
a) Khái niệm:
“Là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm,
được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của ngân hàng
4
nhận gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm
+ Đối với người gửi tiền là cá nhân Việt Nam phải xuất trình Chứng
minh nhân dân.
+ Đối với người gửi tiền là cá nhân nước ngoài phải xuất trình hộ chiếu
có thời hạn hiệu lực còn lại dài hơn kỳ hạn gửi tiền (đối với trường hợp nhập,
xuất cảnh được miễn thị thực); xuất trình hộ chiếu kèm thị thực có thời hạn
hiệu lực còn lại dài hơn kỳ hạn gửi tiền (đối với trường hợp nhập, xuất cảnh có
thị thực).
5
+ Đối với người gửi tiền là người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp
luật, ngoài việc xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, phải xuất trình
các giấy tờ chứng minh tư cách của người giám hộ hoặc người đại diện theo
pháp luật của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,
người hạn chế năng lực hành vi dân sự.
- Người gửi tiền đăng ký chữ ký mẫu lưu tại tổ chức nhận tiền gửi tiết
kiệm. Trường hợp người gửi tiền không thể viết được dưới bất kỳ hình thức
nào thì tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm hướng dẫn cho người gửi tiền đăng ký
mã số hoặc ký hiệu đặc biệt thay cho chữ ký mẫu.
- Người gửi tiền thực hiện các thủ tục khác do tổ chức nhận tiền gửi tiết
kiệm quy định.
- Tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm thực hiện các thủ tục nhận tiền gửi tiết
kiệm, mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm và cấp thẻ tiết kiệm cho người gửi tiền
lần đầu sau khi người gửi tiền đã thực hiện các thủ tục.
* Thủ tục các lần gửi tiền gửi tiết kiệm tiếp theo:
- Thủ tục nhận tiền gửi tiết kiệm do tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm quy
định phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh doanh, mô hình quản lý của tổ chức
nhận tiền gửi tiết kiệm, đảm bảo việc nhận tiền gửi tiện lợi, chính xác và an
toàn tài sản.
- Đối với giao dịch gửi tiền vào thẻ tiết kiệm đã cấp, người gửi tiền có
thể thực hiện trực tiếp hoặc gửi thông qua người khác theo quy định của tổ
các ngân hàng thường cho phép khách hàng được rút tiền ra trước thời hạn
nhưng không được hưởng lãi suất, hoặc chỉ được hưởng một mức lãi suất thấp
hơn, thông thường là lãi suất tiền gửi không kỳ hạn (Thái Văn Đại, 2005, trang
6).
2.1.2.3 Tiền gửi khác
“Ngoài hai loại tiền gửi trên, tại các NHTM còn có các khoản tiền gửi
như tiền gửi vốn chuyên dùng, tiền gửi của các tổ chức tín dụng (TCTD) khác,
tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, ” (Thái Văn Đại, 2005, trang 7).
2.1.2.4 Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá
“Giấy tờ có giá (GTCG) là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để
huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời
gian nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức
tín dụng và người mua” (Thái Văn Đại, 2005, trang 8).
+ Giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một năm bao
gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn khác.
+ Giấy tờ có giá dài hạn là giấy tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên
kể từ khi phát hành đến hết hạn bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn.
2.1.3 Các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác huy động tiền gửi của
NHTM
2.1.3.1 Nhân tố khách quan
a) Kinh tế:
“Quy mô sản xuất hàng hóa phát triển sẽ làm cho tỷ suất hàng hóa ngày
càng cao, khối lượng cung ứng hàng hóa ngày càng nhiều, kéo theo các dịch
vụ ngày càng mở rộng, điều này làm cho khách hàng có cảm giác yên tâm. Bởi
nếu quy mô sản xuất nhỏ, số lượng cung ứng hàng hóa khan hiếm, khách hàng
luôn lo sợ thiếu hàng, không mua được hàng nên có dịp là tích lũy hàng hóa
7
gây rối loạn thị trường, cung cầu rối loạn, ” (Nguyễn Thị Thu Hà, Giáo trình
tác động vào các giác quan tương ứng của con người” (Trương Hòa Bình,
2012, trang 16). Ví dụ: Nhìn một người đằng xa chưa biết rõ đó là ai, ta chỉ
thấy người đó “thấp thấp” hay “cao cao”, dáng vẻ trông “quen quen”.
