khó khăn trong công tác thực hiện kế hoạch hóa gia đình - Pdf 36

“Tìm hiểu những khó khăn về việc thực hiện KHHGĐ tại xã Đakkrong,
huyện Đakđoa, tỉnh Gia lai ”

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Dân số ổn định, xã hội phồn vinh, gia đình hạnh phúc”
Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của
một đất nước, một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của quốc
gia. Ở những nơi tài nguyên và nguồn vốn sẵn có, dân số ít, việc tăng dân số có
vai trò thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế. Ngược lại, ở những nơi kém phát
triển, dân số đông, trong khi đất đai, tài nguyên và nguồn vốn hạn hẹp thì việc
gia tăng dân số chỉ làm tăng thêm số người tiêu thụ, hạn chế tích luỹ và do đó
tất yếu sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội. Tiến sĩ Nafis Sadik Đặc phái
viên của Liên Hợp quốc về phòng chống HIV/AIDS đã từng nói:
"Cố gắng cung cấp đầy đủ các nhu cầu cần thiết cho số dân tăng thêm quá
nhanh cũng giống như cố gắng chạy trên một chiếc băng truyền ngược
chiều: người chạy cố gắng thật nhanh để duy trì cảm giác đi lên, từ đó có thể
thấy rằng mọi cố gắng trong các chương trình xã hội đều chưa thật đầy đủ để
phát triển về mặt số lượng. Quyền lợi của con người thực sự sẽ bị tước đoạt
ngày càng nhiều và tương lai sẽ chẳng hứa hẹn được điều gì tốt đẹp nếu như
chương trình kế hoạch hoá gia đình và các tổ chức xã hội khác không có sự
bổ sung một cách đáng kể về chất lượng".
Đảng và Nhà nước ta xác định, thực hiện tốt công tác DS – KHHGĐ là
giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia
đình và của toàn xã hội. Do đó, vào ngày 14/01/1993 tại Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá VII Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 04 về
chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình (gọi tắt là Nghị quyết TW 4 khoá
VII), đây là văn bản có tính chất quan trọng, làm tiền đề cho những quyết

Nguyễn Thị Lụa



Nguyễn Thị Lụa

-2-


“Tìm hiểu những khó khăn về việc thực hiện KHHGĐ tại xã Đakkrong,
huyện Đakđoa, tỉnh Gia lai ”
ĐÌNH Ở XÃ ĐAKKRONG HUYỆN ĐAKĐOA TỈNH GIA LAI” để làm đề tài

nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu những khó khăn trong công tác thực hiện
KHHGĐ ở xã Đakkrong huyện ĐakĐoa tỉnh Gia Lai, để từ đó đưa ra được
những biện pháp khắc phục những khó khăn, giúp cho công tác thực hiện kế
hoạch hóa gia đình tại xã có hiệu quả hơn.
3. Đối tượng, Khách thể nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những khó khăn trong công tác thực
hiên kế hoạch hóa gia đình.
– Khách thể nghiên cứu là số dân trong độ tuổi sinh đẻ trên địa bàn xã
Đakkrong huyện ĐakĐoa tỉnh Gia Lai.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
– Tìm hiểu thực trạng công tác tuyên truyền KHHGĐ ở xã.
– Tìm hiểu những khó khăn trong công tác tuyên truyền thực hiện KHHGĐ
ở xã hiện nay.
– Đưa ra một số biện pháp, kiến nghị để khắc phục những khó khăn trong
công tác thực hiện KHHGĐ, giúp cho công tác thực hiện KHHGĐ tại xã có
hiệu quả.
5. Phương pháp nghiên cứu

yếu xử lý theo tỷ lệ %, đồng thời cũng lập bảng so sánh tương quan giữa các
biến quan trọng để thấy được mối liên hệ trong các vấn đề.
+ Còn đối với những thông tin thu được từ các cuộc phỏng vấn tôi phân
loại và chọn lọc dưới dạng trích dẫn.
6. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu giới hạn tại xã Đakkrong huyện ĐakĐoa tỉnh Gia Lai.
7. Giả thuyết nghiên cứu

