Header Page 1 of 133.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------
-----------
NGUYỄN VĂN HÙNG
“NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH LŨY CÁC BON CỦA RỪNG
TRỒNG MỠ (Manglietia conifera) TẠI XÃ CHU HƯƠNG,
HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Khoa
: Lâm nghiệp
Khóa học
: 2011 - 2015
Thái Nguyên - 2015
Khóa học
: 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn : 1. ThS. Nguyễn Tuấn Hùng
2. TS. Đỗ Hoàng Chung
Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên - 2015
Footer Page 2 of 133.
Header Page 3 of 133.
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu và kết
quả trong khóa luận tốt nghiệp này là hoàn toàn trung thực, chưa hề được sử dụng
để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông
tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái nguyên, ngày 20 tháng 5 năm 2015
Xác nhận của GVHD
Người viết cam đoan
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Văn Hùng
Footer Page 4 of 133.
Header Page 5 of 133.
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Các chỉ tiêu sinh trưởng của rừng trồng Mỡ ở các tuổi 3, 5, 7 và 9.......26
Bảng 4.2. Cấu trúc sinh khối tươi cây cá lẻ rừng trồng Mỡ ........................... 28
Bảng 4.3. Sinh khối tươi của tầng cây Mỡ...................................................... 29
Bảng 4.4. Cấu trúc sinh khối khô cây cá lẻ rừng trồng Mỡ ............................ 30
Bảng 4.5. Cấu trúc sinh khối khô của tầng cây Mỡ ........................................ 31
Bảng 4.6. Khả năng tích lũy các bon cây cá lẻ của cây Mỡ ........................... 36
Bảng 4.7. Khả năng tích lũy các bon của rừng trồng Mỡ ............................... 39
Bảng 4.8. Lượng Các bon tích lũy theo thời gian ........................................... 42
Bảng 4.10. Lượng CO2 tương đương .............................................................. 44
Bảng 4.11. Lượng các bon tích lũy và giá trị hấp thụ CO2 của rừng trồng Mỡ .....45
Bảng 4.12. Lượng các bon tích lũy và giá trị hấp thụ CO2 của rừng trồng Mỡ
trong một năm ................................................................................................. 45
Footer Page 5 of 133.
Header Page 7 of 133.
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Footer Page 7 of 133.
CDM
: Cơ chế phát triển sạch
D1.3
: Đường kính tại vị trí 1,3 m
DBH
: Đường kính bình quân
Hvn
:Chiều cao vút ngọn
IPCC
: Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu
OTC
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 15
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 15
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 15
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................ 15
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 15
Footer Page 8 of 133.
Header Page 9 of 133.
vii
3.2.2. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 15
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 15
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 15
3.4.1. Cơ sở phương pháp luận ....................................................................... 15
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu....................................................................... 16
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................... 26
4.1. Sinh trưởng và các chỉ tiêu trung bình của rừng trồng Mỡ...................... 26
4.2. Sinh khối tươi của rừng trồng Mỡ............................................................ 27
4.2.1. Cấu trúc sinh khối tươi cây cá lẻ của rừng trồng Mỡ ........................... 27
4.2.2.Cấu trúc sinh khối tươi của tầng cây Mỡ ............................................... 29
4.3. Xác định sinh khối khô của rừng trồng Mỡ ............................................. 29
4.3.1. Sinh khối khô cây cá lẻ rừng trồng Mỡ................................................. 29
4.3.2. Cấu trúc sinh khối khô của tầng cây Mỡ .............................................. 31
4.4. Xác định khả năng tích lũy các bon thông qua sinh khối khô ................. 34
4.4.1. Khả năng tích lũy Các bon của thảm mục ............................................ 34
4.4.2. Khả năng tích lũy các bon của thảm tươi, cây bụi ................................ 35
4.4.3. Khả năng tích lũy các bon của cây Mỡ ................................................. 35
Tình trạng phá rừng, đốt rẫy, khai thác gỗ vô tổ chức cũng là nguyên nhân tạo ra
hơn 20% phát thải khí nhà kính trên toàn cầu [17]. Theo IPCC, Việt Nam sẽ là nước
bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu. Nếu nhiệt độ tăng trên 2oC khoảng
22 triệu người Việt Nam sẽ mất chỗ ở và 45% đất nông nghiệp ở Đồng bằng sông
Mê Kông sẽ biến thành đất không thể canh tác do mực nước biển dâng cao [5].
