MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN SỐ, TÀI NGUYÊN VÀ
MÔI TRƯỜNG TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN XÃ HỘI NGÀY NAY
Mục lục
NỘI DUNG:
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
B. MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN SỐ, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
1. Sự gia tăng dân số
2. Vấn đề cạn kiệt tài nguyên
3. Vấn đề ô nhiễm môi trường
C. MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN SỐ, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI NGÀY NAY
1. Sự gia tăng dân số tác động lên môi trường
2. Dân số gây sức ép lên tài nguyên
3. Mối tương quan giữa dân số, tài nguyên và môi trường trong quá trình
phát triển xã hội ngày nay
D. MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN SỐ, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
E. BIỆN PHÁP
F. KẾT LUẬN
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Con người tồn tại và phát triển trong điều kiện ngoại cảnh, bao trùm lên
nó chính là môi trường. Môi trường là nơi cung cấp cơ sở vật chất cho con
người và tác động lên mọi mặt của môi trường. Tài nguyên là một bộ phận quan
trọng của môi trường.
Dân số, tài nguyên và môi trường những năm trở lại đây trở thành mối
quan tâm của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế. Sự gia tăng dân số đem lại
nhiều mặt lợi đồng thời nó cũng đang gây sức ép nặng nề đến môi trường toàn
cầu. Quá trình hoạt động công nghiệp hóa cũng làm cho nguồn tài nguyên ngày
Theo dự báo của Cục Thống kê dân số Hoa Kỳ, dân số thế giới vào ngày
1/1/2016 sẽ là 7.295.889.256 người, tăng thêm 78 triệu người (1,08 %) so với
năm trước đó.
Hiện nay, Trung Quốc là nước có số dân nhiều nhất thế giới, với quy mô
dân số là 1,36 tỷ người. Ấn Độ xếp thứ 2, với số dân lên tới 1,25 tỷ người. Hoa
Kỳ đứng vị trí thứ 3, với quy mô dân số hơn 332 triệu người.
Các nước Indonesia, Brazil, Pakistan, Nigeria, Bangladesh, Nga và Nhật
Bản lần lượt đứng các vị trí tiếp theo trong danh sách 10 quốc gia có quy mô dân
số lớn nhất trên thế giới.
Khoảng 40 năm nữa dân số có thể tăng lên đến 9 tỷ người, nếu không có
biện pháp ngăn chặn đã gia tăng này. Sự bùng nổ dân số gây áp lực lên tài
nguyên môi trường.
b. Ở Việt Nam
Trong thời kỳ 1989 - 1999 dân số nước ta tăng khá nhanh. Theo số liệu
Tổng điều tra dân số năm 1989, nước ta có 64.375,762 người. Đến 1 tháng 4
năm 1999 số dân tăng lên 76.323.173 người. Như vậy, trong 10 năm dân số đã
tăng thêm 11.947.411 người, trung bình mỗi năm tăng 1.194.741 người. Số dân
tăng thêm hàng năm trong giai đoạn này tương đương với số dân của một tỉnh
vào loại trung bình ở nước ta lúc bấy giờ (Quảng Ngãi, Sóc Trăng, Phú Thọ, Hà
Tĩnh) và cao hơn nhiều tỉnh khác (Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Khánh Hòa, Vĩnh
Long).
Trong giai đoạn 1999 đến 2009 dân số nước ta tiếp tục tăng, nhưng với
tốc độ chậm hơn. Cụ thể đến ngày 1 tháng 4 năm 2009 dân số của nước ta
85.789.573 người. Nếu do với năm 1999, dân số nước ta tăng thêm 9.466.400
người, trung bình mỗi năm tăng 946.640 người. Như vậy số dân tăng thêm trung
bình hàng năm gần bằng dân số của tỉnh Vĩnh Phúc, Bà Rịa - Vũng Tàu; nhưng
còn lớn hơn dân số của nhiều tỉnh, thành phố khác: Hà Giang, Hà Nam, Quảng
Bình, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Phước, Hậu Giang, Bạc Liêu vào 1 - 4 - 1999
(chưa tính tới các tỉnh có số dân nhỏ khác).
Theo một thống kê mới nhất từ Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình
• Tại các vùng đô thị và các khu công nghiệp tập trung nhiều dân cư, môi
trường tự nhiên hầu như bị biến đổi hoàn toàn. Đây là nơi tập trung các chất
thải công nghiệp, sinh hoạt, tiếng ồn, nguồn gốc gây ô nhiễm mạnh cho môi
trường, đất, nước và không khí. Các tác động tiêu cực của tình trạng gia tăng
dân số hiện nay trên thế giới biểu hiện ở các khía cạnh sau:
+ Ô nhiễm môi trường đất
+ Ô nhiễm môi trường không khí
+ Ô nhiễm môi trường nước
2. Vấn đề cạn kiệt tài nguyên
Tài nguyên là những thứ mà chúng ta lấy từ môi trường để phục vụ nhu
cầu của con người. Vài loại tài nguyên được sử dụng trực tiếp như: không khí
sạch, nước sạch từ sông hồ, đất tốt và cây cỏ. Ða số khác như: dầu mỏ, sắt thép,
than đá , nước ngầm thì phải qua chế biến xử lý trước khi dùng.
