TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
-------*****-------
PHẠM THỊ QUY
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH
NHÂN GIỐNG CÂY CỦ MÀI
( Dioscorea persimilis) BẰNG PHƢƠNG
PHÁP NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO THỰC VẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Sinh lí học thực vật
HÀ NỘI, 2017
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
-------*****-------
PHẠM THỊ QUY
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH
NHÂN GIỐNG CÂY CỦ MÀI
( Dioscorea persimilis) BẰNG PHƢƠNG
PHÁP NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO THỰC VẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Sinh lí học thực vật
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa được ai công bố.
Hà Nội, 18 tháng 04 năm 2017
Sinh viên
PHẠM THỊ QUY
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Mục tiêu của đề tài ...................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn ...................................................... 2
4. Nội dung nghiên cứu ................................................................................... 2
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................ 3
1.1. Đặc điểm và phân loại cây Củ mài ......................................................... 3
1.1.1. Phân loại thực vật cây Củ mài ............................................................ 3
1.1.2. Đặc điểm thực vật học của cây Củ mài ............................................... 4
1.1.3. Phân bố, thu hái và chế biến ................................................................ 5
1.1.4. Đặc điểm của dƣợc liệu và hạt tinh bột Củ mài sau khi chế biến .... 5
1.1.5. Thành phần hóa học ............................................................................. 5
1.1.6. Công dụng .............................................................................................. 6
1.2. Khái quát về nuôi cấy mô tế bào thực vật ............................................. 7
1.2.1. Cơ sở khoa học của phƣơng pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật ....... 7
1.2.1.1. Tính toàn năng của tế bào thực vật .................................................. 7
1.2.1.2. Sự phân hóa và phản phân hóa tế bào ............................................. 7
1.2.1.3. Cơ chế di truyền thông qua các thế hệ tế bào ................................. 9
1.2.2. Các giai đoạn chính trong nuôi cấy mô tế bào thực vật .................... 9
1.2.2.1. Khử trùng mẫu và cấy khởi động ..................................................... 9
1.2.2.2. Tái sinh mẫu nuôi cấy ........................................................................ 9
sinh trƣởng đến khả năng tái sinh của chồi cây Củ mài. .......................... 20
2.6.2.3. Ra rễ tạo cây Củ mài in vitro hoàn chỉnh. ..................................... 21
2.6.2.4. Huấn luyện cây Củ màiin vitro thích nghi với điều kiện tự nhiên........22
2.7. Phƣơng pháp thống kê. .......................................................................... 23
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ....................... 24
3.1. Tạo vật liệu khởi đầu ............................................................................. 24
3.2. Tái sinh và nhân nhanh chồi in vitro cây củ mài. ............................... 25
3.2.1. Ảnh hƣởng của BAP đến khả năng nhân chồi ................................. 27
3.2.2. Ảnh hƣởng của BAP kết hợp NAA lên khả năng nhân chồi........... 28
3.3. Ảnh hƣởng của NAA đến sự hình thành rễ của chồi Củ mài in vitro......29
3.4. Huấn luyện cây Củ mài in vitro thích nghi với điều kiện tự nhiên. .. 31
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 35
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 39
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Công thức thí nghiệm tạo vật liệu in vitro cây Củ mài ......... 28
Bảng 2.2: Công thức ảnh hưởng của BAP đến nhân nhanh chồi Củ mài
in tro ................................................................................................................ 29
Bảng 2.3: Công thức ảnh hưởng của BAP kết hượp NAA đến khả năng
nhân chồi Củ mài in tro .................................................................................. 29
Bảng 2.4: Công thức ảnh hưởng của NAA đến khả năng tạo rễ Củ mài in
vitro ............................................................................................................... 30
Bảng 2.5: Công thức ảnh hưởng của giá thể tới sự thích nghi của cây Củ
mài ................................................................................................................. 30
Bảng 3.1: Kết quả tạo vật liệu khởi đầu đốt thân cây Củ mài................ 33
Bảng3.2: Ảnh hưởng của BAP lên khả năng nhân chồi của Củ mài sau 6
Indol 3- butyric acid
IAA:
- Indole - acetic acid
BAP:
6- Benzyl amino purin
MS:
Murashige và Skoog
Nxb:
Nhà xuất bản
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cây củ mài (Dioscorea persimilis Prain et Burkill), thuộc họ Củ nâu
(Dioscoreaceae) là một trong những loài thực vật thân leo nằm trong danh
mục nhóm lâm sản ngoài gỗ [9]. Ngoài ra trong dân gian cây củ mài còn được
biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như: hoài sơn, sơn dược, khoai mài, mằn
chèn, mán dịn, co mằn kép (tiếng dân tộc Thái), mằn ôn (tiếng dân tộc Nùng),
hìa dòi (tiếng dân tộc Dao), gờ lờn (tiếng dân tộc K'dong).... Cây Củ mài là
loài cây có rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột, có vị ngọt, ngoài ra các lá non và
thân non cây củ mài cũng được sử dụng như một loại rau rừng [18]. Do có vị
ngọt và tính mát, mùi vị đặc trưng nên từ nhiều năm nay củ mài được chế biến
- Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống cây Củ mài bằng kĩ thuật
nuôi cấy mô tế bào thực vật.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
-Ý nghĩa khoa học:
+ Kết quả nghiên cứu sẽ xây dựng được quy trình nhân giống cây củ mài
bằng kỹ thuật in vitro.
