THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY CỘNG, TRỪ TRONG PHẠM VI 10
CHO HỌC SINH LỚP 1
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Giảng dạy môn Toán lớp 1 trong trường Tiểu học.
3. Tác giả:
- Họ tên: Vũ Thị Phương Thanh – Nam( Nữ): Nữ.
- Ngày/ tháng/ năm/ sinh: 18- 09- 1975.
- Trình độ chuyên môn: Đại học tiểu học.
- Chức vụ, đơn vị công tác: Tổ trưởng tổ 1- Trường: Tiểu học Sao Đỏ 1.
- Điện thoại: 01682885093.
4. Đồng tác giả: Không.
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Sao Đỏ 1- Thị xã Chí LinhTỉnh Hải Dương- Điện thoại: 03203882668
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Sao Đỏ 1- Thị xã Chí
Linh- Tỉnh Hải Dương- Điện thoại: 03203885
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Sáng kiến được áp dụng ở tất cả các trường Tiểu học học dạy 2 buổi/ ngày.
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2013- 2014.
HỌ TÊN TÁC GIẢ
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Vũ Thị Phương Thanh
1
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
sinh nhưng cụ thể phát huy như thế nào ở phần dạy bảng cộng, bảng trừ cho học
sinh lớp 1 thì chưa thấy nói đến. Sáng kiến của tôi đã đưa ra cụ thể cách dạy
phát huy tính tích cực của học sinh trong việc hình thành bảng cộng, bảng trừ
trong phạm vi 10 qua 3 biện pháp: Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh;
Sử dụng hình thức tổ chức dạy học tích cực: thảo luận nhóm và trò chơi học tập
và dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng. Sáng kiến có thể áp dụng một cách
rộng rãi, đơn giản, giáo viên nào cũng có thể thực hiện. Đó là cố gắng phát huy
cái mà học sinh đang có, giáo viên cần giảm bớt nói hộ, làm thay học sinh. Hãy
để cho học sinh chủ động lĩnh hội tiếp thu kiến thức.Vì dạy học phát huy tính
tích cực của học sinh là phù hợp với bản chất của hoạt động nhận thức. Chỉ có
phát huy tính tích cực của học sinh mới có thể phát huy tính độc lập sáng tạo,
hình thành cho học sinh thói quen tự học, tự bổ sung kiến thức. Việc phát huy
tính tích cực của học sinh rất phù hợp với mục đích của Thông tư 30/ BGD- ĐT
– Đánh giá học sinh tiểu học của năm học này: “ Giúp học sinh có khả năng tự
đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác;
có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ”.
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến.
Sáng kiến đã tạo ra lớp học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức. Ngoài việc nắm
chắc, nhớ lâu kiến thức còn tạo cho các em tính chủ động, sáng tạo, tích cực, tự
giác phát huy được phẩm chất và năng lực của mỗi em. Đặc biệt các em rất thích
được học toán.
5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng sáng kiến
- Triển khai sáng kiến trong tổ chuyên môn.
- Giảng dạy 2 tiết thực hành ứng dụng các biện pháp đã nghiên cứu của sáng
kiến cho các thành viên trong tổ dự giờ, học tập, tham khảo, đóng góp ý kiến để
sáng kiến ngày càng hoàn thiện hơn có thể nhân rộng thực hiện áp dụng sáng
kiến.