Nguyễn Thị Lụa

-4-


“Tìm hiểu những khó khăn về việc thực hiện KHHGĐ tại xã Đakkrong,
huyện Đakđoa, tỉnh Gia lai ”
– Từ khi thành lập công tác thực hiện kế hoạch hóa gia đình tại xã đạt được
khá nhiều thành tích. Tuy nhiên, hiện nay công tác này vẫn chưa được quan
tâm đúng mức.
– Đội ngũ làm công tác KHHGĐ thiếu cả về số lượng và chất lượng.
– Nhận thức của người dân về việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình chưa
cao.
8. Cấu trúc đề tài
Cấu trúc đề tài gồm có ba phần :
- Phần I : Mở đầu
- Phần II : Nội dung và kết quả nghiên cứu
- Phần III: Kết luận và kiến nghị.

Nguyễn Thị Lụa

-5-



“Tìm hiểu những khó khăn về việc thực hiện KHHGĐ tại xã Đakkrong,
huyện Đakđoa, tỉnh Gia lai ”
Theo Điều 9 Pháp lệnh Dân số năm 2003, Biện pháp thực hiện kế hoạch
hoá gia đình bao gồm:
– Tuyên truyền, tư vấn, giúp đỡ, bảo đảm để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng
chủ động, tự nguyện thực hiện KHHGĐ.
– Cung cấp các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình bảo đảm chất lượng, thuận
tiện, an toàn và đến tận người dân.
– Khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần, thực hiện các chính sách bảo
hiểm để tạo động lực thúc đẩy việc thực hiện KHHGĐ sâu rộng trong nhân
dân.
1.4. Lợi ích của việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
– Đối với sức khỏe bà mẹ và trẻ em:
+ Việc thực hiện KHHGĐ sẽ Tránh được những hao tổn về sức khỏe cho
người mẹ do phải thường xuyên mang thai, đẻ nhiều, đẻ dày, tránh tình trạng
bị băng huyết sau sinh, nhiễm trùng sau sinh. Giúp cho người mẹ có điều
kiện chăm sóc bản thân, phục hồi lại sức khoẻ. Nói chung, việc thực hiện
KHHGĐ làm cho thể chất và tinh thần của người mẹ được cải thiện, cả mẹ
và con đều có cơ hội sống tốt hơn.
+ Đối với trẻ em nếu cha mẹ thực hiện KHHGĐ thì trẻ sẽ được quan tâm
nhiều hơn, được chăm sóc tốt hơn, trẻ có điều kiện để phát triển cả về thể
lực và trí lực. Thực hiện KHHGĐ sẽ giảm hoặc tránh được tình trạng đau
ốm, bệnh tật, suy dinh dưỡng hay tử vong ở trẻ sơ sinh.
– Đối với gia đình:
+ KHHGĐ giúp các cặp vợ chồng tránh được những trường hợp sinh không
mong muốn, điều hòa được khoảng cách giữa các lần sinh, chủ động thời
điểm sinh con cho phù hợp với tuổi của bố mẹ


+ Công tác DS – KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát
triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước

Nguyễn Thị Lụa

-8-


“Tìm hiểu những khó khăn về việc thực hiện KHHGĐ tại xã Đakkrong,
huyện Đakđoa, tỉnh Gia lai ”
ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người,
từng gia đình và của toàn xã hội.
+ Giải pháp cơ bản để thực hiện công tác DS – KHHGĐ là vận động,
tuyên truyền và giáo dục gắn liền với đưa dịch vụ kế hoạch hoá gia đình đến
tận người dân. Có chính sách mang lại lợi ích trực tiếp cho người chấp nhận
gia đình ít con, tạo động lực thúc đẩy phong trào quần chúng thực hiện
KHHGĐ.
+ Đầu tư cho công tác DS – KHHGĐ là đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế
trực tiếp rất cao. Nhà nước cần tăng mức chi ngân sách cho công tác dân số
và kế hoạch hoá gia đình, đồng thời động viên sự đóng góp của cộng đồng
và tranh thủ sự viện trợ của quốc tế.
+ Huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia công tác DS – KHHGĐ,
đồng thời phải có bộ máy chuyên trách đủ mạnh để quản lý theo chương
trình mục tiêu, bảo đảm cho các nguồn lực nói trên được sử dụng có hiệu
quả và đến tận người dân.
+ Để đạt được mục tiêu trong thời gian tương đối ngắn, điều có ý nghĩa
quyết định là Đảng và chính quyền các cấp phải lãnh đạo và chỉ đạo tổ chức
thực hiện công tác DS – KHHGĐ theo chương trình.
– Tại Quyết định số 147/2000/QĐ-TTg ngày 22/12/2000 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 2010 nêu rõ:

của chương trình dân số và phát triển.
2.2 Các chính sách của Đảng và Nhà nước về KHHGĐ
 Các văn bản thể hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về KHHGĐ
– Nghị quyết hội nghị lần thứ tư số 04 – NQ/HNTW ngày 14/1/1993 của
ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII về chính sách DS – KHHGĐ.
– Chỉ thị số 50/CT – TW ngày 6/3/1995 của ban bí thư trung ương Đảng
cộng sản Việt Nam về việc đẩy mạnh thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ
tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về chính sách dân sốKHHGĐ.
Nguyễn Thị Lụa

- 10 -


“Tìm hiểu những khó khăn về việc thực hiện KHHGĐ tại xã Đakkrong,
huyện Đakđoa, tỉnh Gia lai ”
– Chỉ thị số 37-CT/TTg ngày 17/01/1997 của Thủ tướng Chính phủ về
việc đẩy nhanh thực hiện chiến lược dân số - kế hoạch hoá gia đình.
– Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt
nam với những định hướng cơ bản về chính sách dân số.
– Chiến lược dân số Việt Nam 2001- 2010.
– Pháp lệnh dân số và nghị quyết số 104/2003/NĐ – CP ngày 16/9/2003
của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của pháp
lệnh dân số.
– Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của bộ chính trị ( khóa IX)
về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS – KHHGĐ.
– Quyết định số 09/2006/QĐ-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện
Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy
mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình.
– Nghị định số 114/NĐ-CP ngày 03/10/2006 của Chính phủ quy định xử

– Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền: Quyết định về thời gian sinh
con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng
sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con
của cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng; Lựa chọn, sử dụng các biện
pháp kế hoạch hoá gia đình.
– Bảo đảm quyền cơ bản của con người; quyền phát triển đầy đủ, bình
đẳng về thể chất, trí tuệ, tinh thần; hỗ trợ nâng cao những chỉ số cơ bản về
chiều cao, cân nặng, sức bền; tăng tuổi thọ bình quân; nâng cao trình độ học
vấn và tăng thu nhập bình quân đầu người; Tuyên truyền, tư vấn và giúp đỡ
nhân dân hiểu và chủ động, tự nguyện thực hiện các biện pháp nâng cao chất
lượng dân số.
– Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền được tiếp nhận thông tin, tham gia
tuyên truyền, tư vấn việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình.
– Đa dạng hoá các loại hình cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng, đặc
biệt về giáo dục, y tế để cải thiện chất lượng sống và nâng cao chất lượng
dân số.
– Thực hiện chính sách và biện pháp hỗ trợ đối với vùng có điều kiện
kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó
khăn, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn để nâng cao chất lượng
dân số.

