CHUYÊN ĐỀ
KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
MÔN NGỮ VĂN TRONG TRƯỜNG THCS
MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU
Trang
I
Lý do chọn đề tài
3
1
Cơ sở lý luận
3
2
Cơ sở thực tiễn
3
II
Mục đích nghiên cứu
5
9
1
Phát hiện và lựa chọ đội tuyển HSG
9
2
Giáo viên lập kế hoach bồi dưỡng HSG
11
3
Tích lũy tư liệu dạy học
12
4
Hướng dẫn HS phương pháp học tập hiệu quả
13
5
Những nội dung kiến thức cần bồi dưỡng theo khối lớp
28
1
CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cụm từ viết tắt
THCS:
Nghĩa đầy đủ
Trung học cơ sở
HS
Học sinh
TS:
Tổng số
SGK:
Sách giáo khoa
CNTT
Công nghệ thông tin
SKKN:
nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ vị trí, đặc trưng của bộ môn trong mối
quan hệ với các môn học khác. Học tốt môn Ngữ văn sẽ tác động tích cực tới các
môn học khác và ngược lại. Để có được một học sinh yêu thích, đam mê và thật sự
giỏi văn chương là một việc không dễ. Bồi dưỡng nhân tài nói chung, đào tạo học
sinh giỏi văn nói riêng là công việc vô cùng quan trọng và thiêng liêng của người
giáo viên dạy văn trong nhà trường hiện nay. Công việc ấy, đòi hỏi tâm
huyết, trách nhiệm và phụ thuộc nhiều ở kinh nghiệm phát hiện, lựa chọn và năng
lực giảng dạy của người giáo viên. Học sinh giỏi văn chính là nguồn nhân lực tương
lai của các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Đào tạo học sinh giỏi văn đúng
nghĩa là công việc khó khăn. Việc phát hiện học sinh giỏi, có thiên bẩm văn chương
càng không phải chuyện là dễ dàng trong ngày một ngày hai. Có người ví rằng:
“Chuyện ngưòi thầy phát hiện học sinh giỏi văn chẳng khác công việc của người
trồng hoa, chơi cây cảnh”. Bông hoa đẹp bởi bàn tay chăm sóc, tỉa tót, uốn nắn của
người trồng. Quan trọng hơn, đôi mắt của người trồng phải thấy được thế cây, kiểu
dáng, biết chọn dáng đẹp, biết làm cho hoa khoe sắc rực rỡ đúng kì. Nói như thế
cho thấy công việc phát hiện , bồi dưỡng học sinh giỏi văn là một kì công của người
thầy dạy văn.
3
2. Cơ sở thực tiễn
Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ từ
mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học đến cách thức đánh giá kết
quả dạy học, trong đó đổi mới phương pháp là khâu quan trọng. Trong phương pháp
tổ chức, người học, đối tượng của họat động “dạy”, trở thành trung tâm, là chủ thể
của hoạt động “học”, giáo viên là người tổ chức, chỉ đạo. Phương pháp dạy học đổi
mới nhằm tăng cường, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khả năng tự học
trong hoạt động học tập của học sinh. Với ý nghĩa ấy, việc phát hiện, lựa chọn, đào
tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn văn trở thành nhu cầu cần thiết không thể thiếu
trong quá trình dạy học của giáo viên và chiến lược phát triển của nhà trường.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trong quá trình dạy học, mỗi giáo viên đều có những kinh nghiệm giảng dạy
riêng, song mục đích cuối cùng gặp nhau là : Làm sao để học sinh yêu thích học
môn Ngữ văn? Làm sao để có được đội tuyển học sinh giỏi Văn có năng lực giải
quyết các vấn đề khó trong quá trình giao tiếp và tiếp nhận văn chương ?Làm sao
để học biết dùng từ hay, đúng trong nói và viết? Những câu hỏi đó có lẽ luôn trăn
trở trong lòng mỗi giáo viên chúng ta.