+ “Tri giác là một quá trình tâm lý, là sự tổng hợp các cảm giác riêng lẻ
để có một hình tượng trọn vẹn về sự vật” (Trương Hòa Bình, 2012, trang 17).
+ “Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản
chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng
trong hiện thực khách quan” (Trương Hòa Bình, 2012, trang 18).
8
+ “Tưởng tượng là quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa có trong
kinh nghiệm, bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những hình
ảnh (biểu tượng) đã có” (Trương Hòa Bình, 2012, trang 20).
d) Hành vi cá nhân:
“Là mong muốn đạt được một mục đích nào đó thúc đẩy” (Trương Hòa
Bình, 2012, trang 20).
* Tình huống thúc đẩy:
Khi nghiên cứu tâm lý và hành vi cá nhân, ngoài việc phân tích biểu hiện
bên ngoài, chúng ta cần phải xem xét, đánh giá những nhân tố bên trong như
nhu cầu, động cơ, Động cơ có vai trò rất quan trọng đối với hành vi của cá
nhân, thúc đẩy cá nhân có hành vi mua sản phẩm theo mục tiêu đã vạch sẵn.
Khi thực hiện hành động ấy trải qua nhiều giai đoạn và trong thời gian ấy,
động cơ xuyên suốt thúc đẩy, duy trì hành vi cho tới khi hành vi được thực
hiện. Vấn đề cần quan tâm là nên thực hiện hành động hướng đích hay hành
động thực hiện mục đích. Thật sự, việc giữ mãi một hành động sẽ làm nảy
sinh nhiều vấn đề. Nếu người ta có hành động hướng đích quá lâu, sự vỡ mộng
có thể xuất hiện tới mức người đó có thể từ bỏ hoặc có những hành động vô lý
khác. Mặt khác, nếu một người chỉ có hành động thực hiện mục đích và mục
đích đó không thay đổi thì sự thích thú sẽ mất đi và tính lãnh đạm sẽ tăng song
song với xu hướng giảm động cơ thúc đẩy. Một kiểu hành vi thích hợp và có
(Thái Văn Đại và Nguyễn Thanh Nguyệt, 2010, trang 89).
a) Chiến lược kinh doanh:
Hiện nay, các NHTM ở Việt Nam đang phải chịu khá nhiều áp lực trong
việc giữ và mở rộng thị phần của mình. Các NHTM không chỉ chịu áp lực từ
việc cạnh trạnh khốc liệt bởi các NHTM trong, ngoài nước mà còn phải chịu
áp lực cạnh tranh với các tổ chức tài chính trung gian và các định chế tài chính
khác như thị trường chứng khoán, cho thuê tài chính, bảo hiểm, Vì vậy, các
NHTM cần phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp.
b) Chính sách lãi suất:
Điều đầu tiên một cá nhân gửi tiền vào ngân hàng mong muốn là tìm
kiếm lợi nhuận, do đó lãi suất là yếu tố họ quan tâm đến nhiều nhất. Vì vậy
chính sách lãi suất là một trong những công cụ quan trọng nhất bổ trợ đến việc
huy động tiền gửi của các NHTM. Để duy trì cạnh tranh với các NHTM khác,
đồng thời thu hút thêm vốn, cần phải có một mức lãi suất cạnh tranh đồng thời
phải có thêm các ưu đãi đối với các khách hàng lâu năm, có chính sách khuyến
khích đối với những khách hàng mới.
c) Trình độ công nghệ:
Để thu hút được khách hàng, ngân hàng cần phải đầu tư và đổi mới dịch
vụ, sản phẩm dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, đây là vấn đề
đòi hỏi nhiều chi phí, thời gian, nguồn nhân lực và hiện nay số lượng ngân
hàng triển khai thành công các sản phẩm này không nhiều.