3
4
không có những biện pháp tích cực thì học sinh lại chóng quên ngay. Bởi lẽ học
sinh lớp 1 mới đang học chữ, tư duy còn cụ thể, mang tính trực quan, chú ý chưa
bền, khả năng ghi nhớ chưa cao; so sánh, phân tích còn hạn chế. Vậy làm thế
nào để hình thành và ghi nhớ cho học sinh lớp 1 một cách dễ hiểu, dễ nhớ,
nhanh và chính xác khi học cộng, trừ trong trong phạm vi 10? Đặc biệt trong
năm học đầu tiên thực hiện việc đánh giá học sinh Tiểu học theo Thông tư 30/
BGD- ĐT. Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh. Giáo viên cần điều chỉnh, đổi mới
phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học như thế nào để không chấm
điểm, không xếp loại mà học sinh vẫn thích thú học tập, được phát triển một cách
toàn diện cả về phẩm chất, năng lực, kiến thức và kĩ năng?Từ kinh nghiệm thực
tế đúc rút trong nhiều năm dạy lớp 1, trong phạm vi sáng kiến này tôi mạnh dạn
trình bày quan điểm và một số biện pháp đã thực hiện nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học môn Toán 1 phần dạy: Cộng, trừ trong phạm vi 10 với sáng kiến:
Nâng cao hiệu quả dạy cộng, trừ trong phạm vi 10 cho học sinh lớp 1.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu nội dung chương trình sách giáo khoa Toán 1 và thực trạng dạy
học Toán 1, đặc biệt tìm hiểu sâu về thực trạng dạy cộng, trừ trong phạm vi 10.
Nghiên cứu và tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học
môn Toán 1 nói chung và phần dạy “Phép cộng và phép trừ trong phạm vi 10 ”
theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh.
1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu nắm chắc về cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của chương
trình toán một trong việc thể hiện nội dung và phương pháp.
Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu những vấn đề chung về phương pháp dạy học theo
hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh.
Nhiệm vụ 3: Điều tra thực trạng của giáo viên trong việc dạy phép cộng và
phép trừ trong phạm vi 10 ở lớp 1 hiện nay.
huy tính tích cực của học sinh là: “Phương pháp dạy học tích cực là đề cập đến
6
các phương pháp dạy học mà trong đó dưới vai trò tổ chức chỉ đạo định hướng
của giáo viên, học sinh tự giác tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức. Hay nói
cách khác phương pháp dạy học này nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức
của học sinh.
Những phương pháp dạy học tích cực: Dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm,
trò chơi học tập, động não.
2.2. Chuẩn kiến thức và kĩ năng cần đạt khi dạy bảng cộng và bảng trừ
trong phạm vi 10
2.2.1.Thời lượng dạy bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 10.
Trong chương trình môn toán lớp 1 có 140 tiết trên 35 tuần. Học sinh được
học về 4 mạch kiến thức đó là: số học, đại lượng và đo đại lượng, các yếu tố
hình học, giải toán. Trong đó mạch số học được học nhiều hơn cả chiếm 80%
chương trình. Trong mạch số học thì việc hình thành bảng cộng và bảng trừ
trong phạm vi 10 chiếm một thời lượng không nhỏ. Bắt đầu từ bài “Phép cộng
trong phạm vi 3 ” đến khi tổng hợp được “Bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi
10 ” là 41 tiết từ tiết 25 đến hết tiết 65. Như vậy việc hình thành bảng cộng và
bảng trừ trong phạm vi 10 là trọng tâm của chương trình bên cạnh việc hình
thành cho học sinh các số từ 0 đến 100.
2.2.2. Chuẩn kiến thức và kĩ năng cần đạt khi dạy bảng cộng và bảng trừ trong
phạm vi 10.
2.2.2.1. Kiến thức:
2.2.2.1.1. Bảng cộng trong phạm vi 10:
- Biết sử dụng các thao tác để minh hoạ, giải thích ý nghĩa của phép cộng
(thêm, gộp ứng với phép cộng).
- Biết viết phép cộng ứng với tình huống thực tế có vấn đề cần giải quyết
bằng phép cộng.
bị nghe nhìn và ứng dụng tốt công nghệ thông tin trong dạy học. Các hình thức
dạy học cả lớp, dạy học theo nhóm, dạy học cá nhân nhiều giáo viên vận dụng
8
tương đối tốt, phát huy được tính tích cực của học sinh trong học tập, đã có
nhiều tiết dạy đạt kết quả khá và tốt.