Những nghiên cứu trong và ngoài nước đều khẳng định biến đổi khí hậu đã và đang
ảnh hưởng tới vùng biển nước ta. Mực nước biển dâng làm chế độ cân bằng sinh
thái bị tác động mạnh. Kết quả là các quần xã sinh vật hiện hữu thay đổi cấu trúc,
thành phần, trữ lượng bổ sung giảm sút. Cá ở các rạn san hô bị tiêu diệt rồi sẽ di cư
đến các vùng biển khác. Việt Nam là nước đứng thứ 4 trong 10 nước chịu ảnh
hưởng nhiều nhất do mực nước biển dâng lên [5]. Hiện nay, khoa học đã khẳng định
rằng hệ sinh thái trên cạn có vai trò to lớn trong chu trình các bon của sinh quyển,
lượng các bon trao đổi giữa các hệ sinh thái này với sinh quyển ước tính khoảng 60
tỷ tấn/năm. Rừng nhiệt đới trên toàn thế giới có diện tích khoảng 17,6 triệu km2
Footer Page 10 of 133.
Header Page 11 of 133.
2
chứa đựng 428 tỷ tấn các bon trong sinh khối và trong đất…[3]. Rừng trồng có thể
hấp thụ được 115 tấn các bon và sẽ bị giảm 20 - 30% nếu chuyển thành đất nông
nghiệp. Lượng các bon lưu giữ trong rừng trên toàn thế giới là khoảng 800 - 1.000
tỷ tấn, trong 1 năm rừng hấp thụ 100 tỷ tấn khí CO2 và thải ra khoảng 80 tỷ tấn O2
[3]. Ở Việt Nam, việc định giá rừng được đề cập đến trong Luật bảo vệ và phát triển
rừng sửa đổi năm 2004. Ở đây việc quy định giá trị của rừng không đơn thuần chỉ là
các giá trị sử dụng trực tiếp trong các hoạt động sản xuất, tiêu dùng, mua bán của
con người như thức ăn, cây thuốc, nguồn gen… mà giá trị về môi trường của rừng
chủ lực vùng miềm núi phía Bắc Việt Nam. Có nhiều nghiên cứu về cây Mỡ nhưng
chủ yếu tập trung vào kỹ thuật gây trồng, tăng trưởng, sinh trưởng, chọn tạo giống,
trồng rừng thâm canh, sản lượng gỗ, … Tuy nhiên, nghiên cứu về sinh khối và khả
năng hấp thu các bon của rừng trồng Mỡ thuần loài chỉ mới tiến hành ở 1 số địa
điểm của Phú Thọ và Tuyên Quang. Để có cơ ở cho việc tính toán giá trị thương
mại các bon mà rừng trồng Mỡ thuần loài có thể tạo ra ở từng địa phương, việc
nghiên cứu xác định sinh khối và lượng các bon được tích.
Chu Hương là xã nằm ở phía Nam huyện Ba Bể. Tài nguyên rừng của Chu
Hương đa dạng và phong phú, có nhiều chủng loại cây gỗ với tổng diện tích đất lâm
nghiệp có rừng là 2.657,06 ha chiếm 74,19% tổng diện tích đất tự nhiên. Phần lớn
diện tích rừng hiện nay chủ yếu đã giao cho các hộ gia đình, cá nhân quản lý. Diện
tích rừng sản xuất là 2.355,23 ha trong đó chủ yếu là rừng trồng Mỡ, diện tích rừng
trồng này đã đóng góp lớn trong tỷ lệ che phủ rừng của địa phương, đóng góp cho
nguồn sinh kế của người dân.
