ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-------♦-------
NGUYỄN ĐÌNH QUỲNH
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH (1996 - 2006)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
---------♦--------
NGUYỄN ĐÌNH QUỲNH
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH (1996 - 2006)
Chuyên ngành:
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
60 22 56
XHCN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 3
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................................ 3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ....................................................................................... 4
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài........................................................................ 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 8
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................ 8
6. Đóng góp của luận văn .............................................................................................. 8
7. Kết cấu luận văn ........................................................................................................ 9
Chƣơng 1 ..................................................................................................... 10
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CỦA ĐẢNG BỘ ............... 10
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH ..................... 10
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000 ................................................................. 10
1.1. Chủ trƣơng của Đảng về cải cách hành chính (1996 - 2000) .................. 10
1.1.1. Hoàn cảnh lịch sử và yêu cầu về cải cách nền hành chính nhà nƣớc ... 10
1.1.2. Chủ trƣơng của Đảng về cải cách hành chính (1996 - 2000) ............... 13
1.2. Đảng bộ Thành phố Hải Phòng vận dụng chủ trƣơng của Đảng về cải
cách hành chính ............................................................................................ 18
1.2.1. Đặc điểm địa lý - hành chính, kinh tế - xã hội Thành phố Hải
Phòng .......................................................................................................... 18
1.2.2. Chủ trƣơng và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ Thành phố Hải Phòng
về cải cách hành chính.................................................................................. 22
- Chủ trƣơng của Đảng bộ Thành phố Hải Phòng ..................................................... 22
Chương 2 CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở HẢI PHÒNG DƢỚI SỰ LÃNH
hành chính là một quá trình thay đổi cơ bản cơ cấu quyền lực của bộ máy Nhà
nước nhằm đạt được sự phối hợp giữa các bộ phận vì mục đích chung, phối
hợp các quyền lực để tạo ra hiệu lực, hiệu quả quản lý, phục vụ nhân dân.
Hiểu theo nghĩa này, CCHC là những thay đổi các khâu trong hoạt động quản
lý nhà nước như: lập kế hoạch, định thể chế, tổ chức, công tác cán bộ, tài
chính...
Những năm qua, CCHC được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm
do các nguyên nhân như: những thành tựu về khoa học và công nghệ đã tác
động mạnh mẽ tới quy trình quản lý; kinh tế thị trường ngày càng được mở
rộng, đòi hỏi phải thay đổi truyền thống cũ của nền hành chính; nước ta hội
nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi phải xoá bỏ dần sự ngăn cách
của mô hình hành chính không phù hợp với yêu cầu phát triển; nền hành
chính cũ mang tính quan liêu và ngày càng tỏ ra không phù hợp với xu thế
phát triển dân trí ngày càng cao, đòi hỏi dân chủ ngày càng cấp bách.
Hải Phòng là một thành phố cảng biển, là trung tâm kinh tế, công
nghiệp, thương mại, dịch vụ vùng duyên hải Bắc Bộ, là đầu mối giao thông
quan trọng của miền Bắc. Cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính
1
được Đảng bộ Thành phố Hải Phòng xác định là khâu đột phá, giải phóng các
rào cản cho phát triển kinh tế - xã hội. Việc đẩy mạnh CCHC ở Hải Phòng đã
tăng cường hiệu lực quản lý của các cơ quan nhà nước, tạo môi trường đầu tư
thông thoáng hơn, đáp ứng các yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng
sâu rộng, làm minh bạch hóa và góp phần phòng, chống tham nhũng... Tuy