3.1.2. Tồn tại:
Bên cạnh những mặt tích cực thì hiện nay còn có nhiều lí do khác nhau mà ở
một số giáo viên đổi mới về phương pháp dạy học còn chậm.
Các tiết dạy đạt trung bình hầu hết còn hạn chế về phương pháp đó là:
- Giáo viên còn mắc “bệnh” nói nhiều, nói nhanh có lúc sợ học sinh chưa hiểu
cứ giảng giải nhiều lần, thậm chí học sinh đã trả lời đúng vẫn cứ nhắc lại. Có
trường hợp gần hết giờ mà nội dung còn dài nên giáo viên còn nói và làm hộ học
sinh.
Ví dụ: Khi dạy bài “Phép trừ trong phạm vi 4’’ ở hoạt động thành lập phép trừ
trong phạm vi 4, một số giáo viên chỉ dừng lại ở chỗ: hướng dẫn học sinh phát
hiện ra vấn đề: có 4 quả táo, hái đi 1 quả táo. Hỏi còn lại mấy quả táo? Lúc đó
sợ học sinh làm mất thời gian giáo viên làm thay hộ luôn học sinh (nghĩa là giáo
viên đưa luôn ra phép trừ : 4 – 1 = 3 )
- Sử dụng đồ dùng dạy học hiệu quả chưa cao, có lúc còn lạm dụng.
Ví dụ : Khi dạy bài :Phép cộng trong phạm vi 5.
Giáo viên cũng đã chú ý đến phát huy tính tích cực chủ động của học sinh
khi hình thành bảng cộng như: Yêu cầu học sinh lấy ra 1 hình tròn, rồi lấy thêm
4 hình tròn nữa. Hỏi có tất cả bao nhiêu hình tròn? Khi đến đây đáng lẽ giáo
viên nên để cho học sinh tự lập được phép tính cộng : 1 + 4 = 5 bằng các câu
hỏi gợi mở: Con lấy được tất cả bao nhiêu hình tròn ? (5 hình tròn).
+ Vậy muốn biết có bao nhiêu hình tròn con làm phép tính gì? (tính cộng)
+ Lấy mấy cộng với mấy ? (1 + 4 = 5)
Nhưng giáo viên lại chỉ làm đến câu hỏi thứ nhất rồi giới thiệu luôn phép
thì học sinh tính 4 + 5 = 8
10 – 7 = 3
thì học sinh tính 10 – 7 = 2 …
- Đặc biệt khi vận dụng mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ ; tính chất
giao hoán của phép cộng thì hầu như học sinh không không còn nhớ.
Ví dụ: Tính nhẩm
10
5 + 4 =9 thỡ hc sinh phi tớnh ngay c phộp cng 4 + 5 cng bng 9
hoc 9 4 = 5 v 9 - 5 = 4 nhng õy cỏc em li tớnh li 4 + 5 = 9.
- Vn dng tỡm mt thnh phn cha bit trong phộp cng hoc phộp tr
thỡ vi i tng t chun cỏc em tỡm cũn khú khn vỡ cỏc em cha thuc bng
mt cỏch chc chn.
3.3. Kt qu kho sỏt, iu tra.
Trong quỏ trỡnh iu tra nghiờn cu, tụi chn lp 1B l lp i chng( vỡ cht
lng 2 lp l tng ng nhau), lp 1A l lp thc nghim. Tụi ó tin hnh
kho sỏt cht lng mụn Toỏn ca hai lp khi cha ỏp dng cỏc bin phỏp nhm
nõng cao hiu qu dy cng, tr trong phm vi 10. Kt qu:
Số l-
Lp
Kết quả đánh giá xếp loại.
Giỏi
36,1
8
22.2
14
38.9
1
2,8
1B
36
10
33,3
8
22.2
14
38.9
với các cách vận dụng còn hạn chế.