Nhằm đi sâu nghiên cứu, đánh giá giá trị môi trường và khả năng tích luỹ các
bon của rừng trồng Mỡ trên địa bàn xã Chu Hương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
hiện nay, dự báo khả năng hấp thụ CO2 của rừng Mỡ và các phương thức quản lý
rừng để làm cơ sở khuyến khích, xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường, đây
chính là những vấn đề còn thiếu nhiều nghiên cứu ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, có
những đề xuất, khuyến cáo người dân, cấp uỷ, chính quyền địa phương để có những
định hướng, lựa chọn loại cây để đưa vào trồng rừng ở địa phương nhằm đáp ứng
tốt nhất hiệu quả kinh tế và hiệu quả bảo vệ môi trường trong thời gian tới. Từ
những điều kiện thực tiễn và nhu cầu khoa học trên đây nên tôi chọn đề tài nghiên
cứu của mình là: “Nghiên cứu khả năng tích lũy các bon của rừng trồng Mỡ
(Manglietia conifera) tại xã Chu Hương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn ”.
Footer Page 12 of 133.
Header Page 13 of 133.
Footer Page 13 of 133.
Header Page 14 of 133.
5
PHẦN 2
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng
2.1.1. Trên thế giới
Sinh khối và năng suất rừng là những vấn đề đã được rất nhiều tác giả quan
tâm nghiên cứu. Từ những năm 1840 trở về trước, đã có những công trình nghiên
cứu về lĩnh vực sinh lý thực vật, đặc biệt là vai trò hoạt động của diệp lục trong quá
trình quang hợp để tạo nên các sản phẩm hữu cơ dưới tác động của các nhân tố tự
nhiên như: Đất, nước, không khí, và năng lượng ánh sáng mặt trời. Sang thế kỷ XIX
nhờ áp dụng các thành tựu khoa học như hóa phân tích, hóa thực vật và đặc biệt là
vận dụng nguyên lý tuần hoàn vật chất trong thiên nhiên, các nhà khoa học đã thu
được những thành tựu đáng kể. Tiêu biểu cho lĩnh vực này có thể kể tới một số tác
giả sau:
- Liebig (1862) lần đầu tiên đã định lượng về sự tác động của thực vật tới
không khí và phát triển thành định luật tối thiểu, sau đó Mitscherlich (1954) đã phát
triển luật tối thiểu của Liebig thành luật "năng suất" [21].
- Lieth (1964) đã thể hiện năng suất trên toàn thế giới bằng bản đồ năng suất
[31], đồng thời với sự ra đời của chương trình sinh học quốc tế “IBP” (1964) và
chương trình sinh quyển con người “MAB” (1971) đã tác động mạnh mẽ tới việc
nghiên cứu sinh khối. Những nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung vào các đối
tượng đồng cỏ, savan, rừng rụng lá, rừng mưa thường xanh.
- Duyiho cho biết hệ sinh thái rừng nhiệt đới năng suất chất khô thuần từ 10 50 tấn/ha/năm, trung bình là 20 tấn/ha/năm, sinh khối chất khô từ 60 - 800
bụi cao dưới 2 m và tế guột là 20 tấn/ha, cỏ lá tre 13 tấn/ha, cỏ tranh 10 tấn/ha [10].
- Nguyễn Văn Tấn (2006) nghiên cứu về sinh khối rừng Bạch đàn Urophylla
ở Yên Bái cho kết quả cho thấy với sinh khối tươi ở tuổi 4 bằng 183,54 tấn/ha, ở
tuổi 5 là 219,77 tấn/ha và ở tuổi 5 là 239,19 tấn/ha. Trong đó sinh khối trên mặt đất
chiếm từ 77,78% - 89,12%. Tương ứng sinh khối khô ở tuổi 4 là 66,87 tấn/ha, tuổi 5
là 73,53 tấn/ha, tuổi 6 là 96,02 tấn/ha. Trong đó sinh khối khô trên mặt đất chiếm từ
64,27% - 85,92% [13].
