Thái Bình phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 - Pdf 31

bộ quốc phòng
học viện chính trị

LÊ THị HồNG

ĐảNG Bộ TỉNH THáI BìNH LãNH ĐạO
PHáT TRIểN KINH Tế NÔNG NGHIệP
Từ NĂM 2001 ĐếN NĂM 2010

Luận án tiến sĩ lịch sử

hà nội - 2015


bộ quốc phòng
học viện chính trị

LÊ THị HồNG

ĐảNG Bộ TỉNH THáI BìNH LãNH ĐạO
PHáT TRIểN KINH Tế NÔNG NGHIệP
Từ NĂM 2001 ĐếN NĂM 2010
Chuyên ngành : LịCH Sử ĐảNG đảng cộng sản việt nam
Mã số
: 62 22 03 15

Luận án tiến sĩ lịch sử

Ngời hớng dẫn khoa học:
1. PGS, TS on Ngc Hi
2. GS, TS Nguyn Ngc C

Đảng bộ tỉnh Thái Bình chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO ĐẨY
MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ
NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
2.1.
Những nhân tố mới tác động đến đẩy mạnh phát triển kinh
tế nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình
2.2.
Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đẩy mạnh phát triển
kinh tế nông nghiệp
2.3.
Quá trình chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp
của Đảng bộ tỉnh Thái Bình
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
3.1.
Một số nhận xét
3.2.
Kinh nghiệm chủ yếu
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

5
10

26
26
41


Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hợp tác xã
Kinh tế nông nghiệp
Kinh tế - xã hội

CNXH
CNH, HĐH
HTX
KTNN
KT - XH

Nhà xuất bản
Trang
Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa

Nxb
Tr

UBND
XHCN


5
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài “Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp
từ năm 2001 đến năm 2010” được nghiên cứu sinh lựa chọn làm luận án Tiến sĩ

công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác
định, phát triển KTNN, nông thôn là nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội có vị
trí quan trọng trong chiến lược phát triển KT - XH của đất nước, góp phần
đưa kinh tế Việt Nam giành nhiều thắng lợi có ý nghĩa lịch sử.
Thái Bình là một tỉnh có truyền thống thâm canh lúa nước rất lâu đời,
là tỉnh đầu tiên trong cả nước đạt sản lượng 5 tấn thóc/ha trong những năm
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, chủ
động, tích cực hội nhập quốc tế, từ năm 2001 đến năm 2010, tỉnh Thái Bình
đã đạt được nhiều thành tựu về KT - XH mà điểm nổi bật nhất là phát triển
KTNN. Năm 2010, Thái Bình duy trì tổng diện tích gieo cấy trên 160.000ha,
với tổng sản lượng trung bình ổn định trên 1,1 triệu tấn/năm, cao nhất cả
nước, góp phần đảm bảo an ninh lương thực trong cả nước và của Tỉnh; đời
sống nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao; bộ mặt nông thôn
tỉnh Thái Bình có nhiều thay đổi. Có được kết quả đó là do Đảng bộ tỉnh đã
quan tâm lãnh đạo phát triển KTNN trong sự phát triển chung về KT - XH của Tỉnh.
Tuy vậy, đến năm 2010, nông nghiệp tỉnh Thái Bình đã chuyển sang
sản xuất hàng hóa, nhưng chưa mạnh, hiệu quả còn thấp; chưa tạo được các
vùng sản xuất hàng hóa lớn, tập trung; nhiều nơi chuyển đổi cơ cấu cây trồng,
vật nuôi, hình thành trang trại, gia trại tự phát, thiếu quy hoạch, hiệu quả thấp;
nuôi thủy sản thâm canh, bán thâm canh tăng chậm. Hoạt động của các HTX
dịch vụ nông nghiệp chậm đổi mới [135, tr.35]. Nhiều vấn đề lý luận, thực
tiễn về lãnh đạo, phát triển KTNN của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đang đặt ra đòi
hỏi Đảng bộ tỉnh phải giải quyết, phấn đấu đến năm 2020 “Thái Bình trở
thành tỉnh nông thôn mới, có nền nông nghiệp và công nghiệp theo hướng
hiện đại” [135, tr.40].