d) Năng lực và trình độ cán bộ ngân hàng:
Trình độ chuyên môn của cán bộ, công nhân viên trong các tổ chức tài
chính ngân hàng chưa cao, đặc biệt trong lĩnh vực quản trị ngân hàng, tư vấn
tín dụng, quản lý rủi ro và tiếp cận các dịch vụ ngân hàng. Trước đây, sự gia
tăng đột biến về quy mô cùng việc ra đời hàng loạt ngân hàng mới dẫn đến
tình trạng các tổ chức tín dụng đưa ra các chính sách ưu đãi để thu hút nhân
lực, nhất là vị trí chủ chốt trong thời gian khá ngắn. Điều này tạo ra sự tiềm ẩn
những rủi ro về quản trị và điều hành của các tổ chức tín dụng, bởi sự dịch
chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt những vị trí chủ chốt diễn ra
Thương mại Cổ phần (NHTMCP) Sài Gòn chi nhánh Cần Thơ”, luận văn tốt
nghiệp, trường Đại học Cần Thơ. Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến quyết định gửi tiền tiết kiệm và lượng tiền gửi của khách hàng vào
NHTMCP Sài Gòn chi nhánh Cần Thơ, đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao
lượng tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng.
- Phương pháp phân tích số liệu của đề tài là sử dụng mô hình Probit
phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm và mô hình
hồi quy tương quan phân tích các yếu tố tác động đến lượng tiền gửi của
khách hàng vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn chi nhánh Cần Thơ. Các biến được
đưa vào mô hình nghiên cứu của đề tài trên:
+ Thu nhập hàng tháng của hộ, dấu kỳ vọng (+).
+ Lãi suất tiền gửi mang dấu kỳ vọng (+).
+ Chất lượng phục vụ của nhân viên, dấu kỳ vọng (+).
+ Có quen với nhân viên ngân hàng mang dấu kỳ vọng (+).
+ Thời gian giao dịch với ngân hàng, dấu kỳ vọng (-).
+ Giới tính của khách hàng, dấu kỳ vọng (-).
- Kết quả nghiên cứu: Sau khi kiểm định tương quan giữa các biến, kiểm
định độ phù hợp của mô hình, đề tài còn lại biến thu nhập, lãi suất, chất lượng
11
phục vụ của nhân viên, có quen với nhân viên ngân hàng và sau khi chạy mô
hình Probit, các biến trên đều mang dấu kỳ vọng ban đầu.
Từ các biến đưa ra trong mô hình nghiên cứu của đề tài (1), tác giả chọn
biến lãi suất, thời gian giao dịch và chất lượng phục vụ của nhân viên đưa ra
vào mô hình nghiên cứu vì nhận thấy tầm ảnh hưởng từ các biến này đến
quyết định gửi tiền từ người dân. Các biến còn lại như giới tính, thu nhập hàng
tháng, trình độ của người dân mang tính tổng quát, chủ yếu thể hiện đặc điểm
cơ bản của từng cư dân, vì thế chưa đủ cơ sở để đưa biến vào đề tài nghiên
cứu. Biến có quen với nhân viên ngân hàng, tác giả nhận thấy biến này mang
tính chất chủ quan, cưỡng buộc, sẽ không đánh giá một cách khách quan nhất
12
Thơ”, luận văn tốt nghiệp, trường Đại học Cần Thơ. Đề tài phân tích thực
trạng thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu thương mại
Cục Hải quan thành phố Cần Thơ và đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng
về chất lượng thủ tục hải quan tại thành phố Cần Thơ. Sau đó, đề ra giải pháp
nâng cao chất lượng dịch vụ về thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập
khẩu tại Cục Hải quan thành phố Cần Thơ.
- Phương pháp phân tích số liệu của đề tài trên là sử dụng phương pháp
phân tích nhân tố khám phá (EFA), phương pháp nhân tố khẳng định (CFA)
nhằm đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng về chất lượng thủ tục hải quan
tại Cục Hải quan trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
- Các biến được đưa vào từng tiêu chí trong mô hình nghiên cứu:
+ Thành phần “Phương tiện hữu hình” gồm các biến: trang thiết bị hiện
đại, tốc độ đường truyền cao, cách bố trí công chức làm việc giúp doanh
nghiệp dễ nhận biết, bố trí ghế ngồi cho doanh nghiệp đến làm việc rất thoải
mái, sạch sẽ mang dấu kỳ vọng (+).