- Lý Thu Quỳnh (2007) nghiên cứu về cây Mỡ tại tỉnh Phú Thọ và Tuyên
Quang kết quả cho thấy tổng sinh khối tươi của 1ha rừng trồng Mỡ dao động trong
khoảng 53.440 - 309.689 kg/ha còn tổng sinh khối khô dao động trong khoảng
22.965 - 105.026 kg/ha [12]
2.2. Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của rừng
2.2.1. Trên thế giới
Nơi có khả năng hấp thụ một khối lượng lớn CO2 phát thải vào không khí
bởi các hoạt động của con người đó là đại dương và thảm thực vật. Trong đó thảm
thực vật đã lưu giữ một lượng CO2 lớn hơn 1 nửa khối lượng chất khí phát thải đó
Footer Page 16 of 133.
Header Page 17 of 133.
8
và cũng chính từ nguyên liệu các bon này hàng năm thảm thực vật trên trái đất đã
tạo ra được 150 tỷ tấn vật chất khô thực vật. Rừng nhiệt đới toàn cầu có diện tích
khoảng 17,6 triệu km2 tích lũy 547 tỷ tấn các bon trong sinh khối và trong đất. Năm
1980, Brawn và cộng sự đã sử dụng công nghệ GIS dự tính lượng các bon trung
bình trong rừng nhiệt đới châu Á là 144 tấn/ha trong phần sinh khối và 148 tấn /ha
trong lớp đất mặt với độ sâu 1 m, tương đương 42 - 43 tỷ tấn các bon trong toàn
rừng. Việc xác định lượng các bon trong rừng thường được thực hiện thông qua xác
định sinh khối rừng [24].
Kết quả nghiên cứu về sự biến động các bon sau khai thác rừng:
- Brown và Pearce (1997) đã nhận định rằng: Một khu rừng nguyên sinh có
thể hấp thụ được 280 tấn các bon và sẽ giải phóng 200 tấn các bon nếu chuyển
thành du canh du cư và sẽ giải phóng nhiều hơn một chút nếu được chuyển thành
đồng cỏ hay đất nông nghiệp. Rừng trồng có thể hấp thụ khoảng 115 tấn các bon và
con số này sẽ giảm từ 1/3 đến 1/4 khi rừng bị chuyển đổi sang canh tác nông
nghiệp [19].
- Theo Putz và Pinard (1993) ở Malaisia nếu khai thác chọn lấy đi 8 - 15
cây/ha (tương đương 80 m3/ha hay 22 tấn các bon/ha) sẽ làm tổn thương 50% số
cây được giữ lại. Ở Sabah sau khai thác 1năm lượng sinh khối đã đạt 44 - 67% so
với trước khai thác (nếu khai thác theo phương thức "Khai thác giảm thiểu tác
động" (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 2005) [4].
- Xét trên phạm vi toàn cầu, số liệu thống kê năm 2003 cho thấy lượng các
bon lưu trữ trong rừng khoảng 800 - 1.000 tỷ tấn. Trong 1 năm rừng hấp thụ khoảng
100 tỷ tấn khí các bonic và thải ra khoảng 80 tỷ tấn Oxy... [3].
- Tổng lượng hấp thu dự trữ các bon của rừng trên thế giới khoảng 830 PgC,
trong đó các bon trong đất lớn hơn 1,5 lần các bon dự trữ trong thảm thực vật
(Brown, 1997) [26]. Đối với rừng nhiệt đới, có tới 50% lượng các bon dự trữ trong
thảm thực vật và 50% dự trữ trong đất (IPCC,2000) [22].
- Theo ước tính hoạt động trồng rừng và tái trồng rừng trên thế giới có tỷ lệ
hấp thu CO2 ở sinh khối là 0,4 - 1,2 tấn/ha/năm ở vùng cực bắc; 1,5 - 4,5
tấn/ha/năm ở vùng ôn đới và 4 - 8 tấn/ha/năm ở các vùng nhiệt đới (Dioxon và cộng
sự, 1994)[12]; (IPCC, 2000)[22].
- Năm 1991, Houghton đã chứng minh lượng các bon trong rừng nhiệt đới
châu Á là 40 - 250 tấn/ha, trong đó 50 - 120 tấn/ha ở phần thực vật và đất (dẫn theo
Phạm Xuân Hoàn, 2005) [4].
Footer Page 18 of 133.