Nguyễn Thị Lụa

- 12 -


“Tìm hiểu những khó khăn về việc thực hiện KHHGĐ tại xã Đakkrong,
huyện Đakđoa, tỉnh Gia lai ”

Chương II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Hội đồng nhân dân xã Đakkrong được tách từ hội đồng nhân dân xã
Đaksơmei, ban đầu hội đồng có 11 đại biểu sau được sự chỉ đạo của hội
đồng nhân dân Huyện xã đã bổ sung thêm 15 Đại biểu, hiện nay hội đồng
nhân dân xã có tất cả là 26 đại biểu. Trong đó: có 20 đại biểu nam chiếm
77%, có 6 Nữ đại biểu chiếm 23%; có 16 đại biểu là người trong Đảng
chiếm 61,5%, 10 đại biểu ngoài Đảng chiếm 38,5%; có 11 đại biểu là người
dân tộc chiếm 42%; có 5 đại biểu theo tôn giáo chiếm 19,2%; về trình độ
học vấn có 2 đại biểu cấp I, 18 đại biểu cấp II và 6 đại biểu cấp III.
 Về Kinh tế
Tính đến năm 2010 tại địa phương, thu nhập bình quân đầu người lên tới
12.000 000đ/người/năm. Đa số người dân làm nghề nông nghiệp, cây trồng
chính ở xã là cà phê, hồ tiêu, cao su. Tổng diện tích gieo trồng toàn xã tính
đến cuối năm 2010 đạt 1.754 ha, trong đó cây công nghiệp ( cà phê, cao su,
hồ tiêu) là 1.216 ha, cây lương thực, thực phẩm và cây tinh bột có củ 537.5
ha. Tổng sản lượng lương thực quy ước ra thóc đạt 1.250 tấn, lương thực
bình quân đầu người đạt 350kg/người/năm. Đàn gia súc, gia cầm thì tăng
nhanh cả về số lượng và chất lượng, các chương trình lai hóa đàn bò, nạc
hóa đàn heo đã góp phần cải tạo đàn gia súc, gia cầm và từng bước đưa chăn
nuôi trở thành sản xuất hàng hóa. Năm 2010 tổng đàn gia súc tại xã đã lên
tới 1.605 con, gia cầm là 3.215 con. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công

Nguyễn Thị Lụa

- 14 -


“Tìm hiểu những khó khăn về việc thực hiện KHHGĐ tại xã Đakkrong,
huyện Đakđoa, tỉnh Gia lai ”
nghiệp và dịch vụ cũng từng bước phát triển đóng góp không nhỏ vào tổng
GDP của xã.

“Tìm hiểu những khó khăn về việc thực hiện KHHGĐ tại xã Đakkrong,
huyện Đakđoa, tỉnh Gia lai ”
Từ ngày có trạm y tế sức khỏe của người dân trên địa bàn xã cũng được
cải thiện và nâng lên rất nhiều. Đến nay xã đã được công nhận là xã đạt
chuẩn y tế quốc gia, các loại bệnh truyền nhiễm như: sốt rét, bệnh phong,
lao,… hầu như không còn xảy ra. Đội ngũ y bác sĩ cũng đã và đang được
chuẩn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Nhưng
thực tế, do sự thiếu thốn về cơ sở vật chất cũng như sự hạn chế về mặt
chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ nên quá trình khám, chữa bệnh của người
dân cũng gặp nhiều khó khăn.
 Về cơ sở vật chất:
Các công trình như điện, đường, trường trạm đã được đầu tư xây dựng cơ
bản và ngày càng hoàn chỉnh. Hiện nay xã đã có 1 trạm Y tế để phục vụ cho
nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong xã. Một trường mẫu giáo, một
trường tiểu học, một trường trung học cơ sở đáp ứng nhu cầu giáo dục. ba
công trình thủy lợi đã và đang được xây dựng, trong đó có 1 công trình kiên
cố hóa tại làng Đê Klanh với tổng số vốn đầu tư là 1 tỷ đồng, hàng năm công
trình này cung cấp nước tưới cho 10 ha lúa đông xuân, 60 ha cà phê và nhiều
loại cây trồng khác. Ngoài ra, xã đã xây dựng được 13km đường nhựa hóa
và còn có đường tỉnh lộ 670B chạy qua, tạo tiền đề cho sự lưu thông hàng
hóa, phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn xã.
Về trật tự - an toàn xã hội
Do xã nằm ở vị thế địa lý không thuận lợi, lại là xã có nhiều người dân
tộc sinh sống nên công tác an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội luôn
được coi trọng. Lực lượng công an viên, dân quân luôn được củng cố và sẵn
sàng trong các trường hợp có bạo động xảy ra.
Tuy nhiên vì đa số người dân tộc cư trú ở những nơi hẻo lánh, cách xa
trung tâm xã, trình độ dân trí lại thấp trong khi đó năng lực cán bộ từ thôn,

