MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Thị
Thế Bình - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ để em hoàn thành khóa
luận này.
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô trong bộ môn Lý luận và Phương pháp dạy
học Lịch sử đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu tại
Khoa và Trường.
Em xin chân thành cảm ơn!!!
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Ngô Ngọc Linh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Giải thích
DHLS
Dạy học lịch sử
GQVĐ
Giải quyết vấn đề
GV
SGK
Sách giáo khoa
SKLS
Sự kiện lịch sử
TB
Tranh biện
TDPB
Tư duy phản biện
THPT
Trung học phổ thông
TLG
Tư liệu gốc
TW
Trung ương
PHẦN MỞ ĐẦU
4
Do vậy đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của người
học là đòi hỏi cấp bách của môn Lịch Sử cũng như nền giáo dục nước ta hiện nay.
Trong đó, phương pháp tranh biện có vai trò lớn trong việc phát huy năng lực
nhận thức, tư duy độc lập của học sinh, nâng cao hiệu quả bài học lịch sử. Đồng
thời dạy học lịch sử mà sử dụng phương pháp tranh biện cũng phát huy được tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, rèn luyện cho các em nhìn nhận các nội
dung lịch sử dưới góc độ nhiều chiều, có tư duy phản biện và năng lực giải quyết
vấn đề. So với thế giới, đây không phải là một phương pháp dạy học mới. Nhưng ở
trường THPT của Việt Nam, phương pháp này còn tỏ ra lạ lẫm với cả GV và HS.
Đặc trưng của kiến thức lịch sử là mang tính quá khứ khiến chúng ta không
thể trực tiếp quan sát những sự kiện đã qua, hay trực tiếp tiếp xúc với những nhân
vật lịch sử, mà chỉ có thể dựa vào những nguồn sử liệu để khôi phục lại nó. Nên sẽ
xảy ra trường hợp có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về cùng một vấn đề lịch
sử. Theo đó, việc sử dụng phương pháp tranh biện trong dạy học lịch sử lại càng trở
nêncần thiết. Bởi lẽ một bài học lịch sử hiệu quả không được quyết định bởi lượng
kiến thức GV đưa ra nhiều hay ít mà phụ thuộc vào phương pháp GV sử dụng trong
hoạt động dạy – học như thế nào và mức độ HS nhận thức về kiến thức lịch sử đó ra
sao. Phương pháp tranh biện phù hợp với đặc trưng của bộ môn Lịch sử nên nếu
được áp dụng sẽ góp phần giúp HS hiểu rõ bản chất và nhìn nhận các sự kiện LS
một cách linh hoạt hơn.
Trong chương trình lịch sử lớp 11 THPT – Chương trình chuẩn, phần Lịch sử
Việt Nam có vị trí và vai trò rất quan trọng. Phần Lịch sử Việt Nam lớp 11 cung cấp hệ
thống kiến thức về tình hình đất nước ta từ giữa thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX. Là giai
đoạn biến động của lịch sử, đánh dấu mở đầu là sự kiện Pháp xâm lược Việt Nam (năm
1858). Để HS thấy được vai trò quan trọng, có cái nhìn khách quan nhất, biết đánh giá
chính xác đối với giai đoạn lịch sử này là hết sức cần thiết trong DHLS ở trường THPT,
tạo nền tảng bền vững để các em có thể học tốt chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 12.
MacGraw-Hill, phiên bản 5 vào tháng 5/2005. Đây là cuốn sách căn bản mà những
mới bắt đầu tranh biện cần đọc. Cuốn sách này dạy chúng ta những cách thức tranh
biện, từ kĩ năng phân tích và nghiên cứu cho đến những kĩ thuật làm bài và tìm lý lẽ
logic. Sách cũng đề cập rất rõ những vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng tranh biện
thường xuyên trong học tập và cuộc sống. Sinh viên sử dụng tranh biện một cách tự
nhiên phát triển sự tự tin, để cảm thấy thoải mái trong các lĩnh vực học thuật mình
theo đuổi. Tác giả tập trung chứng minh một số những ví dụ cụ thể và phân tích
những cuộc thi tranh biện sẽ thúc đẩy suy luận logic, tư duy phản biện cho HS như
thế nào.