Mục đích của chuyên đề này là đóng góp một vài kinh nghiệm nhỏ bé của
tôi trong việc dạy học bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ Văn từ lớp 6 đến lớp 9 để học
sinh yêu thích bộ môn, kết hợp được những phương pháp dạy học Ngữ văn truyền
thống và những phương pháp mới của dạy học hiện đại.
Chuyên đề này nhằm giúp giáo viên chúng ta phát hiện, xây dựng và bồi
dưỡng đội tuyển HSG Ngữ văn, tạo điều kiện để học sinh phát huy năng khiếu, cảm
thụ và tạo lập tốt một văn bản và ứng dụng vào cuộc sống thực tiễn tốt nhất. Bồi
dưỡng học sinh giỏi còn góp phần đẩy mạnh phong trào học tập tốt trong nhà
trường, phát triển năng lực trí tuệ, giáo dục tư tưởng tình cảm thẫm mĩ cho học sinh.
Đồng thời giúp học sinh có định hướng cho việc chọn ngành, chọn nghề, tạo điều
kiện tốt để học sinh tiếp tục học chuyên sâu ở ngành học, bậc học cao hơn
5
Mục tiêu cuối cùng mà chuyên đề muốn đạt tới là mỗi giáo viên sẽ tìm ra
một phương pháp tối ưu để dạy học đạt kết quả tốt nhất phù hợp với đối tượng học
sinh của mình.
III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Chương trình giảng dạy môn Ngữ văn THCS qua các khối lớp 6,7,8,9.
- Đội tuyển học sinh giỏi ở các khối lớp 6,7,8,9.
- Đề thi học sinh giỏi Ngữ Văn của các khối lớp những năm gần đây.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Điều tra các hoạt động dạy học bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên - học sinh
chúng ta phải là một người thầy vừa hồng vừa chuyên, hay nói theo cách khác,
phải đủ tâm và đủ tầm, phải có ý thức tích cực trau dồi, tích lũy chuyên môn, đọc
nhiều, hiểu sâu vấn đề mà mình dạy học sinh theo phương châm biết mười dạy một,
thường xuyên tham khảo và học hỏi kinh nghiệm của các giáo viên có kinh nghiệm
và chuyên môn vững vàng trong và ngoài huyện, tỉnh, chủ động tìm tòi tư liệu dạy
học trên các phương tiện, đặc biệt là trên mạng internet, lựa chọn trang web nào
hữu ích, các tác giả giỏi, các đề thi hay, chuyên đề hấp dẫn… để sưu tầm tài liệu.
Một điều hết sức quan trong đó là truyền cho học sinh niềm say mê, hứng thú, tinh
thần ham học hỏi, tìm tòi cái mà chúng ta gọi là truyền lửa cho học sinh.
Tôi nghĩ rằng Người thầy giáo có vai trò quyết định nhất đối với kết quả
HSG, các em HS có vai trò quyết định trực tiếp đối với kết quả của mình; Kết quả
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi có đạt hay không, điều đó còn phụ thuộc rất lớn ở
các em học HS. Việc bồi dưỡng học sinh giỏi giống như chúng ta ươm một mầm
non. Nếu chúng ta biết rào, biết thường xuyên chăm sóc, vun xới thì mầm non sẽ
xanh tốt, phát triển.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Công tác bồi dưỡng HSG trong các nhà trường hiện nay cơ bản được chú
trọng đầu tư chuyên môn. Tuy nhiên chúng ta cũng nên nhìn nhận thẳng thắng
7
những vấn đề thuận lợi và khó khăn trong công tác bồi dưỡng HSG để từ đó có
những biện pháp cụ thể đem lại hiệu quả tốt nhất. Thục trạng đó được biểu hiện rõ ở
hai mặt: Thuận lợi và khó khăn.
1. Thuận lợi:
Ban giám hiệu nhà trường luôn sát sao chỉ đạo, quan tâm kịp thời của BGH,
có những kế hoạch cụ thể, lâu dài trong công việc bồi dưỡng HSG của giáo viên .