62,5 - 103,1 tấn/ha, giá trị tích luỹ các bon ước tính đạt 20 - 33 triệu VNĐ [2].
Vũ Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu trữ lượng các bon theo các trạng thái
rừng cho biết: Rừng giàu có tổng trữ lượng CO2 là 694,9 - 733,9 tấn CO2/ha; rừng
Footer Page 19 of 133.
Header Page 20 of 133.
11
trung bình là 539,6 - 577,8 tấn CO2/ha; rừng nghèo 387,0 - 478,9 tấn CO2/ha; rừng
phục hồi 164,9 - 330,5 tấn CO2/ha ; rừng tre nứa là 116,5 - 277,1 tấn CO2/ha [9].
Lý Thu Huỳnh (2007) nghiên cứu về khả năng hấp thụ các bon của rừng Mỡ,
kết quả thu được tổng lượng các bon tích luỹ dao động từ 40.933 - 145.041 kg/ha;
trong đó chủ yếu tập trung vào các bon trong đất trung bình là 59%, tầng cây gỗ
30%, vật rơi rụng 4% và cây bụi thảm tươi là 2% [6].
Phạm Tuấn Anh (2007) Nghiên cứu về năng lực hấp thụ CO2 của rừng tự
nhiên lá rộng thường xanh ở Dăk Nông cho kết quả: Lượng tích luỹ CO2 hàng năm
từ 1,73 - 5,18 tấn/ha/năm tuỳ theo trạng thái rừng [1].
Ngô Đình Quế (2005) [12] khi nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí, chỉ tiêu
trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam đã tiến hành đánh giá khả năng
hấp thụ CO2 thực tế của một số loại rừng trồng ở Việt Nam gồm: Thông nhựa, keo
lai, Mỡ, keo lá tràm và bạch đàn Uro ở các tuổi khác nhau. Kết quả tính toán cho
thấy khả năng hấp thụ CO2 của các lâm phần khác nhau tuỳ thuộc vào năng suất lâm
phần đó ở các tuổi nhất định. Để tích luỹ khoảng 100 tấn CO2/ha Thông nhựa phải
đến tuổi 16 - 17, Thông mã vĩ và Thông ba lá ở tuổi 10, Keo lai 4 - 5 tuổi, Keo tai
tượng 5 - 6 tuổi, Bạch đàn Uro 4 - 5 tuổi. Kết quả này là rất quan trọng nhằm làm cơ
sở cho việc quy hoạch vùng trồng, xây dựng các dự án trồng rừng theo cơ chế phát
triển sạch (CDM). Tác giả đã lập phương trình tương quan hồi quy - tuyến tính giữa
Việc nghiên cứu trữ lượng các bon hấp thụ của rừng là bước ngoặt quan
trọng trong việc xác định cơ sở để thực hiện Nghị định thư Kyoto, đồng thời còn
góp phần vào bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học, giảm thiểu phát thải
khí nhà kính thông qua hoạt động trồng rừng và tái trồng rừng. Đây cũng là một cơ
hội để khẳng định chức năng môi trường của rừng cũng như giá trị đích thực của
rừng, cơ hội thương mại các bon, một tiềm năng rất lớn trong lĩnh vực kinh doanh
lâm nghiệp mà trước đây hầu như chưa hề đề cập đến.
2.4. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.4.1. Điều kiện tự nhiên
2.4.1.1. Vị trí địa lý
Chu Hương là xã nằm ở phía Nam huyện Ba Bể, cách trung tâm huyện Ba
Bể khoảng 20 km; có trục đường 258 đi qua địa phận xã, đường liên xã Chu Hương
- Hà Hiệu dài 11 km được nâng cấp và mở rộng, Có chợ Pù Mắt là trung tâm giao
lưu hàng hóa, thương mại và dịch vụ cụm Nam của huyện. Xã có tổng diện tích đất
tự nhiên là 3.478,96 ha; Trong đó diện tích đất nông nghiệp: 3.303,97 ha; ngành
Footer Page 21 of 133.
Header Page 22 of 133.