6
“Cuốn hướng dẫn cần phải có trong cuốn sổ tranh biện thành công” (The
Debatabase
Book,
6th
edition:
A
Must
Have
Guide
for
sinh trong giờ văn học sử qua hình thức tranh luận”, Tạp chí Giáo dục số 102, năm
2004 đã phân tích rất cặn kẽ tác dụng của phương pháp tranh luận trong dạy học nói
7
chung và đưa ra biện pháp tối ưu nhất để tổ chức tranh luận cho học sinh trong giờ
văn học sử là tạo tình huống học tập. Tác giả cho rằng: “Tổ chức cho học sinh tranh
luận và đề xuất thắc mắc là một cách học mang tính tư duy, vừa có tác dụng hoàn
thiện tri thức, vừa rèn luyện khả năng tư duy độc lập và khả năng tự học cho học
sinh. Đây chính là phép biện chứng của học – hỏi – hiểu” [34; 27]. Dù chỉ cung cấp
những khái niệm liên quan đến tranh luận và cách vận dụng phương pháp tranh luận
trong DHLS của tác giả nhưng đây cũng là một nguồn tham khảo của chúng tôi.
Bài phỏng vấn tác giả Vũ Đức Vượng, Giám đốc chương trình Giáo dục tổng
quát của
Đại học Hoa Sen, TP. Hồ Chí Minh được đăng tải trên báo điện tử
vietnamnet.vn, ngày 2/10/2013 với tiêu đề “Đi tìm sự thật ở nhà trường Việt Nam” đã
đề cập sâu sắc về thực trạng sử dụng phương pháp tranh luận và dạy TDPB ở các nhà
trường Việt Nam. Tác giả Vũ Đức Vượng cho rằng tranh luận là cốt lõi của các ngành
Xã hội và nhân văn để đi đến sự thật, là một kĩ năng cần đưa vào dạy ở trường lớ p:
trường học các cấp phải dạy và khuyến khích khả năng tranh biện. Ngay ở những lớp
thấp nhất, như mẫu giáo, giảng viên khéo léo có thể lái những cuộc cãi vã giữa các em
thành một cuộc tranh biện có lý lẽ, dựa trên logic và quyền lợi chung… Từ đó, ông đã
đưa ra những biện pháp và những lưu ý khi tổ chức tranh luận trong nhà trường
Trong khóa luận tốt nghiệp khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội
của tác giả Nguyễn Thị Thương với đề tài: “Sử dụng phương pháp tranh luận
nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam
(thế kỉ X – giữa thế kỉ XIX) lớp 10 THPT (chương trình chuẩn) đã làm rõ khái
niệm và các hình thức tổ chức tranh luận. Đặc biệt là vai trò to lớn của
biện trong DHLS cho HS ở trường THPT
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Căn cứ vào tình hình thực tiễn, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu việc sử
dụng phương pháp tranh biện trong dạy học Lịch sử lớp 11 THPT (chương trình
chuẩn)
- Các phân tích đánh giá chủ yếu dựa trên SGK Lịch sử 11, chương trình
chuẩn và các đối tượng HS đang theo học bộ sách này.
- Do khả năng và thời gian thực hiện đề tài không cho phép, việc thực
nghiệm sư phạm chỉ tiến hành trong hai lớp (11A1 và 11A5) tại trường THPT
Quang Trung – Hà Đông.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận dạy học nói chung và thực tiễn việc DHLS ở
trường THPT nói riêng, đề tài tập trung làm rõ phương pháp tranh biện một cách hệ
9
thống và chỉ ra khả năng sử dụng phương pháp này trong dạy học phần Lịch sử Việt
Nam lớp 11 THPT.