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học tương đối đầy đủ giúp cho
việc dạy và học được tốt nhất..
Giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có nhiều kinh nghiệm trong
1. Phát hiện và chọn lựa đội tuyển học sinh giỏi
1.1. Phát hiện học sinh giỏi
Việc chọn được đội tuyển học sinh giỏi văn hiện nay không phải chuyện dễ.
Đó là nỗi buồn chung của người dạy văn hiện nay. Có lẽ số say mê học văn trong
đội tuyển là rất ít mà chủ yếu là còn những em không đi vaò được đội tuyển nào thì
các em vào đội tuyển Ngữ văn. Như vậy giáo viên văn chúng ta phải căng mình lên
để bồi dưỡng đội tuyển gọi là “chắp vá”. Giáo viên chúng ta phải “ nhào nặn”
những học sinh “ế” của đội tuyển khác. Tuy nhiên với niềm say mê và trách nhiệm
chúng ta vẫn có thành công. Đó là điều đáng quí, đáng trân trọng.
Giải pháp quan trọng là việc lựa chọn HS vào đội tuyển. GV đứng lớp phải
để ý HS ngay từ những ngày đầu lớp 6. Ngoài việc lựa chọn qua điểm số của HS thì
việc lựa chọn thông qua các lời giải độc đáo là hết sức quan trọng. Thực tế cho
thấy, các HS năng khiếu là các HS có những bài viết hay (hay câu hỏi) khác với
thầy và các bạn, có thể nó còn dài dòng và lủng củng, nhưng không sao, ta sẽ uốn
nắn sau. Có những HS lại có kiểu ghi chép rất lạ, không giống những gì GV ghi trên
bảng, nhưng khi ta đọc kĩ cách ghi ấy thì lại vừa đủ kiến thức của bài, lại vừa có sự
ghi nhớ độc đáo của cá nhân HS đó. Tức là, kĩ năng quan sát tinh tế để phát hiện
9
sớm HSG của GV là rất quan trọng. Chọn được HSG vào đội tuyển đã khó, giữ các
em ở lại đội tuyển đến năm lớp 9 còn khó hơn bởi vì các em sẽ rẽ ngang chuyển
sang bộ môn khác có khả năng đạt giải cao hơn môn Ngữ Văn. Theo tôi một học
sinh giỏi văn cần có những yếu tố sau:
a. Học sinh có năng lực văn học hoặc năng khiếu văn chương.
Nói đến năng khiếu là nói đến tài năng thiên bẩm của con người ở một hoạt
động sáng tạo nào đó đặc biệt là trong lĩnh vực nghệ thuật. Trong lĩnh vực sáng tạo
cái đẹp chỉ có cố công, gắng sức thôi không đủ. Phải có tài, có năng khiếu. Đây là
lĩnh vực không thể đào tạo được hàng loạt bằng mở lớp, mở trường .
Nếu năng khiếu là chuyện trời sinh thì năng lực văn học có thể đào tạo được.
GV, các em cần tìm đọc các tài liệu hay để tích lũy cho mình. Mặt khác, các diễn
đàn trao đổi về kiến thức trên Internet cũng rất nhiều, ở đó thường hội tụ các GV và
HS rất giỏi, chúng ta và cả HS nên tham khảo có chọn lọc các kiến thức trên các
diễn đàn đó. Các phương diện trên là những biểu hiện và đồng thời cũng là những
yêu cầu cụ thể đối với học sinh giỏi văn.
1.2. Cách chọn học sinh giỏi
Thông thường hiện nay chúng ta có được đội tuyển học sinh giỏi là đầu năm
học cho các em đăng ký vào đội tuyển. Khi có đội tuyển rồi chúng ta tiến hành bồi
dưỡng và lựa chọn những em có năng lực văn học nhất để thành đội tuyển nòng cốt
và tập trung bồi dưỡng sâu. Loại những em không có khả năng.
Để chọn được những học có năng lực văn học chúng ta thường cho các em
làm đề kiểm tra. Trong quá trình chấm chữa bài chúng ta sẽ có đội tuyển thực sự.