Tài nguyên có thể được xếp thành các loại: tài nguyên vô tận, tài nguyên
tái tạo được và tái nguyên không thể tái tạo được. Tài nguyên vô tận (perpetual
resource), như năng lượng mặt trời được xem là không cạn kiệt ở mức độ thời
gian đời người. Tài nguyên có thể tái tạo được (renewable resource) như: gỗ, cá,
thú rừng... có thể phục hồi trở lại nếu được khai thác với qui mô hợp lý. Còn tài
nguyên không thể tái tạo (nonrenewable resource) như: than đá, dầu mỏ, kim
loại... với số lượng có hạn khi được sử dụng sẽ không phục hồi trở lại.
Vì dân số thế giới tiếp tục gia tăng, nhiều nguồn tài nguyên cần thiết cho
sự sống còn của con người và hàng triệu sinh vật khác sẽ ít đi. Các nước đang
phát triển thì sử dụng quá đáng các nguồn tài nguyên có thể tái tạo được, trong
khi các nước phát triển thì tiêu xài quá mức các nguồn tài nguyên không thể tái
tạo được.
Các tài nguyên tái tạo bị khai thác quá mức sẽ không thể phục hồi được,
còn các tài nguyên không thể tái tạo sẽ bị đe dọa cạn kiệt trong thời gian khác
nhau tùy theo trữ lượng cuả chúng và tốc độ khai thác của con người. Như dầu
TRƯỜN
GG
Dân số và môi trường là hai yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự phát
triển của yếu tố này có mối liên hệ đến sự phát triển của yếu tố kia: sự biến
động của dân số có tác động tích cực hay tiêu cực đến sự phát triển bền vững
hay không bền vững của môi trường, đồng thời môi trường cũng có tác động
ngược lại với loài người bởi cả hai mặt. Đặc biệt trong xu thế phát triển kinh
tế xã hội ngày nay thì mối quan hệ trên càng được thể hiện rõ nét hơn đặc
biệt là các tác động của sự gia tang dân số đến môi trường.
Dân số thế giới tăng nhanh, nhất là ở nửa sau thế kỷ XX. Càng những năm về
sau thời gian dân số tăng 1 tỷ người càng rút ngắn. Hiện nay, trung bình mỗi
năm dân số thế giới tăng gần 80 triệu người. Dự kiến dân số có thể ổn định
vào năm 2025 với số dân khoảng 8 tỷ người.
Sự bùng nổ dân số hiện nay trên thế giới diễn ra chủ yếu ở các nước đang
phát triển. Các nước này chiếm khoảng 80% dân số và 95% số dân gia tăng
của thế giới.
Sự gia tăng dân số nhanh trên thế giới thể hiện ở một số nguyên nhân chính
như: Dân số và tập quán sống di cư, du cư; đô thị hóa; các thành phố có số
dân trên 1 triệu người ngày càng nhiều.
- Các tác động tiêu cực của tình trạng gia tăng dân số hiện nay trên thế giới
biểu hiện ở các khía cạnh sau:
- Sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất do khai thác
quá mức các nguồn tài nguyên phục vụ cho các nhu cầu nhà ở, sản xuất
lương thực, thực phẩm, sản xuất công nghiệp, v.v...
- Tạo ra các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân huỷ của môi
trường tự nhiên trong các khu vực đô thị, khu sản xuất nông nghiệp, công
nghiệp.
- Sự chênh lệch về tốc độ phát triển dân số giữa các nước công nghiệp hoá
nhiễm môi trường đặc biệt tại các thành phố, thị xã. Lượng chất thải tăng
cùng với sự gia tăng dân số.
2. Sức ép dân số lên tài nguyên.
DÂN
SỐ
TÀI
NGUYÊN
Mối quan tâm đến những hậu quả về của qui mô dân số và sự gia tăng dân số
tác động đến tài nguyên không phải là điều mới mẻ. Ngay từ thế kỷ thứ 19,
nhà kinh tế học người Anh Thomas Malthus đã cảnh báo rằng sự gia tăng dân
số không kiểm soát sẽ làm mất khả năng cung cấp đủ lương thực của Trái đất
cho con người. Mặc dù luận thuyết của ông đã bị phê phán rằng quá đơn giản
và mới chỉ xem xét quan hệ dân số – biến động tài nguyên, song nó cũng đã
phần nào xác nhận thực tế về hậu quả cũng như hiểm họa tài nguyên của gia
tăng dân số.
Gia tăng dân số đang gây sức ép nặng nề lên toàn bộ các tài nguyên đất,
không khí và nước trên toàn cầu mỗi một cá thể, một con người khi sử dụng
tài nguyên lại góp phần vào sự ô nhiễm môi trường, mỗi một loại tài nguyên
này lại có liên quan chặt chẽ đến tài nguyên khác.
Đối với sự tiêu thụ tài nguyên, có hai tính chất chung cơ bản cần được nhấn
mạnh.