+ Góp phần bảo tồn nguồn gen loại cây dược liệu, cây lương thực này.
-Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất quy trình hoàn chỉnh nhân giống cây củ mài
bằng kỹ thuật in vitro, từ đó đảm bảo chủ động trong sản xuất cây giống với
số lượng lớn, sạch bệnh, chất lượng đồng đều, đáp ứng nhu cầu cây giống cho
sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất, phục vụ nhu cầu lương thực, thực phẩm
và dược liệu.
4. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tạo vật liệu khởi đầu cho nuôi cấy in vitro.
- Tái sinh và nhân nhanh chồi: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất
điều tiết sinh trưởng đến khả năng tái sinh và tạo đa chồi của cây Củ mài.
- Ra rễ, tạo cây in vitrohoàn chỉnh.
- Huấn luyện cây Củ mài cấy mô thích nghi với điều kiện tự nhiên.
2
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc điểm và phân loại cây Củ mài
1.1.1. Phân loại thực vật cây Củ mài
Theo hệ thống thực vật [19] cây Củ mài được phân loại như sau:
Giới (regum) : Thực vật (Plantae)
Ngành
(Phylum)
sơn: Dioscorea persimilis) và củ từ(Dioscorea esculenta).
3
1.1.2. Đặc điểm thực vật học của cây Củ mài
Cây Củ mài thuộc loài cây thân thảo, leo quấn trên các giá thể khác nhau
trong tự nhiên, cây sống nhiều năm, dài 5-10 m, cây có củ mọc sâu trong lòng
đất từ 1,5 – 2 m. Cây thường mọc rải rác ven rừng, rừng tre nứa, khe núi đá,
trên đất đồi, những địa điểm ẩm quanh năm, đất xốp và giàu chất dinh dưỡng.
Cây củ mài (Dioscorea persimilis) thường có một củ chính to được hình
thành từ rễ chính, củ dài hình chiếc dùi cui, mọc sâu vào trong đất độ sâu có
thể từ 1-2 m. Trên rễ củ có rất nhiều rễ dinh dưỡng mọc dài có tác dụng hấp
thụ nước và ion khoáng trong đất. Cây trồng một năm đã cho củ với năng suất
trung bình đạt từ 1-1,2 kg/gốc [17].
Cây củ mài dạng thân leo (thân tự leo) dài trên 10 m, đường kính thân
trung bình từ 0,2-0,5 cm thân quấn vào các giá thể khác theo chiều từ trái qua
phải. Thân cây nhẵn, không có lông, màu nâu đỏ và có góc cạnh, trên thân
không có tua. Chồi bên hình thành từ các nách lá hình thành lên các cành cấp
1 nhưng số lượng cành ít tập trung chủ yếu ở giữa thân. Thân cây chia đốt
mỗi đốt thân dài khoảng 15-20 cm toàn thân cây có từ 50-100 đốt tùy mức độ
sinh trưởng và phát triển của cây. Trên mỗi đốt thân có 4 lá. Do đặc điểm cấu
tạo thân cây nhỏ, mềm dẻo nên cây Củ mài không tự đứng trong không gian
mà phải leo lên các giá thể khác để lấy ánh sáng mặt khác khi leo lên cá giá
thể khác sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát tán của hạt trong không gian
[17].
Lá cây Củ mài là lá đơn, lá có dạng bản nhỏ, mọc so le hay mọc đối,
hình tim đôi khi hình mũi tên, trên lá không lông, số lượng gân lá nhiều,
gân lá có hình chân vit, dài khoảng 10-12 cm, rộng 6-8 cm, nhẵn, chóp lá
nhọn [17].