Quá trình này không chỉ diễn ra một lần mà trong suốt quá trình bồi dưỡng. Kịp
thời uốn nắn những sai sát cho các em tiến bộ. Sát đến ngày thi là chốt danh sách
học sinh có năng khiếu thực sự. Muốn vậy đề kiểm tra khảo sát đội tuyển phải toàn
diện cả về kiến thức, kỹ năng và sự sáng tạo. Đặc biệt là xu hướng ra đề thi hoặc
câu hỏi mở trong đề thi để đánh giá sự sáng tạo của học sinh.
2. Giáo viên lập kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi.
11
Một biện pháp nữa không thể thiếu là GV phải lập kế hoạch cho mình một
cách thật cụ thể, chi tiết, chia ra nhiều giai đoạn (mỗi giai đoạn phải cụ thể đến từng
tuần), tránh tình trạng thích đâu dạy đó. Cá nhân tôi thấy rằng, kế hoạch càng cụ thể
chi tiết thì càng dễ thực hiện và dễ rút kinh nghiệm. Sau mỗi giai đoạn cần rút kinh
nghiệm một cách nghiêm túc, đề ra phương hướng thực hiện và điều chỉnh cho các
giai đoạn tiếp sau đó. Các bạn có thể tham khảo mẫu kế hoạch bồi dưỡng học sinh
giỏi như sau:
Tháng
bắt chước , rập khuôn. Nếu như vậy học sinh sẽ mau chán học bởi học sinh bây giờ
khác xưa nhiều rồi,các em không thụ động, không tiếp nhận kiến thức một chiều từ
giáo viên.
4. Hướng dẫn học sinh phương pháp học tập có hiệu quả.
Trong công tác bồi dưỡng HSG, với thời lượng lên lớp với đội tuyển là
không nhiều, thì việc hướng dẫn HS tự học là đặc biệt quan trọng. Thực tế cho thấy
HS nào có tinh thần và phương pháp tự học tốt thì sẽ thành công cao hơn các bạn
khác. GV cần hướng dẫn cho HS (và cả phụ huynh HS) cách sử dụng quỹ thời gian
của mình (con em mình) một cách hợp lý và hiệu quả, tránh lãng phí thời gian,
nhưng cũng đảm bảo thời gian nghỉ ngơi giải trí. Thực tế cho thấy, có HS học rất
nhiều, thâu đêm suốt sáng, không thu xếp được thời gian nghỉ ngơi, nên hậu quả là
không những không thành công mà còn gây mụ mẫm đầu óc, cơ thể mệt mỏi kéo
dài.
Mặt khác, người thầy cần bồi dưỡng HS dưới nhiều hình thức, trực tiếp và
gián tiếp (qua giờ giảng trên lớp, qua gặp gỡ ngoài giờ, qua email, các diễn đàn, câu
lạc bộ…) với lòng nhiệt tình, tận tụy cao độ, đem hết cái tâm của mình ra để truyền
tải kiến thức kĩ năng và phương pháp cho học trò.
Ngoài ra còn là giải pháp về tâm lý. Người thầy, ngoài việc dạy HS kiến
thức, kĩ năng, phương pháp còn phải kết hợp các biện pháp về tâm lý. Sau mỗi kỳ
thi của các em, sẽ có những em thành công và có những em thất bại, tôi thường yêu
cầu các em viết ra suy nghĩ của mình về nguyên nhân thành công (thất bại) của bản
thân, đề ra phương hướng, kế hoạch và mục tiêu đạt giải mấy cho vòng thi sau. Sau
đó cho các em dán lên góc học tập của mình, ngày nào các em cũng nhìn thấy
những điều mà mình đã viết, từ đó tạo động lực không nhỏ cho thành công sau này.