Thứ nhất là mọi người đều cần thức ăn, do đó cần phải có đất để canh tác
nông nghiệp, chăn nuôi cũng như để sản xuất ra lương thực thực phẩm. Hiện
nay, trên toàn cầu có khoảng 1,5 tỷ hecta đất đang được canh tác trên tổng số
khoảng từ 2 đến 4 tỷ hecta được cho là đất có thể canh tác. Mặc dù trải qua
lịch sử đã có sự tăng thêm của diện tích đất có tiềm năng canh tác, song sự
gia tăng quá nhanh của dân số toàn cầu đã không làm tình hình khả quan hơn.
một nơi tùy thuộc vào 3 yếu tố: (1) số người dân, (2) số đơn vị năng lượng mỗi
người sử dụng và (3) khối lượng của sự suy thoái và ô nhiễm môi trường do mỗi
đơn vị năng lượng gây ra (Miller, 1993).
Sự đông dân bao gồm sự quá nhiều người và sự quá nhiều tiêu thụ. Sự quá
nhiều người xảy ra ở những nơi mà số người nhiều hơn thức ăn, nước uống và
các tài nguyên khác. Việc này thường xảy ra ở các nước đang phát triển, làm suy
thoái các tài nguyên tái tạo và là nguyên nhân của sự nghèo đói. Sự quá nhiều
tiêu thụ xảy ra ở các nước công nghiệp, khi một số ít người sử dụng một lượng
lớn tài nguyên. Ðây là nguyên nhân chính làm cạn kiệt nguồn tài nguyên không
thể phục hồi và làm ô nhiễm môi trường.
D. MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN SỐ, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Vấn đề dân sô, môi trường trong chiến lược phát triển bền vững luôn
được Đảng và nhà nước ta quan tâm. Điều này đã được khẳng định tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX và trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 10
năm (2001-2010): “Phát triển nhanh, hiệu quả và bèn vững, tăng trưởng kinh tế
đi đôi với thực hiện tiến độ, công bằng xã hội và ảo vệ môi trường” và phát triển
kinh tế- xã hội gắn chặt bảo vệ, cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa
môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhien, giữ gìn đa dạng sinh học”
Trong Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam ( Chương
trình nghị sự 21) đã nêu lên những mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc cơ bản, mục
tiêu phát triển bền vững về kinh tế là “ đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ
cấu kinh tế hợp lí”. Về môi trường là “ khai thác hợp lí, sử dụng tiết kiệm và có
hiệu quả tài nguyên thiên nhiên: Phòng ngừa, ngăn chặn, xử lí và kiểm soát có
hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống, bảo vệ được các
vường quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và bảo tồn đa
dạng sinh học; khắc phục suy thoái và cải thiện môi trường”. Những văn bản
pháp lí này là cơ sở quan trọng cho quá trình phát triển bền vững ở nước ta.
áp dụng tổng hợp các giải pháp chính sau:
- Phải đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, giáo dục toàn dân thực hiện
KHHGĐ
- Phải tuyên truyền, hướng dẫn sử dụng rộng rãi các biện pháp y tế
- Bên cạnh tuyên truyền vận động giáo dục phải kết hợp với các biện pháp
xử phạt nghiêm túc đối với các đối tượng không thực hiện nghiêm chỉnh
chính sách dân số.
Biện pháp lâu dài đối với dân số nước ta là đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã
hội, nâng cao dần mức sống và trình độ văn hóa, KHKT, dân trí cho người lao
động để người lao động có thể tự điều chỉnh được vấn đề sinh đẻ có kế hoạch
trong mỗi cặp vợ chồng .
2. Huy động toàn dân tham gia bảo vệ tài nguyên môi trường là nhiệm vụ
hàng đầu để đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
3. Tăng cường sự phối hợp, thống nhất hành động giữa các tổ chức thành
viên, đặc biệt là các cơ quan thông tin tuyên truyền, đẩy mạnh công tác tuyên
truyền để tạo được sự đồng thuận mạnh mẽ của nhân dân đối với nhiệm vụ bảo
vệ tài nguyên môi trường .
4. Qua phương tiện thông tin đại chúng, hướng dẫn, tổ chức để nhân dân
nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi theo hướng tích cực bảo vệ tài nguyên
môi trường, phòng chống suy thoái, ô nhiễm và sự cố môi trường.
5. Lồng ghép nhiệm vụ bảo vệ môi trường với các phong trào, các cuộc
vận động như cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở
khu dân cư; tôn vinh, nhân rộng các mô hình, các gương điển hình bảo vệ tài
nguyên môi trường; đồng thời phê phán mạnh mẽ các hành vi, thói quen, tập
quán sinh hoạt lạc hậu gây hại đến tài nguyên môi trường.
6. Đẩy mạnh hơn nữa phong trào “ toàn dân tham gia bảo vệ tài nguyên
môi trường’’. Qua phong trào, nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ tài nguyên
môi trường ; tuyên truyền, vận động, thuyết phục mọi người xung quanh cùng
tham gia bảo vệ tài nguyên môi trường , giữ gìn, xây dựng môi trường xanh –
sạch – đẹp.