KẾT LUẬN:
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, là một giáo viên dạy lớp 1
nhiều năm tôi suy nghĩ và thấy cần phải tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học.
Làm thế nào để học sinh học Toán nắm được nội dung kiến thức của bài học,
hiểu bài và vận dụng làm được các bài tập đạt kết quả tốt. Bước đầu bồi dưỡng
cho học sinh phương pháp tự học; rèn kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Qua quá trình tự bồi dưỡng nghiên cứu, trực tiếp giảng dạy, dự giờ, thảo luận
trao đổi bài dạy trong nhóm, tổ chuyên môn, đọc một số tài liệu, tôi thấy dạy
học phát huy tính tích cực của học sinh là phù hợp với bản chất của hoạt động
nhận thức. Chỉ có phát huy tính tích cực của học sinh mới có thể phát huy tính
độc lập sáng tạo, hình thành cho học sinh thói quen tự học, tự bổ sung kiến thức.
Việc phát huy tính tích cực của học sinh rất phù hợp với mục đích của Thông tư
30/ BGD- ĐT – Đánh giá học sinh tiểu học của năm học này: “ Giúp học sinh có
khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao
tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ”.
4. CÁC BIỆP PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN.
12
4.1. Biện pháp 1: Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh.
4.1.1. Giúp học sinh tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học:
- Với những bài hình thành kiến thức mới, hình thành các phép cộng, phép trừ
trong phạm vi 10: giáo viên hướng dẫn học sinh tự phát hiện vấn đề bằng cách:
Không vẽ sẵn mô hình tĩnh như sách giáo khoa mà giáo viên tự vẽ theo từng
bước để học sinh quan sát phát hiện vấn đề và tự giải quyết vấn đề. Bên cạnh đó
với những bài hình thành khái niệm mới giáo viên cần chỉ rõ bản chất của khái
niệm (chú ý: tên gọi - ký hiệu). Như bài hình thành các phép cộng, phép trừ phải
thông qua các từ: "thêm, bớt". Cộng là thêm, gộp vào( cho thêm, trồng thêm..).
thiệu, hình thành cho học sinh phép trừ, giáo viên tiến hành như sau:
* Giới thiệu phép trừ: 2 - 1 = 1
- Giáo viên vẽ hoặc sử dụng bộ toán + Học sinh quan sát và tự phát hiện:
thực hành của giáo viên, nói kết hợp 2 hình tròn bớt 1 hình tròn còn 1
thực hành: Có 2 hình tròn, bớt đi 1 hình hình tròn.
tròn vậy còn lại mấy hình tròn?Hỏi
xong, giáo viên nhấc 1 hình tròn ra ngoài
- Giáo viên giới thiệu hình vẽ.( con ong)
+Học sinh quan sát hình vẽ tự nêu
vấn đề: Có hai con ong đậu trên
cành hoa, một con ong bay đi. Hỏi
còn lại mấy con ong ?
+ Gọi nhiều học sinh trả lời câu hỏi của + 2 con ong bay đi 1 con ong còn
lại 1 con ong.
bài toán.
+ Giáo viên giới thiệu: Hai bớt 1 còn 1 . - HS nhắc lại. Học sinh phát hiện
bớt đi chính là trừ.
Ta viÕt nh sau: 2 - 1= 1
Giáo viên giới thiệu dấu trừ, phép trừ,
14
cách đọc, cách viết.
* Giới thiệu hai phép tính trừ: 3 - 1 = 2, - Học sinh sử dụng bộ đồ dùng học
3 - 2 = 1.( tương tự)
toán thực hành, chọn các số và dấu
sinh rút ra kết luận. Học sinh ghi nhớ phần bài học và áp dụng vào thực hành,
luyện tập.
- Sau khi học sinh đã nắm chắc được bản chất của phép cộng, phép trừ đối với
những bài tiếp theo giáo viên cần cho học sinh phát hiện kiến thức mới và chiếm
lĩnh kiến thức mới bằng phương pháp động não: HS tự hình thành kiến thức và
ghi nhớ kiến thức, mở rộng kiến thức của mình qua động não tìm các ví dụ khác
xung quanh mình.