5. Những nội dung kiến thức cần bồi dưỡng theo khối lớp.
Thực ra, việc bồi dưỡng học sinh giỏi khi có kết quả đem lại, ngoài sự nỗ lực
ra còn có cả yếu tố may mắn, sự thăng hoa trong bài viết khi đi thi của học sinh và
13
Đặt tiêu đề cho từng ý. Gọi tên các biện pháp nghệ thuật qua các dấu hiệu.
Bước 3: Lập dàn ý cho bài cảm thụ. Nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật với nội
dung đã tìm. Dự kiến nêu cảm nghĩ, đánh giá, liên tưởng theo hiểu biết của bản thân
xoay quanh nội dung tìm hiểu.
Bước 4: Viết thành đoạn văn hay bài văn cảm thụ.
3. Phần tập làm văn:
a. Văn kể chuyện ( kể chuyện đời thường, kể chuyện tưởng tượng), cho tình
huống và xây dựng thành câu chuyện có cốt truyện hấp dẫn.
b. Văn miêu tả: Tả người (người thân, người mới quen, tả nhân vật văn
học…) , tả cảnh.
LỚP 7
I. Phần Tiếng Việt
- Nắm được các khái niệm cơ bản về các phép tu từ (Điệp ngữ, chơi chữ, liệt
kê ). Vận dụng vào làm bài tập cảm thụ văn học.
- Năm được các khái niệm về (Từ láy, đại từ, từ trái nghĩa, từ đồng nghĩa, từ
đồng âm, thành ngữ). Thấy được vai trò, tác dụng và sự biến đổi linh hoạt của các
từ này trong diễn đạt, vận dụng vào phân tích thơ văn.
- Phần câu: Câu rút gọn, câu đặc biệt, các loại dấu câu, từ đó soi sáng vào
phân tích văn bản văn học.
II. Phần Văn
1. Văn học dân gian (ca dao, dân ca, tục ngữ, thành ngữ).
- Triển khai dạy theo từng chủ đề của ca dao như : Hình ảnh con cò trong ca
dao, hình ảnh người mẹ trong ca dao, hình ảnh quê hương đất nước trong ca dao,
tiếng nói của tâm hồn, tình cảm trong ca dao...
15
- Phần tục ngữ dạy theo qui trình: giải thích, tìm hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng ,
phân tích nội dung và nghệ thuật của tục ngữ. Cách phân tích tục ngữ có thể tham
khảo kiểu bài nghị luận xã hội ở lớp 9 (có mẫu phần lớp 9)
+ Thân bài: (Giải thích lần lượt từng nội dung, khía cạnh của vấn đề bằng cách vận
dụng lý lẽ và dẫn chứng tiêu biểu chính xác đã được xắp xếp theo một trình tự khoa
học hợp lý)
1. Luận điểm 1: thường là trả lời câu hỏi Như thế nào? Là gì? Có ý nghĩa
gì?....
a. Khía cạnh 1 (lý lẽ+ dẫn chứng)
b. Khía cạnh 2 (lý lẽ+ dẫn chứng)
c. ......
2. Luận điểm 2: thường là trả lời câu hỏi Tại sao?
- Khía cạnh 1 (lý lẽ+ dẫn chứng)
- Khía cạnh 2 (lý lẽ+ dẫn chứng)
- ......
3. Luận điểm 3: Thường trả lời câu hỏi Phải làm gì?
a. Khía cạnh 1 (lý lẽ+ dẫn chứng)
b. Khía cạnh 2 (lý lẽ+ dẫn chứng)
c. ......
+ Kết bài: Tóm tắt, khẳng định lại ý nghãi hoặc tầm quan trọn, tác dụng... của vấn
đề và rút ra bài học cho bản thân.
c. Cảm thụ văn học: Rèn kỹ năng cảm thụ về đonạ thơ, đoạn văn ngoài chương
trình tham khảo qua sách báo, trên mạng...
LỚP 8
I. Phần Tiếng Việt
- Nắm vững kiến thức cơ bản trên lớp học chính khóa.
- Vận dụng kiến thức về các biện pháp tu từ vào cảm thụ thơ văn.