- Khẳng định vai trò, ý nghĩa của tranh biện, đề tài đi sâu đề xuất biện pháp
sử dụng phương pháp tranh biện trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 THPT.
Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài là:
- Nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận của phương pháp tranh
biện.
- Khảo sát thực tiễn việc sử dụng phương pháp tranh biện trong dạy học môn
Lịch sử ở trường phổ thông.
- Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa Lịch sử 11 và xác định những
nội dung kiến thức có thể sử dụng phương pháp tranh biện.
-
chuẩn.
Thực nghiệm sư phạm: Soạn bài và tiến hành thực nghiệm sư phạm những biện
pháp đề tài đề xuất và kiểm nghiệm hiệu quả những biện pháp đề tài đề xuất trong
thực tiễn.
10
6.
Giả thuyết nghiên cứu
Nếu phương pháp tranh biện được sử dụng một cách hợp lí, linh hoạt sẽ
góp phần tích cực trong việc tạo hứng thú học tập môn Lịch sử cho HS ở
trường phổ thong, góp phần đa dạng hóa phương pháp dạy học Lịch sử ở
trường phổ thông.
7.
-
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học:
Đề tài góp phần làm phong phú lý luận về bộ môn phương pháp DHLS nói
chung và PPTB nói riêng.
-
Ý nghĩa thực tiễn:
Hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này sẽ giúp chúng tôi có thể vận dụng kết
quả nghiên cứu vào thực tiễn dạy học lịch sử ở trường THPT sau này.
Sử dụng trong lĩnh vực giáo dục, Phương pháp dạy học (PPDH) là khái niệm
cơ bản của lý luận dạy học, nhưng đến nay vẫn còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục
nghiên cứu và thống nhất trong cách định nghĩa, phân loại cũng như xác định mô
hình cấu trúc của PPDH. Khái niệm PPDH có thể hiệu theo nghĩa rộng là những
hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện
dạy học xác định nhằm đạt được mục tiêu dạy học.
Còn hiểu theo nghĩa hẹp PPDH là các mô hình hành động cụ thể. PPDH cụ thể
là những cách thức hành động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện những mục
tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể. PPDH
cụ thể bao gồm những phương pháp chung cho nhiều môn và các phương pháp đặc thù
bộ môn. Bên cạnh các phương pháp truyền thống quen thuộc như thuyết trình, đàm
thoại, trực quan, làm mẫu, có thể kể một số phương pháp khác như: phương pháp giải
quyết vấn đề, phương pháp học tập theo tra cứu, phương pháp dạy học dự án, phương
pháp tranh biện …
Có rất nhiều cách để phân loại về PPDH nhưng 2 phương pháp thông dụng
nhất đó là:
- Phương pháp dạy học truyền thống: người dạy trực tiếp thiết kế tổ chức còn
người học thụ động tiếp thu. người dạy làm mẫu cho người học làm theo.
-
Phương pháp dạy học tích cực: Người học chủ động tìm ra kiến thức dưới sự hướng
dẫn, chỉ đạo, định hướng của người dạy. Thông qua quá trình học, người học rõ vấn
12
đề và cách giải quyết vấn đề, cách sống và trưởng thành, tự đánh giá và điều chỉnh
làm cơ sở cho giáo viên cho điểm cơ động.
Trong đó, nằm trong hệ thống các phương pháp giáo dục tích cực, “phương
pháp tranh biện” có một vai trò và ý nghĩa quan trọng góp phần thực hiện hiệu quả
một trong những loại hình giao tiếp bằng lời” [33,70]. Tuy nhiên, tranh biện cũng có
những đặc điểm khác với những loại hình giao tiếp bằng lời khác.