7
Nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển
KTNN trong những năm 2001 - 2010, nhằm khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo

tỉnh Thái Bình. KTNN theo nghĩa rộng bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngư nghiệp, theo nghĩa hẹp gồm hai ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi,
thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người, con người với đối tượng
lao động trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Trong phạm vi luận án, nghiên
cứu sinh tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đối với
các ngành KTNN: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, chế biến thủy sản và các
yếu tố phục vụ cho các ngành đó phát triển.
* Về thời gian
Tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình về phát
triển KTNN từ năm 2001 đến năm 2010. Tuy nhiên, để bảo đảm tính hệ thống
và đạt được mục đích nghiên cứu, luận án có đề cập đến một số vấn đề liên
quan trong thời gian trước năm 2001 và sau năm 2010.
* Về không gian
Trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế,
trong đó có KTNN.
* Cơ sở thực tiễn
Luận án được thực hiện trên cơ sở thực tiễn hoạt động lãnh đạo phát
triển KTNN của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 2001 đến năm 2010. Đồng
thời dựa trên kết quả nghiên cứu, khảo sát thực tế của nghiên cứu sinh và kế
thừa một số kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đã
được công bố.


9
* Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nông nghiệp là lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Phát
triển KTNN luôn được Đảng xác định là mặt trận hàng đầu trong sự nghiệp
đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Do vậy, nghiên cứu KTNN là
một trong những vấn đề được nhiều nhà khoa học, các cơ quan quan tâm
nghiên cứu. Nhiều công trình nghiên cứu về KTNN đã được công bố, có
thể khái quát và phân thành các nhóm công trình khoa học sau:
1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp, nông
dân và nông thôn trong cả nước
Tập thể tác giả các nhà khoa học thuộc Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung
ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong cuốn sách Con đường
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam [13], đã đề
cập đến vai trò của ngành KTNN và những vấn đề đặt ra trong quá trình
CNH, HĐH; tập trung nêu rõ hệ thống quan điểm cơ bản trong phát triển
nông nghiệp, nông thôn của Đảng từ Đại hội III đến Đại hội IX. Các tác giả
đưa ra một số mô hình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của các nước như
Đài Loan, Hàn Quốc… có giá trị tham khảo đối với Việt Nam.
Tác giả Nguyễn Sinh Cúc với cuốn sách Nông nghiệp, nông thôn thời
kỳ đổi mới 1986 - 2002 [42], đã nhìn nhận một cách khá toàn diện lịch sử phát
triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, khắc họa toàn cảnh bức tranh về
nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Từ phân tích thực
trạng, tác giả đưa ra những định hướng và kiến nghị, giải pháp nhằm đưa
nông nghiệp, nông thôn phát triển.
Trong cuốn sách Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và các
nước trong khu vực của Phạm Khiêm Ích và Nguyễn Đình Phan [73], đã



12
nông dân trong quá trình công nghiệp hoá [104]. Tác giả Lê Hữu Tòng
với cuốn sách Nghiên cứu so sánh đổi mới kinh tế ở Việt Nam và cải cách
kinh tế ở Trung Quốc [137]. Tác giả Nguyễn Đình Liêm với cuốn sách
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Đài Loan [81]
… Các cuốn sách đã tổng hợp, phân tích vấn đề nông nghiệp, nông thôn,
nông dân trong quá trình công nghiệp hóa ở một số nước trong khu vực và
tác động của nó tới Việt Nam, trong đó có những vấn đề mang tính lý luận
và thực tiễn sâu sắc như vai trò của nông nghiệp trong công nghiệp hóa;
vấn đề chuyển đổi cơ cấu sản xuất; giải quyết những vấn đề về đất đai, lao
động, môi trường...
Tác giả Vũ Oanh trong cuốn sách Nông nghiệp và nông thôn trên con
đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa [95], đã đề
cập những vấn đề có tính lý luận được thể hiện trong đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn; vai
trò của các thành phần kinh tế trong nông nghiệp, khai thác tiềm năng nguồn
vốn to lớn của nông dân để thúc đẩy sản xuất phát triển; yêu cầu cấp bách đưa
nền KTNN Việt Nam theo con đường CNH, HĐH. Đồng thời, tác giả đã tổng
kết những kinh nghiệm qua việc chỉ đạo thực hiện đường lối đổi mới của
Đảng, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về tiến hành
đổi mới cơ chế quản lý KTNN.
Nghiên cứu về những vấn đề mang tính chiến lược đối với nông
nghiệp, nông thôn, tác giả Nguyễn Xuân Thảo trong cuốn sách Góp phần
phát triển bền vững nông thôn Việt Nam [114], đã đề cập đến những vấn đề
như: vấn đề sử dụng đất đai, an ninh lương thực, quy hoạch các vùng kinh tế,
vấn đề việc làm ở nông thôn, lợi ích người lao động.
Tác giả Lưu Văn Sùng trong cuốn sách Một số kinh nghiệm điển hình
về phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại




14
Bàn về thực trạng các vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân, tác
giả Đặng Kim Sơn với cuốn sách Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam - hôm
nay và mai sau [105], đã làm rõ quá trình phát triển tư duy của Đảng về phát
triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH, sự lãnh đạo, chỉ đạo và
những thành tựu đạt được cũng như những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại.
Tác giả đã đề xuất những định hướng và kiến nghị một số chính sách nhằm
đưa nông nghiệp, nông thôn ngày càng phát triển hơn.
Tác giả Phạm Ngọc Dũng trong cuốn sách Công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn - từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
[49], đã trình bày cơ sở lý luận CNH, HĐH nông thôn trong phát triển bền
vững, đánh giá đúng thực trạng một số vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc nảy sinh
trong thực hiện công nghiệp hóa ở nông thôn Việt Nam như: Tình trạng mất
đất, thiếu việc làm ở nông thôn ngày càng nghiêm trọng, hiện tượng ly nông
ra các đô thị kiếm sống rất lớn.
Bàn về phát triển KTNN trong những năm 1986 - 2011, tác giả Nguyễn
Ngọc Hà có cuốn sách Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2011) [62]. Tác giả làm rõ
quá trình hình thành những quan điểm, chủ trương phát triển KTNN của Đảng
trong thời kỳ đổi mới; nghiên cứu một cách toàn diện về KTNN; quá trình
triển khai thực hiện đường lối, chính sách phát triển KTNN và những thành
tựu đạt được. Trong đó, đã tập trung vào nội dung trung tâm là vấn đề Đảng
lãnh đạo thực hiện đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp, giải phóng sức
lao động, phát huy sự năng động, sáng tạo của người nông dân.
Cũng về KTNN, nhưng đi sâu về quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu
ngành, có luận án tiến sĩ Sử học của Đặng Kim Oanh về Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm
2006 [94]. Tác giả Luận án trình bày có hệ thống quan điểm, chủ trương,



16
thôn theo hướng CNH, HĐH; khái quát thực trạng phát triển kinh tế nông
thôn Việt Nam, nông thôn miền Đông Nam Bộ. Đồng thời, đã trình bày
những đặc điểm tự nhiên, KT - XH có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông
thôn miền Đông Nam Bộ từ sau đổi mới; những khó khăn trở ngại có ảnh
hưởng đến kinh tế nông thôn miền Đông Nam Bộ cần nghiên cứu, giải quyết
như thị trường, giá cả vật tư, nông sản thường xuyên không ổn định, thiếu
vốn để sản xuất kinh doanh. Từ thực trạng trên, tác giả đưa ra phương hướng
và những giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế nông thôn miền Đông Nam
Bộ theo hướng CNH, HĐH.
Trong cuốn sách Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp ở
đồng bằng sông Hồng - thực trạng và triển vọng của Đặng Văn Thắng và
Phạm Ngọc Dũng [113], các tác giả đã nghiên cứu những mặt cụ thể trong
quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở vùng đồng bằng sông Hồng
và phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn cũng như những thành tựu,
hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu KTNN, cơ cấu lao động, giải quyết việc
làm cho lao động nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng.
Tác giả Mai Thị Thanh Xuân với cuốn sách Công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Trung Bộ (qua khảo sát các tỉnh Thanh Nghệ - Tĩnh) [173]. Trong đó, đã nêu lên những thuận lợi và khó khăn, những
thành tựu và hạn chế trong quá trình tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn; đồng thời đúc rút kinh nghiệm và đưa ra những gợi mở về các giải pháp
chủ yếu nhằm phát triển KTNN ở vùng đất có tầm quan trọng chiến lược này
trong thời kỳ CNH, HĐH. Thông qua nguồn tài liệu, số liệu thực tế rất phong
phú và tin cậy của Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh trong cuốn sách, giúp
nghiên cứu sinh có thêm tư liệu của các tỉnh để so sánh với kết quả phát triển
KTNN ở tỉnh Thái Bình trong thời kỳ đổi mới.
Nhằm làm rõ đường lối phát triển nông nghiệp của Đảng trong những
năm đổi mới và quá trình vận dụng của Đảng bộ và nhân dân các tỉnh Nam