+ Thành phần “Sự tin cậy” gồm biến thấu hiểu, chia sẻ khó khăn; tiếp thu
ý kiến đóng góp từ doanh nghiệp, cách bố trí công chức làm việc giúp doanh
nghiệp dễ nhận biết, xử lý công việc nhanh chóng mang dấu kỳ vọng (+).
+ Thành phần “Sự đáp ứng” gồm biến thủ tục và hồ sơ đăng ký đơn giản
và nhanh chóng, giải đáp thắc mắc của doanh nghiệp, thời gian giải quyết hồ
sơ đúng quy định mang dấu kỳ vọng (+).
+ Thành phần “Năng lực phục vụ” gồm các biến kiến thức chuyên môn
tốt, thái độ văn minh, thông báo đến doanh nghiệp mỗi khi có sự thay đổi về
thủ tục mang dấu kỳ vọng (+).
+ Thành phần “Sự cảm thông” gồm biến hiểu rõ nguyện vọng doanh
nghiệp, bố trí làm việc ngoài giờ, xem trọng doanh nghiệp, cảm thông và chia
sẻ đến doanh nghiệp nhập khẩu cũng như xuất khẩu mang dấu kỳ vọng (+).
- Sau khi sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, kết
quả nghiên cứu ở đề tài (3) hình thành 3 nhân tố mới từ các nhân tố ban đầu và
1. Phương tiện hữu hình: thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân
viên, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ.
2. Sự tin cậy: thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng
thời hạn ngay từ lần đầu tiên.
3. Sự đáp ứng: thể hiện qua sự mong muốn, sẵn sàng của nhân viên phục
vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng.
4. Năng lực phục vụ: thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách
phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng.
5. Sự cảm thông: thể hiện sự chăm sóc đến từng cá nhân, khách hàng
(Parasuraman, 1988, p.12-40).
2.3.2 Lý do chọn mô hình nghiên cứu
- Mô hình SERVPERF là mô hình phổ biến và được sử dụng nhiều trong
các nghiên cứu rất có ích trong việc khái quát hóa các tiêu chí đo lường chất
lượng dịch vụ nhưng nếu cứng nhắc áp dụng triệt để đo lường chất lượng dịch
vụ tiền gửi thì cũng sẽ không thích hợp. Cũng chính Parasuraman và cộng sự
(1988) đã cho rằng một trong những kiếm khuyết của SERVPERF là do mong
muốn tìm được một mô hình có thể đại diện cho tất các các loại hình chất
lượng dịch vụ nên các nhà nghiên cứu này chỉ giữ lại những thành phần nào
phổ biến và phù hợp với tất cả các loại hình dịch vụ. Vì vậy một số nhân tố là
14
cần thiết và phù hợp với một số loại hình dịch vụ nhưng do không phù hợp với
đại đa số nên đã bị loại bỏ. Bên cạnh đó, bằng chứng từ thực nghiệm của
Cronin và Taylor khi thực hiện các nghiên cứu so sánh về các dịch vụ trong
một số lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, làm khô và thức ăn nhanh cho thấy mô
hình có ích trong việc đo lường nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền từ
khách hàng.
- Điểm khác biệt giữa đề tài (1) và đề tài (2), (3) là về phương pháp phân
tích số liệu, đề tài (1) sử dụng mô hình Probit phân tích các nhân tố ảnh hưởng
đến quyết định gửi tiền tiết kiệm, đề tài (2) và (3) đều sử dụng phương pháp
15
+ Mức độ an toàn, bảo mật thông tin.
+ Khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng hạn ngay lần đầu.
c) Sự đáp ứng (DU):
+ Sự sẵn lòng của nhân viên phục vụ nhằm giải quyết thắc mắc của
khách hàng.
+ Mức lãi suất và phí dịch vụ tiền gửi.
+ Thủ tục đơn giản, nhanh chóng.
+ Sản phẩm tiền gửi.
+ Tính liên kết giữa ngân hàng với các doanh nghiệp, ngân hàng khác.
+ Chương trình khuyến mãi.
d) Năng lực phục vụ (NLPV):
+ Trình độ chuyên môn, thông thạo nghiệp vụ.
+ Cung cách phục vụ với khách hàng.