Những đặc điểm của tranh biện trong tương quan với các loại hình khác có thể
được thầy Nguyễn Thiên Minh - cán bộ trung tâm Ứng dụng Việt ngữ học, ĐH Khoa học
xã hội và Nhân văn thể hiện thông qua bảng sau:
Loại hình
giao tiếp
Ví dụ
Đối thoại Nói chuyện
Thảo luận Cuộc họp
Mục đích Phương tiện
chính
Trao đổi
thông tin
Ứng dụng Biến thể (nếu
Đặc điểm nổi bật
chủ yếu
chủ yếu trong
có)
Mọi hình thứcTự do, không hạn
Giao tiếp
của lời nói định
Phân biệt rạch ròi Luật pháp
đúng sai
Khoa học
Nghệ thuật
Phê phán
Có một giải pháp Tư tưởng
Lập luận
“tối ưu” hơn các Giáo dục
giải pháp khác
Các vấn đề xã
hội
Hiểu theo nghĩa rộng, “Tranh biện được hiểu là quá trình tư duy và biểu đạt tư
duy từ thu thập, phân tích xử lý thông tin đến xây dựng, hệ thống sắp xếp các lập luận
để ra quyết định. Tranh biện có thể sử dụng ngôn ngữ (thông qua nói, viết) hoặc không
sử dụng ngôn ngữ (tự tranh biện – self-debate trong bản thân từng cá nhân). Tranh
biện giúp giải quyết vấn đề, bằng cách chỉ ra những xung đột/ mâu thuẫn giữa các
luận điểm (crashes) do người học sử dụng tư duy phản biện để phản đối trực tiếp trên
luận điểm của đối phương” [33;73]
Tranh biện còn nhằm thuyết phục chính bản thân mình, hoặc người khác
rằng lựa chọn nào là tốt hơn, đặt trong những bối cảnh và điều kiện cụ thể. Kết luận
14
của tranh biện mang tính tương đối, không có đúng nhất mà mang tính tạm thời tại
15
Tranh biện là xương sống của giáo dục.Trong các môn khoa học tự nhiên, người
nghiên cứu có thể chứng minh được sự thật khi dùng những dữ kiện hay thử nghiệm
tự nhiên vào việc này. Tuy nhiên, đối với những môn xã hội môn Lịch sử chẳng hạn
thì cách tiếp cận vấn đề hoàn toàn khác.
Trong dạy học, tổ chức cho học sinh tranh biện vừa là một hình thức tổ chức
dạy học vừa là phương pháp dạy học cần áp dụng phổ biến hiện nay nhằm giúp các
em tự chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng…
Vậy “phương pháp tranh biện” trong dạy học được hiểu như thế nào?
Phương pháp tranh biện là cách giáo viên đưa ra, gợi mở cho học sinh suy nghĩ,
đánh giá về một vấn đề nhất định theo những hướng khác nhau, thậm chí trái ngược
nhau. Sau đó dựa trên những tìm hiểu của các em, giáo viên tổ chức cho các em trao
đổi, bàn bạc, phản biện về vấn đề đó. Học sinh sẽ đưa ra và bảo vệ quan điểm của
mình, đồng thời thuyết phục đối phương theo ý kiến đó bằng những lập luận, lí lẽ,
bằng chứng xác thực nhằm làm rõ những khía cạnh khác nhau của vấn đề và làm
giàu sự hiểu biết của cá nhân theo yêu cầu của mục tiêu và nhiệm vụ dạy học
[30;72]
Trong quá trình dạy học, GV có thể lựa chọn sử dụng tranh biện trong việc
kiểm tra bài cũ, tổ chức dạy học và nghiên cứu kiến thức mới; củng cố và kiểm tra,
đánh giá. Hiểu một cách đơn giản về phương pháp này là GV đề xướng, tổ chức còn
HS chủ động trao đổi, bàn luận, tranh biện, linh hoạt, sáng tạo tiếp thu tri thức một
cách vững chắc và hiệu quả.