nhiên, trong quá trình lãnh đạo, tổ chức và thực hiện của Đảng bộ Thành phố
Hải Phòng, có nhiều nội dung thuộc về biện pháp thực hiện cần phải được
điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện hơn. Vì vậy, việc nghiên cứu vai trò lãnh
đạo của Đảng bộ Hải Phòng, làm rõ những thành tựu, hạn chế, rút ra những
chức - một nội dung thực hiện chủ trương cải cách hành chính nhà nước giai
đoạn 2001 - 2010” của Đàm Hoàng Thụ, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số
3/2008; “Cải cách hành chính và tăng trưởng kinh tế” của Nguyễn Sinh Doãn Huề, Tạp chí Cộng sản, số 788, tháng 6/2008; “Cải cách tài chính công
ở Việt Nam” của Trần Văn Giao, Tạp chí Cộng sản, số 788, tháng 6/2008;
“Quá trình thực hiện cải cách hành chính nhà nước qua hơn hai mươi năm
đổi mới” của Thang Văn Phúc, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 8, năm 2008; “Đẩy
mạnh hơn nữa cải cách hành chính để hội nhập và phát triển” của Trần Văn
Tuấn, Tạp chí Cộng sản, số 790, tháng 8/2008; “Cải cách thể chế ở Việt Nam
trước thách thức toàn cầu hoá” của Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Cộng sản, số
791, tháng 9/2008; “Đảng lãnh đạo cải cách tổ chức và hoạt động của bộ
máy hành chính nhà nước giai đoạn 1986 - 2006” của Trần Đình Thắng, Tạp
chí Lịch sử Đảng, số 10/2008. Các công trình trên đã đề cập những nguyên
tắc cơ bản chỉ đạo CCHC; thành tựu, hạn chế của công cuộc CCHC; mối quan
hệ giữa CCHC với phát triển kinh tế - xã hội; phương hướng, giải pháp thực
hiện CCHC...
Cải cách hành chính nhà nước còn được đề cập ở một số luận văn thạc
sĩ như: “Công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước dưới sự lãnh đạo của
Đảng trong thời kỳ đổi mới (1986 - 1996)” của Lê Văn In, Luận văn Thạc sĩ,
Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998;
“Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cải cách nền hành chính nhà nước từ
năm 1996 đến năm 2006” của Lê Đình Lung, Luận văn Thạc sĩ, Trung tâm
4
Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên Lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội,
2006. Các công trình nghiên cứu trên đã khái quát nền hành chính Việt Nam
trước năm 1986; những yêu cầu khách quan cải cách nền hành chính; các
phương hướng, nhiệm vụ và tổ chức thực hiện cải cách nền hành chính nhà
nước theo tinh thần các Nghị quyết của Đảng; kết quả về CCHC trong từng
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quá trình Đảng bộ Hải
Phòng vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về
CCHC trên địa bàn Thành phố từ năm 1996 đến năm 2006.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu chính để thực hiện luận văn gồm các nhóm:
- Các văn kiện Đại hội, Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam có
liên quan đến CCHC.
- Các Báo cáo, Chỉ thị, Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ và các
cấp chính quyền ở Thành phố Hải Phòng về CCHC.
- Các ấn phẩm, sách, bài tạp chí và các bài báo về CCHC.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện chủ yếu bằng
phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc. Ngoài ra, có kết hợp với các phương
pháp khác như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh. Các phương
pháp trên được vận dụng phù hợp với từng nội dung của luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
- Cung cấp hệ thống tư liệu về quá trình Đảng bộ Thành phố Hải Phòng
lãnh đạo thực hiện CCHC giai đoạn 1996 - 2006, đóng góp vào việc biên soạn
lịch sử Đảng bộ địa phương.
- Luận văn cung cấp một số kinh nghiệm có ý nghĩa tham khảo cho quá
trình tiếp tục thực hiện CCHC ở Thành phố Hải Phòng.
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho giảng dạy và nghiên cứu các vấn
đề liên quan đến CCHC.
6
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ Thành phố
cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta. Thêm vào đó, chúng ta vừa ra khỏi
chiến tranh, lại phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh diễn ra ở biên giới
phía Bắc và phía Tây Nam. Trong quan hệ quốc tế, đây là thời kỳ chúng ta
gặp nhiều khó khăn phức tạp, không có lợi cho cách mạng, các nước XHCN
8
anh em lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện. Các thế lực thù địch tập
trung chống phá các nước CNXH, trong đó có Việt Nam.