VÍ DỤ 1: Dạy bài “Phép cộng trong phạm vi 5”
Giới thiệu phép cộng: 3 + 2 = 5, 2 + 3 = 5
- Giáo viên giới thiệu hình vẽ: Giáo viên đưa lần lượt từng mô hình.
MÔ HÌNH 1
MÔ HÌNH 1
MÔ HÌNH 3
* Mô hình 1:
+ Quan sát hình vẽ (mô hình) nêu đề - HS động não nêu:Có
toán?
ba con
ngan, thêm hai con ngan nữa là
+ Yêu cầu học sinh chọn các số và dấu mấy con ngan?
lập các phép cộng ứng với hình vẽ:
3+2=5
+ Yêu cầu học sinh quan sát nêu mô
hình.
+ Yêu cầu học sinh nêu phép cộng ứng
3 + 2 = 5 và 2 + 3 = 5
+ Học sinh động não trả lời.
với mô hình.
+ Em có nhận xét gì về hai phép tính
giống nhau ở điểm nào? Khác nhau ở
-> Khi đổi chỗ các số trong phép
điểm nào? Vậy khi đổi chỗ các số trong cộng thì kết quả không thay đổi.
phép cộng thì kết quả như thế nào?
VÍ DỤ 2: Dạy bài “Phép trừ trong phạm vi 5”
- Giáo viên hướng dẫn học sinh thành lập các phép tính trừ:
5-1=4
5- 3=2
5-2=3
5- 4=1
- Lập phép trừ 5 - 1 = 4; 5 - 2 = 3 giáo viên hướng dẫn theo 3 bước như dạy
phép trừ trong phạm vi 3.
- Lập phép trừ 5 - 2 = 3: Giáo viên thay đổi hình thức tổ chức dạy học bằng
cách: + Giới thiệu hình vẽ rồi yêu cầu học sinh nêu phép tính ứng với hình vẽ.
b) Hướng dẫn học sinh lập các phép tính: 4 + 2 = 6; 2 + 4 = 6
- Giáo viên giới thiệu hình vẽ (mô hình) gồm 6 hình tròn.
- Quan sát hình vẽ, lập các phép tính ứng với hình vẽ:
4+2=6
2+4=6
+ Vì sao em lập được phép tính đó ? ( HS động não giải thích)
c) Hướng dẫn học sinh lập các phép tính: 3 + 3 = 6
- Giáo viên giới thiệu hình vẽ (mô hình) gồm 6 quả dâu tây
19
- Giáo viên yêu cầu học sinh nêu các phép tính ứng với mỗi hình vẽ: 3 + 3 = 6.
+ Vì sao em nêu được các phép tính 3 + 3 =6.( Vì 3 quả thêm 3 quả là 6 quả)
*Dạy các phép trừ trong phạm vi 6, 7, 8, 9, 10:
- Phương pháp tổ chức học sinh lập các phép trừ trong phạm vi 6, 7, 8, 9, 10
tương tự như dạy các phép cộng trong phạm vi 6, 7, 8, 9, 10.
- Chỉ khác là: Phép trừ là phép tính ngược của phép cộng. Hình vẽ (mô hình) để
học sinh quan sát, nêu đề toán cần thể hiện các phần tử của một tập hợp: Vì bản
chất của phép trừ là đi tìm phần bù của một tập hợp.
-> Quá trình hình thành các phép tính cộng, trừ trong phạm vi 10 nếu giáo viên
biết cách tổ chức, thay đổi các hình thức tổ chức dạy học để học sinh tự tìm ra
kiến thức, các em sẽ thấy hứng thú học tập hơn, tiết học trở nên nhẹ nhàng và
học sinh nhanh chóng thuộc và nhớ lâu bảng cộng, bảng trừ.