+ Thông báo cho khách hàng khi có sự thay đổi về quy trình, thủ tục.
e) Sự cảm thông (CT):
+ Nhân viên ngân hàng có khả năng nắm bắt tốt nhu cầu khách hàng.
+ Giúp đỡ khách hàng khi gặp sự cố giao dịch.
+ Thời gian làm việc của ngân hàng.
2.3.4 Mô hình nghiên cứu của đề tài
* Mô hình nghiên cứu được viết lại dưới dạng phương trình sau:
Y =
0
+
1
X
1
+
2
X
0
là hệ số chặn.
1
,
2
,
3
,
4
,
5
là các hệ số góc.
ε là sai số ngẫu nhiên.
Biến phụ thuộc của mô hình là quyết định gửi tiền của người dân vào
Agribank chi nhánh Ninh Kiều, quyết định này được giải thích như sau:
Y = 1 nếu khách hàng quyết định là có gửi tiền.
= 0 nếu khách hàng quyết định là không có gửi tiền.
Sau khi xây dựng được mô hình nghiên cứu, tác giả tiến hành phân tích
nhân tố khám phá EFA rút trích và xoay nhóm nhân tố tạo thành tập biến nhân
tố mới, vì thế tác giả sẽ đặt dấu kỳ vọng cho các nhân tố sau khi xuất kết quả
từ phân tích EFA.
16
Bảng 2.1: Tổng hợp các nhân tố trong mô hình
(Nguồn: Sinh viên đề xuất, 2013)
phẩm tiền gửi, tính liên kết giữa ngân hàng với các
doanh nghiệp, ngân hàng khác, chương trình khuyến
mãi.
Năng lực phục vụ
(X4)
Gồm các biến trình độ chuyên môn, thông thạo
nghiệp vụ, cung cách phục vụ với khách hàng và thông
báo cho khách hàng khi có sự thay đổi về quy trình, thủ
tục.
Sự cảm thông (X5)
Gồm biến khả năng nắm bắt tốt nhu cầu khách
hàng, giúp đỡ khách hàng trong giao dịch, thời gian làm
việc của ngân hàng.
17
- Thang đo Likert:
“Thang đo 5 mức độ có thể trở thành 3 hoặc 7 mức độ và đồng ý hay
không đồng ý, và cũng có thể trở thành chấp nhận hay không chấp nhận, có
thiện ý hay phản đối, tuyệt vời hay tồi tệ, nhưng quy tắc là như nhau. Tất cả
được gọi là thang đo Likert” (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc,
2008, trang 13).
Ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng (Interval
Scale):
Với giá trị khoảng cách = (Maximum-Minimum)/n = (5-1)/5 = 0,8.
Giá trị trung bình ý nghĩa:
1,00 – 1,80. Rất không đồng ý/Rất không hài lòng.
1,81 – 2,60. Không đồng ý/Không hài lòng.
2,61 – 3,40. Bình thường/Trung bình.
3,41 – 4,20. Đồng ý/Hài lòng.
4,21 – 5,00. Hoàn toàn đồng ý/Hoàn toàn hài lòng.
Kết hợp (1), (2) và (3) ta có cỡ mẫu n = 96 quan sát.
Và hiện nay theo nhiều nhà nghiên cứu, kích thước mẫu càng lớn càng
tốt (Nguyễn Đình Thọ, 2011, trang 231). Mặt khác, để có thể sử dụng phân
tích nhân tố khám phá (EFA) trong đề tài, kích thước mẫu tối thiểu phải là 50,
tốt hơn là 100 và tỷ lệ quan sát/biến đo lường là 5:1, nghĩa là 1 biến đo lường
18
cần tối thiểu 5 biến quan sát (Hair and ctg, 2006). Cụ thể trong mô hình nghiên
cứu đề xuất 20 biến quan sát có thể được sử dụng để phân tích nhân tố khám
phá, do đó cỡ mẫu cần thiết được chọn để tiến hành nghiên cứu là 100 mẫu.
Trên thực tế, đề tài đã tiến hành phỏng vấn 100 người dân có nhu cầu gửi tiền
tại Agribank chi nhánh Ninh Kiều trong khoảng thời gian từ 24/08/2013 đến
10/10/2013.