18
thực trạng và giải pháp [48], tác giả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công - nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông
Hồng; phân tích làm sáng tỏ thực trạng chuyển dịch cơ cấu KTNN vùng đồng
bằng sông Hồng. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những quan điểm, phương
hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu KTNN vùng
đồng bằng sông Hồng có hiệu quả.
Luận án tiến sĩ Lịch sử của Nguyễn Văn Vinh về Đảng bộ tỉnh Thanh
Hóa lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1986 đến năm
2005 [171]. Tác giả đã làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trong
quá trình thực hiện chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng về chuyển dịch cơ
cấu KTNN từ năm 1986 đến năm 2005; khắc họa các bước phát triển trong
chuyển dịch cơ cấu KTNN của tỉnh Thanh Hóa qua hai giai đoạn: giai đoạn 10
năm đầu đổi mới (1986 - 1995) và giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
(1996 - 2005). Qua đó, tác giả đúc kết một số kinh nghiệm lịch sử và gợi mở
những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và tổng kết thực tiễn; đưa ra những giải
pháp lãnh đạo phát triển KTNN có hiệu quả hơn ở các giai đoạn tiếp theo.
Luận án tiến sĩ Lịch sử của Vũ Quang Ánh về Thực hiện đường lối của
Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp ở một số tỉnh, thành đồng bằng sông
Hồng từ năm 1997 đến năm 2010 [5]. Tác giả làm rõ quá trình đảng bộ và
nhân dân một số địa phương đồng bằng sông Hồng (các tỉnh, thành Bắc Ninh,
Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng) thực hiện đường lối của Đảng về phát
triển KTNN từ năm 1997 đến năm 2010. Luận án cũng đưa ra những hạn chế,
thiếu sót cần khắc phục và bước đầu rút ra một số kinh nghiệm lãnh đạo của
các đảng bộ về phát triển KTNN trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Luận án tiến sĩ Lịch sử của Trần Thị Thái về Đảng bộ tỉnh Nam Định
lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa từ năm 1997 đến năm 2005 [115]. Tác giả trình bày có hệ thống quan




20
Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Thái Bình với cuốn Người nông
dân Thái Bình trong lịch sử [7]. Đây là công trình gồm nhiều bài viết của các
tác giả đề cập đến người nông dân tỉnh Thái Bình. Họ không những có truyền
thống cách mạng kiên cường mà còn có truyền thống thâm canh lúa nước từ
lâu đời. Các bài viết cho thấy: Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước, với khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một
người”, tỉnh Thái Bình đã dồn lực huy động sức người, sức của ra tiền tuyến
tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên các chiến trường miền Nam,
Lào, Campuchia. Ở hậu phương, trong muôn vàn khó khăn, gian khổ, thiếu
vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu, cơ sở hạ tầng sản xuất yếu kém; các tiến bộ kỹ
thuật về giống, phương thức canh tác khoa học lạc hậu… song nhân dân tỉnh
Thái Bình đã xây dựng thành công những cánh đồng “Quảng Trị kiên cường”,
“Cánh đồng 5 tấn”, ghi dấu ấn về trình độ thâm canh lúa nước của nông dân
tỉnh Thái Bình.
Tác giả Nguyễn Dương An trong cuốn sách Từ quê lúa Thái Bình [1],
đề cập đến điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội, con người Thái Bình có nhiều
nét đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ…rất thuận lợi cho việc phát triển
nền KTNN toàn diện, đặc biệt là đẩy mạnh thâm canh cây lúa nước. Quá trình
hình thành, khai phá vùng đất Thái Bình gắn liền với xu hướng hội tụ của các
luồng dân cư về khai phá, chinh phục và cải tạo vùng đất Thái Bình, biến nơi
đây thành vùng đất nông nghiệp điển hình.
Tác giả Nguyễn Dương An trong cuốn sách Dân giàu xã mạnh - kinh
nghiệm quản lý tài chính nông thôn ở tỉnh Thái Bình [2], đã giới thiệu một số
nét về thành tựu KT - XH tỉnh Thái Bình, một vùng đất giàu truyền thống anh
hùng, yêu nước, cách mạng, trong đó có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo
làm KTNN, những tấm gương tiêu biểu làm kinh tế giỏi, những nhân tố mới
điển hình ở tỉnh Thái Bình trong thời kỳ đổi mới. Bên cạnh đó, tác giả đưa ra

thôn trong tỉnh không thể nào khác là phải đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH
nông thôn. Đó là quá trình chuyển mạnh sản xuất thuần nông sang sản xuất