Nguyễn Thị Lụa

Số, UBND xã đã ra quyết định thành lập ban chỉ đạo công tác Dân số, ban
chỉ đạo chiến dịch, xây dựng chương trình phối hợp giữa các ban ngành và

Nguyễn Thị Lụa

- 17 -


“Tìm hiểu những khó khăn về việc thực hiện KHHGĐ tại xã Đakkrong,
huyện Đakđoa, tỉnh Gia lai ”
phân công cụ thể cho từng ngành, tổ chức tuyên truyền cho người dân về
thực hiện KHHGĐ vào các buổi sinh hoạt hội, họp thôn, tọa đàm vào các
ngày lễ lớn của đất nước, nhất là trước, trong và sau chiến dịch. Kết quả đạt
được là tổ chức được 33 buổi nói chuyện chuyên đề, 26 buổi tuyên truyền
nhóm nhỏ và tư vấn tại hộ gia đình được 2.610 lượt.
– Để thấy rõ hơn được thực trạng của việc thực hiện KHHGĐ tại xã
Đakkrong, chúng ta có thể đi sâu vào phân tích một số số liệu thu được từ
kết quả nghiên cứu thực tế tại xã:

Bảng 8: Biện pháp tránh thai đang sử dụng
Biện pháp
Ý kiến (người)
Bao cao su
15
Tiêm,uống thuốc tránh thai
19
Đặt vòng
42
Triệt sản
7

ở dưới ta thấy những người có độ tuổi khác nhau thì biện pháp họ sử dụng
để tránh thai cũng khác nhau. Những người có độ tuổi dưới 18 tuổi, biện
pháp tránh thai được sử dụng nhiều nhất là tiêm, uống thuốc tránh thai
36,4%; Còn ở độ tuổi từ 18 – dưới 35 và từ 35 – 50 biện pháp tránh thai
được sử dụng nhiều nhất lại là Đặt vòng. Ở bảng tương quan này có điều
đáng chú ý là những người có độ tuổi càng cao thì biện pháp tránh thai họ sử
dụng là tự nhiên càng cao, tỷ lệ này cao hơn rất nhiều so với các độ tuổi còn
lại. Những điều đó được thể hiện ở bảng số liệu sau:
Bảng 2: Độ tuổi và biện pháp tránh thai.
Tuổi

Dưới 18

18- dưới 35

35 – 50

Trên 50

BPTT
Số
Bao cao su
Tiêm,uống

Tỷ lệ Số

Tỷ lệ Số

lượng (%) lượng (%)
7

Tổng

4
0
3
22

Nguyễn Thị Lụa

18,2
0
13.6
100

20
4
3
41

48.8
9,8
7.3
100

18
3
10
34

52,9

DS – KHHGĐ của xã cũng được hình thành và bắt đầu hoạt động từ thời
gian này, đến nay đã được 5 năm. Bộ máy làm công tác DS – KHHGĐ ban
đầu có 1 cán bộ chuyên trách và 8 cộng tác viên, sau này đội ngũ cộng tác
viên được bổ sung thêm 3 người. Như vậy là mỗi thôn, làng trên địa bàn xã
đều có 1 cộng tác viên. Qua 5 năm hoạt động được sự quan tâm của Đảng,
Nhà nước và chính quyền địa phương, cộng với sự nhiệt tình của đội ngũ
cán bộ, cộng tác viên nên công tác thực hiện KHHGĐ tại xã đạt được khá
nhiều thành tích, góp phần đáng kể vào việc đạt được mục tiêu đề ra của
Huyện, Tỉnh.
Tuy nhiên, xã hội càng phát triển thì nhu cầu của người dân cũng ngày
càng cao, nhận thức của họ cũng thay đổi rất nhiều. Muốn vận động, tuyên
truyền cho người dân bất cứ vấn đề gì cũng cần phải có nội dung cụ thể,
khoa học, dễ hiểu, đồng thời cũng cần phải có những người có năng lực,
kiến thức chuyên môn, kinh nhiệm,… về vấn đề đó. Xuất phát từ thực tế đó
nên trong những năm gần đây, để công tác DS – KHHGĐ hoạt động đạt hiệu