Đối với mỗi một quốc gia, một dân tộc, lịch sử luôn đóng một vai trò quan
trọng đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc đó. Từ lịch sử, dân tộc đó có thể
hiểu được về quá khứ, hiểu về chính dân tộc mình và rút ra rất nhiều bài học từ kho
tàng lịch sử quý báu ấy. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam, tình hình giáo dục lịch sử
chưa được xem trọng đúng mức. Vì vậy, sử dụng phương pháp tranh biện trong lịch
sử là một hướng tiếp cận mới, mong muốn đưa học sinh tiếp cận những góc nhìn đa
viên sẽ khích lệ tư duy của học sinh bằng cách đưa ngay ra ý kiến của bản thân mình.
Từ đó, HS mới có thể mạnh dạn đưa ra ý kiến, nếu ý kiến đó khác với quan điểm của
giáo viên và tranh biện với giáo viên.
-
Hai là, dựa vào nội dung tranh biện
+ SKLS: SKLS bao gồm hiện tượng, biến cố xảy ra trong quá khứ được ghi lai
bằng tư liệu, do hoạt động nhận thức của con người, nhận thức này mang dấu vết của ý
thức xã hội. SKLS mang tính quá khứ, đã xảy ra và không còn nữa. SKLS không bao
giờ lặp lại, không thể trực tiếp quan sát, không thể tiến hành trong phòng thí nghiệm. Thế
nên việc tổ chức tranh biện liên quan đến nhiều SKSL có nhiều ý kiến trái chiều sẽ góp
phần giúp HS nhận thức sâu sắc hơn về các sự kiện gắn liền với bối cảnh lịch sử đó.
+ NVLS: Do nhiều lý do khác nhau như việc bổ sung thêm những nghiên cứu
mới, sự khác nhau trong lập trường nghiên cứu hay sự thay đổi về thời đại đã tạo
17
nên sự đa chiều trong việc đánh giá về một NVLS. Đặc biệt đối với những “nhân
vật lưỡng tuyến” GV có thể tận dụng PPTB để giúp cho HS có nhận thức khách
quan về NV đồng thời giáo dục cho các em tư tưởng, tình cảm, thái độ đúng đắn với
những người có công to lớn đối với lịch sử dân tộc và thái độ phê phán nghiêm khắc
với những việc làm đi ngược lại lợi ích của quần chúng, cản trở sự phát triển của
dân tộc.
Trên đây là hai cách phân loại phổ biến nhất về việc sử dụng PPTB trong
DHLS. Mỗi một cách phân loại đều có một ưu thế và kĩ thuật riêng mà GV nắm
vững mới có thể sử dụng linh hoạt được. Trong đề tài nghiên cứu khóa luận của
mình, do thời gian và không gian không cho phép nên chúng tôi sẽ đi sâu vào TB về
SKLS và NVLS. Bởi lẽ lịch sử là những sự việc đã diễn ra, có thật và tồn tại khách
quan trong quá khứ. Vì vậy không thể phán đoán, suy luận hay tưởng tượng để nhận
nội dung đó so với bài học là bao nhiêu để linh hoạt vấn đề tổ chức và sắp xếp thời
gian cho hoạt động tranh biện một cách hợp lí, không ảnh hưởng đến thời lượng của
cả tiết học.
*Bước 2: Lập kế hoạch tổ chức tranh biện
Đây là hoạt động không thể thiếu để tạo nên một hoạt động đạt hiệu quả như
mong muốn. Vì kế hoạch tổ chức sẽ giúp GV có thể chủ động trong tiến trình lên
lớp, không bị xáo trộn hay phụ thuộc vào những thay đổi của điểu kiện khách quan
và chủ quan, đảm bảo cho giờ học diễn ra đúng kế hoạch, đúng tiến độ thời gian
quy định. Việc lập kế hoạch còn giúp HS hoạt động có mục đích, có trọng tâm. Điều
đó đặc biệt có ý nghĩa khi tranh biện lại là hoạt động có thể phát sinh nhiều vấn đề
mà GV không thể ngờ tới, cần phải rất linh hoạt để điều khiển và dẫn dắt HS trong
quá trình tổ chức.