22
hàng hóa phù hợp với nền kinh tế thị trường; ưu tiên phát triển mạnh mẽ toàn
diện kinh tế biển; phát triển nghề và làng nghề truyền thống; triển khai xây
dựng các khu công nghiệp…
Nghiên cứu một số nét về thành tựu KT - XH của tỉnh Thái Bình, tác
giả Nguyễn Dương An có cuốn sách Thái Bình thời đổi mới [3]. Trong đó,
không chỉ giới thiệu thành tựu của KT - XH tỉnh Thái Bình mà còn nêu bật
thành tựu trên lĩnh vực phát triển KTNN. Với những kết quả đạt được,
nông nghiệp tỉnh Thái Bình đã góp phần quyết định vào việc ổn định tình
hình KT - XH trên địa bàn tỉnh, đưa nền kinh tế của Tỉnh đi lên, tạo ra tiền đề
vững chắc cho sự phát triển mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn. Người dân tỉnh Thái Bình thực sự tin tưởng, phấn khởi,
yên tâm đối với chủ trương của Đảng nói chung và chủ trương của Đảng bộ
tỉnh nói riêng. Đặc biệt, sự phát triển của nông nghiệp tỉnh Thái Bình trong
thời kỳ đổi mới đã mở ra khả năng mới cho người nông dân và nông nghiệp
tỉnh Thái Bình là có thể làm giàu trên chính mảnh đất của mình.
Luận án tiến sĩ Kinh tế của Lê Quốc Dung về Thực trạng các chính
sách kinh tế - xã hội trong nông nghiệp, nông thôn Thái Bình từ đổi mới đến
nay và những vấn đề đang đặt ra [47]. Tác giả nêu rõ thực trạng nông nghiệp,
nông thôn tỉnh Thái Bình trong 20 năm đổi mới (1986 - 2006). Trong đó, bên
cạnh nêu bật những thành tựu đạt được, tác giả đã chỉ ra những hạn chế trong
chính sách KT - XH trong nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thái Bình và đưa ra
những giải pháp để đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên
địa bàn tỉnh.
Nguyễn Hồng Diên với bài viết Thái Bình phát triển kinh tế biển gắn với
giải quyết an sinh xã hội và bảo vệ chủ quyền biển, đảo [44]. Tác giả nêu bật

theo những mục đích và nhiệm vụ khác nhau… Thông qua đó, các tác giả đã
đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh phát triển KTNN thực hiện
thắng lợi mục tiêu đưa tỉnh Thái Bình trở thành tỉnh có nền nông nghiệp và
công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.


24
2. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã
công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
2.1. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã
công bố
Từ tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, có
một số điểm nổi bật sau:
Một là, các công trình khoa học nghiên cứu về những vấn đề liên quan
đến phát triển KTNN rất phong phú và đa dạng, với nhiều cách tiếp cận khác
nhau từ góc độ lịch sử, kinh tế, chính trị... trên phạm vi cả nước, ở các vùng,
miền khác nhau nhưng đều thống nhất khẳng định rõ vị trí, vai trò, tầm quan
trọng của KTNN đối với sự phát triển KT - XH của đất nước, của các vùng,
miền và của từng tỉnh riêng biệt. Ở Việt Nam, phát triển KTNN luôn được
Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp,
góp phần đẩy mạnh phát triển KT - XH, ổn định đời sống nhân dân, nhờ đó
cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi, vững bước đi lên trên con
đường phát triển đất nước.
Hai là, những công trình khoa học nói trên đã bước đầu hệ thống hóa
đường lối, chủ trương của Đảng, của một số Đảng bộ về phát triển KTNN
trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH. Các công trình đã dựng lại
bức tranh khá toàn diện về tình hình phát triển KTNN Việt Nam dưới sự
lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ đổi mới.
Ba là, một số công trình đã nghiên cứu tổng kết, đánh giá kết quả, đúc
rút kinh nghiệm, đề xuất được các chủ trương, giải pháp nhằm nâng cao hiệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status