Nguyễn Thị Lụa

- 20 -


“Tìm hiểu những khó khăn về việc thực hiện KHHGĐ tại xã Đakkrong,
huyện Đakđoa, tỉnh Gia lai ”
quả Đảng và Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều quyết định, hướng dẫn về tổ
chức bộ máy làm công tác DS – KHHGĐ. Chính vì vậy có thể nói năm 2009
là năm có nhiều biến động với công tác DS – KHHGĐ từ Trung ương đến
địa phương nhất. Việc thực hiện các mục tiêu về DS – KHHGĐ do vậy mà
cũng chỉ hoạt động cầm chừng, hình thức, hầu hết các xã, huyện đều không
đạt chỉ tiêu theo kế hoạch đề ra. Xã Đakkrong cũng không nằm ngoài những
biến động đó, cán bộ chuyên trách làm công tác KHHGĐ phải chuyển sang

KHHGĐ, bác Phan Thị Lành làm bên phụ nữ thôn I, đồng thời cũng là cộng
tác viên thôn nói: “ Làm gì có buổi tập huấn, bồi dưỡng gì đâu, mình tiện thì
làm thôi chứ cũng chẳng có gì khó cả”. Cô Vũ Thị Lan cán bộ làm bên chữ
thập đỏ xã và đã từng là cán bộ chuyên trách làm công tác KHHGĐ nhiều
năm cũng nói: “ thì khi thống kê số liệu, mình hướng dẫn họ ghi những
cái cần thiết, đầu tuần những cộng tác viên lên báo cáo, cô tập hợp lại
rồi báo lên huyện…”. “ uh. Tỉnh, Huyện cũng thường xuyên tổ chức các
buổi tập huấn, một năm cũng mấy lần vào các đợt có chiến dịch, chỉ có
mình cô đi thôi còn những người cộng tác viên thì không đi”. Số lượng,
tư tưởng cán bộ, cộng tác viên như vậy cộng với sự thiếu kiến thức chuyên
môn là một cản trở lớn cho công tác thực hiện KHHGĐ.
Bên cạnh đó, từ khi có quyết định sát nhập và hoàn thiện hệ thống bộ
máy DS – KHHGĐ, việc chỉ đạo thực hiện công tác KHHGĐ của địa
phương có phần lơi lỏng, thiếu sự kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả được
giao gây ra sự bất ổn về tâm lý, tư tưởng đối với cán bộ chuyên trách, cộng
tác viên, làm giảm bớt lòng nhiệt tình, hăng say trong việc thực hiện các
nhiệm vụ được giao. Công tác xây dựng kế hoạch, đề ra mục tiêu, giải pháp
cho công tác thực hiện KHHGĐ đều do một mình cán bộ chuyên trách làm
“việc đưa ra chỉ tiêu ở các năm tiếp theo là dựa vào chỉ tiêu huyện đưa
xuống ví dụ : huyện đề ra toàn huyện năm tới tỷ lệ gia tăng dân số là 1,4%,
thì xã mình khó khăn mình đề ra 1,6% thôi” đó là bộc bạch của cô Vũ Thị
Lan khi được hỏi về vấn đề này. Đồng thời phương tiện, trang thiết bị truyền
thông ở xã cũng không có hoặc lỗi thời không đáp ứng được yêu cầu.