Nền hành chính nhà nước trong thời gian trước đổi mới theo đánh giá
của Đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) thì bộ máy nhà nước còn quá cồng
kềnh và kém hiệu quả. Các cơ quan nhà nước ở trung ương có tới 34 bộ, cơ
quan ngang bộ và 40 cơ quan thuộc Chính phủ. Cơ chế quản lý tập trung quan
liêu bao cấp là nguyên nhân trực tiếp làm cho bộ máy nặng nề, nhiều tầng,
nhiều nấc [18, tr.133]. Nhược điểm lớn nhất của Nhà nước giai đoạn này là
chậm đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức lãnh đạo rập khuôn như thời
chiến tranh, hạn chế khả năng thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Lý luận của
Đảng về xây dựng nhà nước lạc hậu, chưa theo kịp đà chuyển biến của thực
tiễn.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) khởi xướng
công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, lấy trọng tâm là đổi mới kinh tế. Để
thực hiện tốt công cuộc đổi mới này, về mặt nhà nước, Nghị quyết Đại hội chỉ
rõ, cần phải “tiến hành một cuộc cải cách lớn các cơ quan của bộ máy Nhà
nước” theo phương hướng “Xây dựng và thực hiện một cơ chế quản lý nhà
nước thể hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động ở tất cả các cấp.
Tăng cường bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương và cơ sở thành
một thể thống nhất, có sự phân định rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm từng cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phân biệt chức năng quản
lý hành chính - kinh tế với quản lý sản xuất - kinh doanh, kết hợp quản lý theo
kinh tế được tăng cường. Dân chủ về chính trị được mở rộng. Tổ chức bộ máy
nhà nước từ trung ương đến địa phương, cơ sở đã được đổi mới, hoàn thiện theo
hướng tinh gọn, hiệu quả hơn và gần dân hơn… Nhờ đó, tạo sự ổn định chính trị
- xã hội, tiền đề quan trọng để nước ta bước sang thời kỳ mới của sự phát triển,
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, nền hành chính nhà nước do
được xây dựng và phát triển trong điều kiện nước ta vốn là một nước nông
10
nghiệp lạc hậu, chịu ảnh hưởng sâu đậm hàng trăm năm đô hộ của chủ nghĩa
thực dân cũ và mới sau đó là hàng chục năm vận hành theo cơ chế kế hoạch
hoá tập trung quan liêu bao cấp, nên nền hành chính đó đã tồn tại nhiều yếu
kém, ảnh hưởng đến bản chất dân chủ XHCN của Nhà nước ta, làm giảm hiệu
quả thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và việc phát huy bản chất của một nhà
nước của dân, do dân, vì dân.
Từ việc kiểm điểm tình hình và rút kinh nghiệm thực tiễn, Đảng ta
khẳng định, trong điều kiện một đảng cầm quyền, sự đổi mới chưa đồng
bộ các tổ chức trong hệ thống chính trị là trở ngại lớn của công cuộc CCHC
trong thời gian qua. Tình hình trên đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng,
kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh có hiệu lực và hiệu quả,
bài trừ quan liêu, giữ vững và phát huy bản chất cách mạng của một nhà nước
của dân, do dân, vì dân.
1.1.2. Chủ trương của Đảng về cải cách hành chính (1996 - 2000)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) đã nghiêm
túc nhận định về thực trạng yếu kém, bất cập làm cản trở sự phát triển của đất
nước. Đó là chưa có nhiều kinh nghiệm trong quản lý nền kinh tế khi chuyển
đổi sang cơ chế thị trường; tổ chức bộ máy Nhà nước vẫn còn bất hợp lý; nền
hành chính ở nhiều khâu vẫn chưa thích ứng với nền kinh tế thị trường; năng
hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước
hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của Nhà nước, thúc
đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân
dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật.
Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng hệ
thống pháp luật phù hợp với cơ chế mới; cải tiến quy trình xây dựng và ban
hành văn bản pháp luật của Chính phủ, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cải cách
thủ tục hành chính và sắp xếp lại bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa
12
phương, hợp nhất một số cơ quan quản lý chuyên ngành về kinh tế trên cơ sở
xác định rõ và thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành.
Theo đó, 4 điểm bổ sung quan trọng trong định hướng cải cách được Nghị
quyết Đại hội đề ra là:
- Phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp hành chính;
- Tiếp tục nghiên cứu để cụ thể hoá sự phân cấp quản lý nhà nước giữa các
cơ quan của Chính phủ với chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Đổi mới chế độ công chức và công vụ (bao gồm sửa đổi quy chế thi
tuyển, bồi dưỡng, đào tạo mới và trẻ hoá đội ngũ CBCC, kiên quyết xử lý và
sa thải những người thoái hoá, biến chất; tăng cường biện pháp và phối hợp
lực lượng đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, cửa quyền trong
bộ máy quản lý nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà nước);
- Thành lập Toà án hành chính.
Cụ thể hóa chủ trương trên, tháng 6/1997, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, khoá VIII ra Nghị quyết về phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.
Tiếp tục thực hiện CCHC là một trong những chủ trương và giải pháp lớn
được nhấn mạnh trong Nghị quyết, nhằm mục tiêu vừa cơ bản vừa cấp bách là
đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, trình độ cho cả hệ thống chính trị,
theo các yêu cầu phát triển mới của đất nước. Pháp lệnh quy định chế độ
tuyển dụng qua thi tuyển công khai, dân chủ được áp dụng thay thế cho chế
độ xét tuyển trước đó, nhằm chọn được người có đủ phẩm chất, tài năng vào
bộ máy Nhà nước; những việc CBCC không được làm; chế độ ngạch bậc, xử
lý vi phạm đối với CBCC.
Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và Nghị quyết Trung ương 7 khoá
VIII của Đảng (8/1999) thể hiện quyết tâm chính trị lớn về tiếp tục tiến hành
CCHC, đặt CCHC trong tổng thể của đổi mới hệ thống chính trị. Từ việc
kiểm điểm tình hình và rút kinh nghiệm thực tiễn, Đảng ta khẳng định, trong
14
điều kiện một đảng cầm quyền, sự đổi mới chưa đồng bộ các tổ chức trong hệ
thống chính trị là trở ngại lớn của công cuộc CCHC thời gian qua. Không thể
tiến hành cải cách riêng nền hành chính tách rời sự đổi mới tổ chức và
phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động
của các đoàn thể nhân dân. Cũng không thể CCHC một cách biệt lập mà
không đồng thời đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan lập
pháp, cơ quan tư pháp.
Từ nhận thức đó, Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VIII) đã đề ra chủ
trương tiến hành sắp xếp lại tổ chức, bộ máy Đảng và các tổ chức trong hệ
thống chính trị gắn liền với CCHC theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu
lực, hiệu quả. Đồng thời với việc kiên quyết sắp xếp một bước bộ máy các tổ
chức trong hệ thống chính trị, thực hiện tinh giản biên chế, cải cách chính
sách tiền lương.
Tóm lại, lúc đầu, CCHC chỉ là những biện pháp tình thế xử lý những
bất hợp lý của bộ máy hành chính, sau đó trở thành chủ trương, giải pháp để
thực hiện cải cách bộ máy Nhà nước nhằm tạo động lực cho đổi mới kinh tế.
0,7 - 1,7m so với mực nước biển) và địa hình đồi sát núi.
Hải Phòng có bờ biển dài 125 km. Tài nguyên biển và tài nguyên du
lịch của Hải Phòng được xem như một thế mạnh mà thiên nhiên ban tặng, với
nhiều thắng cảnh đẹp như Đồ Sơn, Bạch Long Vĩ, khu vực núi Đèo (Thủy
Nguyên), Đa Độ, Núi Voi, Phù Liễu (Tiên Lãng). Vùng biển có đảo Cát Bà
được ví như hòn ngọc, một đảo đẹp và lớn nhất trong quần thể 360 đảo lớn
nhỏ quây quần bên nó, nối tiếp với vùng đảo Vịnh Hạ Long.