17
II. Phần văn
1. Văn học trung đại
- Bồi dưỡng kỹ năng phân tích riêng lẻ từng tác phẩm cụ thể.
3. Phần Tập làm văn
a. Văn tự sự
- Kỹ năng viết văn tự sự có yếu tố miêu tả, biểu cảm và nghị luận.
- Văn thuyết minh: cách làm bài văn thuyết minh, các kiểu bài thuyết minh.
b. Văn nghị luận: Đây là phần trọng tâm nhất:
- Bồi dưỡng khái niệm, cách lập luận trong các kiểu bài giải thích và chứng minh,
cách trình bày luận diểm, yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận... đặc biệt phải có các
dạng đề cụ thể để học sinh rèn kỹ năng viết.
- Kiểu bài nghị luận gắn với phần tác phẩm văn học phải được rèn thường xuyên.
c. Cảm thụ văn học:
Tiếp tục bồi dưỡng theo các phương pháp và kỹ năng ở các lớp dưới đã học.
LỚP 9
I. Phần Tiếng Việt
19
- Bám sát kiến thức học trên lớp và học thêm buổi chiều. Từ đó mở rộng
nâng cao vận dụng vào làm bài tập Tiếng Việt có trong đề thi hoặc làm bài tập cảm
thụ văn học, bài tập tình huống.
- Ôn tập lại kiến thức lớp 6,7,8 về các phép tu từ để giải quyết bài tập.
II. Phần văn học
1. Văn học trung đại
- Bồi dưỡng kiến thức về hoàn cảnh lịch sử.
- Bồi dưỡng theo từng tác phẩm trọng tâm:
+ Nguyễn Dữ và “Chuyện người con gái Nam Xương” (Phân tích truyện, giá trị
nhân đạo và hiện thực, hình tượng người phụ nữ ...)
+ “Truyện Kiều” của Nguyễn Du gồm các đoạn trích học: phân tích riêng lẻ từng
đoạn trich, Bồi dưỡng theo nhóm nội dung như: Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc
sắc trong “Truyện Kiều”. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong “Truyện Kiều”. Tấm
Kiểu bài thuyết minh
Văn tự sự có yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận.
Tóm tắt tác phẩm tự sự.
Kỹ năng viết các dạng đoạn văn: qui nạp, diễn dịch, tổng- phân- hợp...
Văn nghị luận: đây là phần trọng tâm bồi dưỡng, có 2 dạng bài nghị luận
ở lớp 9:
- Kiểu bài nghị luận xã hội: gồm 2 dạng
+ Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo đức, lối sống:
+ Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội
Với dạng bài nghị luận xã hội có thể hướng dẫn học sinh làm theo các bước sau:
a. Mở bài:
- Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần bàn luận.
- Đánh giá khái quát vấn đề nghị luận.
b. Thân bài: gồm các thao tác sau
- Nêu khái niệm hoặc nhận thức về sự vật hiện tượng. (Ví dụ: Bạo lực
học đường là gì? )
- Nêu thực trạng (Biểu hiện), các dạng tồn tại, số liệu.
- Nguyên nhân dẫn đến thực trạng (chủ quan, khách quan)
21
- Hậu quả vấn đề xấu, (kết quả- vấn đề tích cực)
- Đề xuất giải pháp (Cần bám sát vào nguyên nhân)
- Mở rộng (bằng nhiều cách như cách phản đề)
- Bài học nhận thức và hành động.
c. Kết bài
- Khẳng định lại vấn đề nghị luận.
- Lời khuyên hành động.
Có 6 yếu tố cơ bản giúp học sinh diễn đạt hay mà các đồng chí có thể tham khảo
sau đây:
Thứ nhất: Từ ngữ và cách lựa chọn từ ngữ.