Nguyễn Thị Lụa

- 22 -


“Tìm hiểu những khó khăn về việc thực hiện KHHGĐ tại xã Đakkrong,



“Tìm hiểu những khó khăn về việc thực hiện KHHGĐ tại xã Đakkrong,
huyện Đakđoa, tỉnh Gia lai ”
Thực tế thì xã Đakkrong là một xã nghèo lại thuộc xã vùng cao nên có
điều kiện kinh tế khó khăn, cơ sở vật chất thì lạc hậu và thiếu thốn, kinh phí
hỗ trợ của địa phương cho các khoản không tránh khỏi hạn chế chưa đáp
ứng được yêu cầu. Nhưng qua quá trình tìm hiểu có thể nói chính quyền địa
phương dường như viện vào lý do xã khó khăn mà coi nhẹ công tác
KHHGĐ, coi công tác này là trách nhiệm của tuyến huyện. Khi đối chiếu tất
cả các bảng báo cáo hàng năm về công tác thực hiện KHHGĐ thì báo cáo
nào trong mục đánh giá chung cũng có câu: “ Kinh phí hỗ trợ địa phương
chưa có. Kinh phí Cộng tác viên còn thấp không đáp ứng được so với khối
lượng công việc” đó là nguyên văn trong báo cáo hàng năm về công tác thực
hiện KHHGĐ tại xã.
Sự thiếu hụt kinh phí dành cho công tác thực hiện KHHGĐ đã làm cản trở
rất lớn đến hiệu quả của công tác tuyên truyền, vận động người dân. Điều
này không những làm cho lực lượng cán bộ, cộng tác viên làm công tác
KHHGĐ làm việc thiếu trách nhiệm, lơ là, mà còn làm triệt tiêu năng lực, sự
nhiệt tình của đội ngũ này. Hậu quả là dẫn tới sự chậm trễ trong cung ứng
các dịch vụ, phương tiện tránh thai cho người dân ở địa phương. Làm hạn
chế khả năng tiếp xúc, hiểu biết của người dân về các phương tiện tránh thai
hiện đại, hiệu quả. Làm giảm hiệu quả của công tác tuyên truyền, vận động
người dân thực hiện KHHGĐ.
3.1.3 Công tác truyền thông dân số và kế hoạch hóa gia đình
Ở xã Đakkrong ngoài người dân tộc bana là bản địa ra còn lại đa số là
những người di cư từ mọi miền đất nước vào. Với sự khác nhau về văn hóa,
cộng với tính đa dạng về phong tục tập quán, tiếng nói đã làm cản trở không
ít nỗ lực của đội ngũ làm công tác KHHGĐ trong việc đẩy mạnh và tăng
cường công tác thực hiện KHHGĐ tại xã trong giai đoạn vừa qua.


Tỷ lệ (%)
55
19
9
17
0
100

Kết quả bảng thống kê cho ta thấy, tại xã có tới 55% người dân làm nghề
nông nghiệp, 19% làm công nghiệp, chỉ có 17% làm nghề buôn bán và 9% là
công chức. Những người làm nghề công nghiệp ở xã không phải là làm công
nhân may, dệt cũng không phải công nhân làm việc với máy móc, công nhân
ở đây là công nhân của những công ty cà phê, chè họ cũng làm việc như
những người làm nghề nông khác. Như vậy là có tới 74% người dân làm
nông nghiệp. Do đặc thù của cây trồng nên họ phải làm việc quanh năm,
ngày ngày “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, tối về chỉ muốn nghỉ ngơi
để lấy sức bắt đầu cho ngày làm việc mới. Vậy còn thời gian đâu để họ nghe
tuyên truyền hay vận động. Bên cạnh đó, các buổi tuyên truyền thì chủ yếu
tổ chức trong các buổi sinh hoạt, họp thôn, họp chi hội nhưng đối tượng
tham gia các buổi họp này đa số lại là nam giới. Theo kết quả nghiên cứu
(bảng 9, phụ lục II) có 38% người dân cho ý kiến rằng việc thực hiện các
biện pháp tránh thai là trách nhiệm của người vợ, như vậy việc tuyên truyền
Nguyễn Thị Lụa

- 25 -



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status