Kế hoạch tổ chức cho HS tranh biện cần được thể hiện một cách chi tiết
thông qua việc thiết kế giáo án. Trong giáo án, GV cần phân định rõ ràng tiến trình
của bài học bằng những hoạt động của GV và HS, dự kiến phân bố thời gian cho
từng hoạt động, tổ chức tranh luận sao cho HS lĩnh hội kiến thức một cách chủ động
và nghiêm túc. Thời gian tương ứng với tiến trình tranh biện là vô cùng quan trọng
mà người GV phải dự tính được một cách thực tế.
Bên cạnh việc thiết kế giáo án, GV cần xây dựng một hệ thống câu hỏi, sử
dụng trong 2 trường hợp.Trước hết là để hỗ trợ cho quá trình chuẩn bị nội dung
tranh luận cho HS. GV sẽ đưa ra một số câu hỏi mang tính chất định hướng khai
thác nội dung ngay sau khi cho HS biết vấn đề tranh biện để gợi ý hướng để HS biết
cách tìm tài liệu và xây dựng luận cứ, dẫn chứng. Câu hỏi phải rõ ràng, mạch lạc, dễ
hiểu, chính xác và ở nhiều mức độ khác nhau.
-
Giai đoạn 2: Tổ chức hoạt động tranh biện
Bước 1: Giáo viên giới thiệu vấn đề tranh biện, học sinh tiếp nhận nhiệm vụ.
Vấn đề tranh biện phải được giáo viên đưa ra phải cụ thể và sinh động, trong đó
chứa đựng các mâu thuẫn nhận thức. Ở giai đoạn này học sinh phải nhận thức được
dạy học lịch sử ở trường THPT, việc đánh giá được xác định trên các tiêu chí sau:
+ Kết quả nhận thức của học sinh.
+ Kĩ năng vận dụng kiến thức.
+ Mức độ chú ý của học sinh trong giờ học.
+ Mức độ hứng thú của học sinh đối với giờ học.
+ Hoạt động của học sinh trong giờ học.
20
Khi đánh giá kết quả học tập của học sinh sau mỗi tiết học cần phải tạo điều
kiện cho các em tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.
Trên đây là quy trình sử dụng PPTB trong DH nói chung và trong DHLS nói
riêng. Trong đó, GV sẽ đóng vai trò xây dựng, đề xuất các chủ đề tranh biện đồng thời
vừa là người điều phố hoạt động tranh biện diễn ra một cách thuận lợi và suôn sẻ, đảm
bảo với mục tiêu của bài học bằng việc tranh biện về một nhân vật LS hoặc một sự
kiện LS nhất định. Cùng với đó, GV có thể tổ chức PPTB để hướng dẫn HS tổ chức và
nghiên cứu kiến thức mới hay trong luyện tập củng cố kiến thức và kiểm tra, đánh giá.
Từ đó GV có thể có những đề xuất, biện pháp nhằm tăng chất lượng của các phiên
tranh biện tiếp theo nói riêng và chất lượng của hoạt động tranh biện trong dạy học nói
chung. HS tích cực, chủ động tiếp nhận vấn đề tranh biện và nỗ lực trong việc tìm ra
những lập điểm, dẫn chứng minh chứng cho quan điểm của mình một cách thuyết
phục. Sự kết hợp chặt chẽ giữa GV với HS là nhân tố quyết định tạo nên sự thành
công của PPTB.