4.2. Biện pháp 2: Tổ chức hình thức dạy học tích cực: Thảo luận nhóm và
trò chơi học tập.
Mục đích chính của dạy học theo nhóm và trò chơi học tập là thông qua cộng
lá thư cần gửi đến các ngôi nhà đó (Giáo viên vừa nói vừa gắn nhà và các phong
thư như hình vẽ)
4+6
10 - 3
7
5+5
10
10 - 1
21
6+3
9
4+3
Muốn gửi được thư đến đúng số nhà các bác đưa thư phải thực hiện các
phép tính trên đó và kết quả chính là số nhà mà các con sẽ nối. Để xem trong lớp
mình ai là người đưa thư giỏi nhất.
Trò chơi này giáo viên cử 2 em đại diện lên thi đua. Ai làm đúng, nối
nhanh thì được khen thưởng.
2. Trò chơi: Thi nối kết quả đúng.
- Áp dụng: Phần thực hành khi học xong kiến thức mới.
- Chuẩn bị: + Các phép tính để học sinh luyện tập.
+ Hình chữ nhật: 6cm x 3cm.
- Cách chơi:
+ Học sinh có thể ngồi tại chỗ hoặc xung quanh giáo viên. Giáo viên cầm
túi và nói:“ Cô có một cái túi rất đẹp nhưng không biết trong này có cái gì? Đố
ai không nhìn vào túi mà đoán được mới tài. Giáo viên gọi một học sinh lên sờ
hình trong túi và gọi tên hình trước khi giơ ra cho cả lớp cùng kiểm tra.
+ Giáo viên hỏi cả lớp: Đây là hình gì? Màu gì? Cô khen ngợi khi học
sinh nói đúng, nhận dạng hình đúng. Có thể cho 2 em lên thi đua xem ai nhanh
hơn.
VÍ DỤ ÁP DỤNG: Bài “ Bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 10”
* Các hoạt động dạy học.
1. Hoạt động 1 : Ôn tập các bảng cộng và bảng trừ đã học
- Giáo viên chia nhóm: Mỗi nhóm 4 em ( bàn trên quay mặt lại bàn dưới )
- Giáo viên nêu nhiệm vụ:
+ Nhóm tay phải viết bảng cộng trong phạm vi 10.
+ Nhóm tay trái viết bảng trừ trong phạm vi 10.
+ Thời gian là 3 phút.
- Các nhóm thảo luận.
- Đại diện các nhóm báo cáo kết quả.
- Giáo viên ghi bảng , hướng dẫn học sinh nhận biết quy luật sắp xếp các công
thức tính trên các bảng đã cho.
23
1 + 9 = ...
10 - 1 = ...
2 + 8 = ...
2. Hoạt động 2 : Thành lập và ghi nhớ bảng cộng, trừ trong phạm vi 10
- Học sinh làm việc cá nhân: Tự điền kết quả vào các phép tính trong bảng.
- Nhận biết mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ trong bảng.
3. Hoạt động 3: Thực hành
Bài 1: Học sinh nêu yêu cầu bài tập.
Cả lớp làm bảng con. Củng cố : Kĩ năng tính theo cột dọc
Bài 2: Học sinh nêu yêu cầu bài tập.
Giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm : Mỗi nhóm một bảng.
Đại diện các nhóm báo cáo kết quả.
Giáo viên củng cố cho học sinh về cấu tạo số.
Bài 3 : Học sinh xem tranh và nêu bài toán.
*Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: Đoán số mở hoa.
- Giáo viên phổ biến luật chơi:
Đây là các phép tính, phía sau mỗi bông hoa là kết quả đúng của phép
tính. Nhiệm vụ của các con là trong thời gian 2 phút đội nào đoán đúng, đoán
nhanh kết quả đội đó sẽ thắng.
2+8=
4+6 =
24
5+5=
9- 8=
8-5=
7+3=