- Cách thức lấy mẫu: Theo thống kê từ phòng Kế hoạch – Kinh doanh tại
Agribank chi nhánh Ninh Kiều cung cấp, trên 90% người dân gửi tiền tại ngân
hàng tập trung trên địa bàn quận Ninh Kiều; ngoài ra, số khách hàng còn lại
đến từ các quận khác trên địa bàn thành phố Cần Thơ như Cái Răng, Bình
Thủy, chiếm tỷ lệ rất thấp. Vì vậy, tác giả tiến hành thu thập số liệu nghiên
cứu theo tiêu chí người dân đã giao dịch và chưa giao dịch với ngân hàng. Do
đối tượng nghiên cứu của đề tài là người dân có nhu cầu gửi tiền tiết kiệm vào
ngân hàng, thế nên sau đó, tác giả tiến hành phỏng vấn trực tiếp với nhóm đối
tượng đã giao dịch và có nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng (bao gồm người dân
quyết định có gửi tiền và quyết định không gửi tiền tại ngân hàng) ở 13
phường trên địa bàn quận Ninh Kiều, mỗi phường tác giả phỏng vấn ít nhất 10
mẫu. Dựa trên cơ sở lý thuyết, lược khảo tài liệu có liên quan, đồng thời tham
khảo ý kiến của giáo viên để xây dựng phiếu khảo sát sơ bộ. Kế đến, tác giả
tiến hành phỏng vấn thử 10 mẫu khách hàng để xác định lại tính phù hợp về
nội dung và các thuật ngữ trong phiếu khảo sát. Phiếu khảo sát được tiếp tục
điều chỉnh và sử dụng cho phỏng vấn chính thức.
2.4.2 Phƣơng pháp phân tích số liệu
0
*100-100%
Trong đó y
0
: chỉ tiêu của năm trước.
y
1
: chỉ tiêu của năm sau.
y: biểu hiện tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế.
Phương pháp này làm rõ tình hình biến động của các chỉ tiêu kinh tế
trong thời gian nào đó, so sánh tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu giữa các năm và
so sánh tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu.
+ Phương pháp tỷ trọng:
y =
i
y
y
*100
Trong đó y
i
: từng chỉ tiêu trong năm.
y: tổng chỉ tiêu trong năm.
y: thể hiện phần trăm của từng yếu tố chiếm được trong tổng
thể của các yếu tố đang xem xét trong năm.
Phương pháp này dùng để xác định phần trăm của từng yếu tố chiếm
được trong tổng thể của các yếu tố đang xem xét để thấy được mối quan hệ,
mức độ phổ biến của các chỉ tiêu, thấy được tỷ trọng và vị trí của bộ phận
trong tổng thể và phản ánh cơ cấu, tỷ trọng của từng nguồn vốn trong tổng
nguồn vốn.
* Mục tiêu 2: “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền
giả và ảnh hưởng đến các mối quan hệ của mô hình nghiên cứu.
- “Nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng khi Cronbach Alpha từ 0,80 trở lên
đến gần 1 thì thang đo lường là tốt, từ 0,70 đến 0,80 là sử dụng được. Cũng có
nhà nghiên cứu đề nghị rằng Cronbach Alpha từ 0,60 trở lên là có thể sử dụng
được trong trường hợp khái niệm đang nghiên cứu là mới đối với người trả lời
trong bối cảnh nghiên cứu”. Các quan sát có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ
hơn 0,3 sẽ bị loại khỏi thang đo (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc,
2008, trang 24).
b) Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA):
- Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho phép các nhà
nghiên cứu rút gọn một tập nhiều biến phụ thuộc lẫn nhau, có thang đo định
hướng thành một tập có ít biến hơn để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa
đựng hầu hết nội dung, thông tin của tập nhiều biến ban đầu. Tập các biến
sau khi đã được rút gọn gọi là các nhân tố. Phân tích nhân tố được sử dụng
trong phân khúc thị trường để nhận ra các biến quan trọng nhằm phân nhóm
cá nhân. Ngoài ra, phương pháp này còn dùng để xác định các thuộc tích,
nhân tố có ảnh hưởng đến sự lựa chọn của cá nhân.