1.1.4. Ưu, nhược điểm của PPTB
- Ưu điểm:
+ Quá trình tranh biện bao quát toàn bộ vấn đề, phát hiện và tìm mới những
luận điểm, tư duy mới về vấn đề đặt ra để tranh biện. Thông qua tranh biện, bài học
lịch sử được nhìn nhận đa chiều và sâu sắc hơn. Trong đó, GV là người dẫn dắt vấn
đề, tạo điều kiện để vấn đề được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau, phát huy
được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Cơ sở xuất phát của việc sử dụng phương pháp tranh biện trong dạy học lịch
sử ở trường THPT.
Thứ nhất, xuất phát từ mục tiêu giáo dục.Mục tiêu giáo dục là cái “đích”
phải nhằm tới để đạt những kết quả trong sự hình thành và phát triển nhân cách
HS.Nó phải được xây dựng trên cơ sở lí luận và thực tiễn, tuân thủ những
nguyên tắc: đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xuất phát từ vị trí,
chức năng, nhiệm vụ của các bậc, cấp giáo dục, kế thừa di sản giáo dục của dân
tộc và nhân loại, định hướng xây dựng kế hoạch dạy học, xây dựng chương
trình SGK… theo quy định về giáo dục.
Trên cơ sở đó, mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông là nhằm giúp
HS có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới;
góp phần hình thành cho HS thế giới quan khoa học, giáo dục cho HS lòng yêu quê
hương, đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng; bồi dưỡng năng lực tư duy hành
động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội. Một điều cần nhấn mạnh là
hiện nay, các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đều tập trung đến mục tiêu phát triển
năng năng lực tư duy độc lập, khả năng nhìn nhận vấn đề đa chiều dưới nhiều góc
cạnh khác nhau một cách sâu sắc.
22
Trong đó, phương pháp tranh biện có ưu thế rất lớn trong việc phát triển nhận
thức của học sinh đồng thời góp phần hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng giảng
dạy Lịch sử ở trường THPT.
Thứ hai, do đặc trưng của bộ môn Lịch sử. Lịch sử là những sự việc rất cụ thể
diễn ra trong quá khứ. Đó là kết quả hoạt động của con người trong không gian và thời
gian xác định, trong những điều kiện cụ thể. Do đó, khác với tri thức của nhiều bộ môn
khoa học khác, tri thức lịch sử có những đặc điểm sau: Lịch sử mang tính quá khứ;
tính không lặp lại; tính cụ thể; tính hệ thống (tính logic lịch sử); tính thống nhất giữa
“sử” và “luận”.Từ những đặc điểm cơ bản trên của tri thức lịch sử nó có ảnh hưởng và
Hoạt động của giáo viên và học sinh trong dạy học tích cực được thể hiện ở
sơ đồ sau: [2;91]
24
Trước yêu cầu đổi mới trên, bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông cũng như
các môn học khác cần có thay đổi các yếu tố để tạo nên sự đổi mới toàn diện.Trong
đó, phương pháp tranh biện có một ưu thế và vai trò quan trọng trong việc phát triển
năng lực giải quyết vấn đề và phát triển TDPB cho HS. Đồng thời, việc sử dụng
PPTB cũng tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học
sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội cho
HS.Vì vậy, việc sử dụng PPTB trong DHLS ở trường THPT là một trong những phương
pháp đáp ứng được yêu cầu đổi mới trên.
Thứ tư là về đặc điểm tâm lý của học sinh THPT. HS ngày nay đã khác trước rất
nhiều. Đó là hiện tượng có tính chất quy luật – hiện tượng gia tốc phát triển
(Acceleration). Hiện nay, trẻ em đến trường đã có một vốn tri thức, kinh nghiệm khá
phong phú, ở chúng đang có sự gia tốc phát triển cả về mặt sinh học, tâm lý và xã hội.
Tình hình đó đòi hỏi việc tổ chức quá trình dạy học, việc thiết kế nội dung và phương
pháp dạy học, việc trang bị các phương tiện dạy học, cơ sở vật chất trường lớp phải được
đổi mới.
25