13
nghề chủ yếu là phát triển nông - lâm nghiệp - chăn nuôi và các dịch vụ khác. Có
ranh giới hành chính tiếp giáp với các xã như sau:
- Phía Bắc giáp xã Hà Hiệu huyện Ba Bể
- Phía Nam giáp xã Mỹ Phương huyện Ba Bể
- Phía Đông giáp huyện Ngân Sơn
- Phía Tây giáp xã Đồng Phúc và xã Yến Dương huyện Ba Bể
2.4.1.2. Địa hình, địa mạo
Mặc dù diện tích rừng trồng tương đối lớn nhưng chủ yếu là rừng non mới
tái sinh hoặc mới trồng theo các chương trình như PAM, 327, 661. Điều đặc biệt
cần được quan tâm hiện nay là khu rừng tự nhiên đang bị khai thác không đúng chu
kỳ và kỹ thuật, chặt phá không xin phép. Do đó trong thời gian tới cần có biện pháp
quản lý chặt chẽ nhằm bảo vệ tốt quỹ rừng hiện có này.
2.4.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội xã Chu Hương
Chu Hương có 19 thôn, do tập quán canh tác lâu đời đã hình thành nên các
khu dân cư sống theo từng khu vực, dọc các trục đường giao thông và các thung
lũng sâu. Nhìn chung vị trí các khu dân cư phân bố chưa đồng đều, các khu dân cư
nằm rải rác không thuận tiện cho việc sản xuất, sinh hoạt và giao thông, có những
xóm còn quá xa khu trung tâm (Khuổi Ha, Nà Quang, Nà Cà, Nà Đông) nhưng lại
chưa được quan tâm mở mang đường xá nên đi lại còn rất khó khăn.
Footer Page 23 of 133.
Header Page 24 of 133.
15
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lâm phần rừng trồng Mỡ các cấp tuổi
khác nhau (3, 5, 7 và 9) tại xã Chu Hương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung xác định lượng các bon tích lũy của rừng
trồng Mỡ ở các cấp tuổi 3, 5, 7 và 9 tại xã Chu Hương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
cây rừng và lâm phần chính là phục vụ cho mục đích định lượng khả năng hấp thụ
các bon của rừng. Sinh khối rừng được biểu thị bằng nhiều đại lượng khác nhau
nhưng phổ biến nhất là thể tích và trọng lượng chất hữu cơ do cây tạo ra. Theo
nguyên tắc của chọn lọc tự nhiên, mỗi cây rừng phải thu xếp cho mình một sinh
khối hợp lý nhất. Vì vậy, các bộ phận sinh khối khác nhau trên thân sẽ hình thành
một tỷ lệ nhất định. Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng, mối tương quan giữa
chúng với nhau và với sinh khối là rất cần thiết cho việc xác định khả năng tích lũy
các bon của lâm phần một cách chính xác nhất
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu
3.4.2.1. Cách tiếp cận
Để đạt được các mục tiêu đề ra, cách tiếp cận tự nhiên và tiếp cận cộng đồng
được lựa chọn. Hệ thống các ô tiêu chuẩn được lập cho các hoạt động điều tra rừng
để xác định lượng các bon tích lũy trong rừng trồng Mỡ ở khu vực nghiên cứu. Kết
hợp với điều tra thực địa là hoạt động điều tra cộng đồng nhằm xác định kỹ thuật
trồng, định mức đầu tư, chế độ chăm sóc, quản lý bảo vệ đã được áp dụng và hiệu
quả kinh tế của rừng trồng Mỡ tại khu vực nghiên cứu.
3.4.2.2. Phương pháp kế thừa
Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây làm cơ sở cho việc so sánh, phân
tích và phục vụ cho việc viết tổng quan tài liệu và đánh giá hiện trạng rừng.
3.4.2.3. Phương pháp phỏng vấn (PRA)
Điều tra cộng đồng sử dụng các công cụ của bộ công cụ PRA để điều tra xác
định các biện pháp kỹ thuật trồng, định mức đầu tư, chế độ chăm sóc, quản lý bảo
vệ đã được áp dụng và chi phí đầu vào và thu nhập từ rừng trồng Mỡ tại khu vực
nghiên cứu.
Footer Page 25 of 133.