Biết lựa chọn từ ngữ một cách chính xác, gợi cảm là một trong những yếu tố
quyết định để có cách diễn đạt hay. Dù là loại văn sáng tác hay nghị luận, nếu đó là
một bài văn haykhi đọc lên chúng ta thấy người viết có vốn từ rất phong phú và đặc
biệt họ sử dụng rất chính xác linh hoạt.Từ ngữ dùng đúng lúc đúng chỗ sẽ lột tả
được thần thái của sự vật làm cho người đọc thấy khoái chí vì thấy mình không thể
viết được như vậy, phải thốt lên lời thán phục. Học cách sử dụng từ ngữ của các nhà
thơ, nhà văn như Nguyễn Du, Nguyễn Tuân...
Ví dụ: Học cách dùng từ trong đoạn văn sau: “ Mặt trăng xế mãi non Đoài chiếu
xuống dòng sông hơi gợn sóng một dải lung linh như nắm tơ vàng ngâm lơ lửng.
Xe ngừng lại, đỗ lù lù bên cánh đồng vắng, đợi con đò chập choạng bơi sang. Bốn
bề im lặng, chỉ nghe tiếng ánh trăng lờ đờ trôi dưới sông khuya và tiếng mái chèo
vỗ nước của con đò lẻ. Đò sang đến giữa dòng thì mặt trăng còn cách chân trời hơn
23
một thước, chiếu dài một vệt rực lên như vàng cháy, phảng phấp giống một chữ I
run rẩy chết giữa dòng sông, đang chơi vơi cố ngoi lên với lây dấu chấm vàng là
mảnh trăng treo lạnh lùng ở chân trời. Con đò lừ đừ nhập vào cái vòng ánh sáng
vàng rực ấy.” (Tiểu thuyết thứ bảy- 1944- Trần Cư)
Thứ hai: Viết câu phải linh hoạt.
Bài văn hay là bài văn biết vận dụng tất cả các loại câu một cách linh hoạt. Tức
là tùy từng lúc, từng chỗ, tùy vào giọng văn của từng đoạn mà có những kiểu câu
cho phù hợp. Như câu đơn, câu ghép, câu cảm thán, câu nghi vấn, câu khẳng định,
câu phủ định, câu điều kiện...
Khi nào cần dùng câu ngắn. Khi nào cần dùng câu dài.? Để diễn đạt tình cảm
trực tiếp thì thường dùng câu cảm thán, muốn tranh luận, bàn bạc, gây chú ý nên
dùng câu nghi vấn. Nên dùng câu có hai mệnh đề để làm thay đổi giọng văn như:
chứng nhằm làm sáng tỏ vấn đề để người đọc hiểu, tin và đồng tình với mình.
Muốn lập luận chặt chẽ thi lập luận cần đăỵ mình vào vị trí người đọc để trình bày.
Nên dùng các từ ngữ như : tại sao, vì thế, cho nên, thật vậy, tuy thế, không chỉ...mà
còn, nếu như, bên cạnh đó...
Ví dụ: Đoạn văn sau đây là một ví dụ : “ Trong Truyện Kiều cái gì qui định sự
thể hiện các nhân vật ? Cái gì làm cho sự miêu tả các nhân vật như Kim Trọng, Từ
Hải, Thúy Kiều khác với các nhân vật như Sở Khanh, Tú Bà, Mã Giám Sinh..?
Phải chăng là một đằng đã bước sang ngòi bút hiện thực còn đằng kia chưa thoát
khỏi sự trói buộc của của mỹ học phong kiến? Nhưng nếu vậy thì tại sao chỗ này
thoát khỏi khác còn chỗ kia thì bó tay? Ở đây có một quan niệm nghệ thuật gắn liền
với hình thức mô tả đó. Kiều, Kim Trọng...là loại người được mô tả như là những “
đấng”, những “bậc” trong xã hội. Mà đã là “ đấng”, “bậc” thì không thể mô tả
như người phàm tục mà phải tuân thủ theo các mẫu mực đã có sẵn. Còn Sở Khanh,
Tú Bà, Mã Giám Sinh... thực tế là quân vô loài thì còn có qui tắc chuẩn mực nào
ràng buộc được? Mẫu mực duy nhất để miêu tả chúng là hiện thực, do tác giả quan
25