Hải Phòng có một mạng lưới sông ngòi, gồm 16 con sông với tổng
chiều dài 341 km trong đó có 5 sông chính là Bạch Đằng, Cấm, Lạch Tray,
Văn Úc, Thái Bình. Những con sông trên tạo thành mạng lưới đường thủy rất
thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa từ Hải Phòng tới các miền khác nhau
của đất nước.
16
Năm 2003, Hải Phòng được Chính phủ công nhận là đô thị loại I trung
tâm cấp quốc gia, là thành phố lớn thứ ba của Việt Nam sau Thành phố Hồ
Chí Minh và Thủ đô Hà Nội. Đến năm 2007, Hải Phòng gồm 15 quận huyện,
được chia thành 143 xã, 70 phường, 10 thị trấn.
Bảng 1.2.1. Tổ chức hành chính của Thành phố Hải Phòng từ năm 2007
TT
Tên đơn vị hành chính
1 Quận Hồng Bàng
2 Quận Lê Chân
3 Quận Ngô Quyền
4 Quận Kiến An
5 Quận Đồ Sơn
6 Quận Hải An
7 Quận Dương Kinh
2
15
1
17
2
35
1
22
1
29
2
10
15
(Nguồn: [49, tr.28])
17
18
thoại/100 dân vào năm 2005. Số người khai thác, sử dụng dịch vụ Internet
ngày càng tăng, đến năm 2005 đã có hơn 4.000 thuê bao, trang web của thành
phố đã đưa vào sử dụng.
Giáo dục và đào tạo Hải Phòng: Duy trì phổ cập tiểu học đúng độ tuổi,
đạt chuẩn quốc gia về phổ cập phổ cập trung học cơ sở, đang tiến hành phổ
cập trung học phổ thông. Hệ thống các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề
được đầu tư, nâng cấp bước đầu đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực. Về
chất lượng nguồn lực, theo kết quả điều tra năm 2005, tổng số lao động đang
làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân trên địa bàn thành phố là 850.756
người, trong đó có 216 tiến sĩ, 817 thạc sĩ, 33.174 đại học và 12.320 cao đẳng,
38.529 trung cấp, 75.012 công nhân kỹ thuật. Tính bình quân, đạt 2,6 người
có trình độ đại học, cao đẳng/1.000 dân; 22 người có trình độ trung học
nghề/1.000 dân; 19 công nhân kỹ thuật/1.000 dân [84, tr.6].
Các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số, gia đình, thể dục thể
thao tiếp tục phá triển, chất lượng được nâng lên. Giải quyết các vấn đề xã hội
bức xúc có chuyển biến tích cực, thực hiện tốt chính sách với người có công,
người bị ảnh hưởng chất độc da cam. Việc phòng chống các tệ nạn xã hội
được triển khai sâu rộng, bằng những giải pháp kiên quyết, đồng bộ.
Về dân số và thành phần dân cư, đến năm 2006, dân số sống ở nông
thôn là 1.107.700 người, ở thành thị là 646.400 người. Từ số liệu thống kê
cho thấy số đơn vị cơ sở địa bàn nông thôn là (161/218) chiếm 73,8% tổng số
địa bàn cơ sở, dân số (1.107.700/1.754.100 người) chiếm 63,1% dân số sinh
sống trên địa bàn, một tỉ lệ lớn trong tổng số đơn vị cơ sở và dân số Hải
Phòng.
Là cửa ngõ của đất nước, Hải Phòng có nhiều lợi thế so với các tỉnh
khác của vùng đồng bằng Bắc Bộ, là nơi hội tụ nhiều yếu tố quan trọng của
quá trình tăng tốc; là điều kiện thuận lợi để xây dựng các khu công nghiệp,
chính thay đổi đòi hỏi phải cải cách bộ máy hoạt động của các cơ quan hành
20