- Mô hình EFA có dạng như sau:
F
i
= W
i1
X
1
+
W
i2
X
i2
tiêu chuẩn hệ số tải nhân tố > 0,3 thì cỡ mẫu ít nhất là 350, còn nếu cỡ mẫu
khoảng 100 thì nên chọn tiêu chuẩn hệ số tải nhân tố > 0,55; nếu cỡ mẫu
khoảng 50 thì hệ số tải nhân tố > 0,75”. Do đó, trong nghiên cứu này, nhằm
đảm bảo độ tin cậy, biến quan sát nào có hệ số tải nhân tố ≤ 0,50 sẽ bị loại.
+ Sự khác biệt hệ số tải nhân tố của một biến quan sát giữa các nhân tố ≥
0,3 để đảm bảo giá trị phân biệt giữa các nhân tố (Jabnoun and Al-Tamimi,
2003, p.4).
+ Điểm dừng khi trích các yếu tố có hệ số Eigenvalue ≥ 1 (Gerbing and
Anderson, 1988, p.186-192).
+ Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích ≥ 50% (Gerbing
and Anderson, 1988, p.186-192).
2.4.2.4 Phương pháp hồi quy Binary Logistic
“Với hồi quy Binary Logistic, thông tin chúng ta cần thu thập về biến
phụ thuộc là một sự kiện nào đó có xảy ra hay không, biến phụ thuộc Y lúc
nào có hai giá trị 0 và 1, với 0 là không xảy ra sự kiện ta quan tâm và 1 là có
xảy ra, và tất nhiên là cả thông tin về các biến độc lập X. Từ biến phụ thuộc
nhị phân này, một thủ tục sẽ được dùng để dự đoán xác suất sự kiện xảy ra
theo quy tắc nếu xác suất được dự đoán lớn hơn 0,5 thì kết quả dự đoán sẽ cho
là có xảy ra sự kiện, ngược lại thì kết quả dự đoán sẽ là không” (Hoàng Trọng
và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008, trang 2).
a) Phương trình hồi quy:
Sau khi đánh giá độ tin cậy của thang đo và thực hiện xong phân tích
nhân tố EFA, mô hình nghiên cứu có thể sẽ bị sai khác so với mô hình nghiên
cứu ban đầu, do đó cần phải hiệu chỉnh lại mô hình cho phù hợp với kết quả
phân tích trước khi tiến hành hồi quy đa biến. Phương trình hồi quy Binary
Logistic như sau (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008, trang 2):
log
e
(
( 1)
,…,
k
là các hệ số góc.
22
ε là sai số ngẫu nhiên có kỳ vọng 0 và phương sai σ
2
.
b) Kiểm định giả thuyết:
(1) Kiểm định giả thuyết về hệ số tương quan tuyến tính r:
“Ta có thể kiểm tra hệ số r có giá trị cao tính được ở trong mẫu có phản
ánh một hiệp biến thiên thật sự trong tổng thể hay không hay chỉ do tình cờ”
(Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2005, trang 199).
Giả thuyết không là hệ số tương quan thật của tổng thể (ký hiệu
) ta
quan tâm bằng 0. H
0
:
= 0.
Mức giá trị ý nghĩa Sig. < 5% cho phép ta bác bỏ H
0
, nghĩa là các biến có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. “Trong SPSS, chúng ta có thể kiểm định các
giả thuyết ở mức ý nghĩa nhỏ hơn 5% (SPSS phân biệt bằng cách đánh dấu
một sao * ở cạnh giá trị thống kê được tính trên mẫu) và mức ý nghĩa nhỏ hơn
1% (phân biệt bằng hai dấu sao **)” (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng
Ngọc, 2008, trang 203). Trong phần Correlation Coeficients (hệ số tương
quan), chúng ta sẽ lựa chọn hệ số Pearson dùng để kiểm định giả thuyết về hệ
(3) Kiểm định độ phù hợp mô hình:
“Ở hồi quy Binary Logistic, tổ hợp liên hệ tuyến tính của toàn bộ các hệ
số trong mô hình ngoại trừ hằng số cũng được kiểm định xem xét có thật sự có
ý nghĩa trong việc giải thích cho biến phụ thuộc hay không. Với hồi quy