Theo phân tích của Viện Dược liệu Việt Nam (2011) [40] trong rễ củ của
cây củ mài khô có chứa một số thành phần dinh dưỡng như: gluxit 63,25%,
protit 6,75%, lipit 0,45%, chất nhầy 2,0 – 2,8%, dioscin sapotoxin, allantoin,
dioscorin và các axit amin, mucin là một loại protein nhớt và một số chất
khác như allantion, cholin, arginin, men maltose, saponin có nhân sterol. Viên
đã có một số nghiên cứu tác dụng dược lý của củ mài trên cơ thể sống
5
(chuột) thông qua các chỉ tiêu như tăng thân trọng, tăng sự đồng hóa và tác
dụng nội tiết hướng sinh dục…. Theo danh y Đỗ Tất Lợi (2004) [4] chất
mucin trong củ mài hòa tan trong nước ở điều kiện axit và nhiệt độ thích hợp
sẽ phân giải thành chất protid và hydrat carbon. Ở nhiệt độ 45 – 55 độ C, khả
năng thủy phân chất đường của men trong củ mài rất cao, trong axit loãng
trong 3 giờ có thể tiêu hóa 5 lần lượng đường có vai trò rất quan trọng trong
việc chữa bệnh tiểu đường ở con người.
1.1.6. Công dụng
Ngoài việc dùng để ăn chống đói, củ mài (hoài sơn) còn là vị thuốc. Củ
mài với công năng kiện tỳ, chỉ tả, bổ phế khí, ích thận, cố tinh, giải độc, được
dùng trong các trường hợp tỳ vị hư nhược, ăn uống kém tiêu, tiêu chảy hoặc
trẻ em bị vàng da, bụng ỏng, mắt mũi nhoèn gỉ mà y học cổ truyền gọi là bệnh
cam, có thể phối hợp với các vị thuốc kiện tỳ: bạch truật, hoàng kỳ, bạch biển
đậu… hoặc trong trường hợp khí phế hư nhược, đoản hơi, mệt mỏi, ho khan,
phối hợp với đảng sâm, cát cánh, bách bộ.. Còn dùng khi thận hư, mộng tinh,
di tinh, tiểu tiện không cầm, phụ nữ bạch đới, phối hợp với ba kích, kim anh,
khiếm thực…, đái tháo đường, phối hợp với mạch môn, thiên hoa phấn, sinh
địa… Dùng ngoài, trị viêm tuyến vú gây đau đớn: củ mài tươi, rửa sạch, giã
nát, đắp vào chỗ sưng đau, cách dùng vị hoài sơn là rất phong phú và đa dạng.
Đề tài : Chế biến tinh bột củ mài hỗ trợ điều trị bệnh nhân đái tháo đường týp
2[38] do Trần Hữu Dũng Trường Đại học Y Dược Huế cùng cộng sự được
Ở giai đoạn đầu, tế bào hợp tử tiếp tục phân chia hình thành nhiều tế bào phôi
sinh chưa mang chức năng riêng biệt (chuyên hóa). Từ các tế bào phôi sinh
này chúng tiếp tục biệt hóa thành các tế bào chuyên hóa đặc hiệu cho các mô,
cơ quan có chức năng khác nhau.
Sự phân hóa tế bào là sự chuyển các tế bào phôi sinh thành các tế bào
mô chuyên hóa, đảm nhận các chức năng khác nhau của cơ thể.
Tuy nhiên, khi các tế bào đã phân hóa thành các tế bào có chức năng
chuyên biệt, chúng không hoàn toàn mất khả năng biến đổi của mình. Trong
trường hợp cần thiết, ở điều kiện thích hợp, chúng lại có thể trở về dạng tế
bào phôi sinh và phân chia mạnh mẽ cho ra các tế bào mới có khả năng tái
7
sinh thành cây hoàn chỉnh. Quá trình đó gọi là phản phân hóa tế bào, ngược
lại với sự phân hóa tế bào.
Sự giãn tế bào: tế bào giãn ra cả về chiều ngang và chiều dọc làm tăng
kích thước của từng cơ quan nói riêng và toàn bộ cơ thể nói chung. Sau hai
giai đoạn này cùng với quá trình cùng với quá trình biệt hóa tế bào phân hóa
thành các mô chức năng chuyên hóa chuyên biệt, đảm nhận các vai trò khác
nhau trong cùng một cơ thể sống [6].
Hình 1.2 Sơ đồ quá trình phân hóa và phản phân hóa của tế bào thực
vật
Về bản chất thì sự phân hóa và phản phân hóa là một quá trình hoạt
hóa, ức chế các gen. Tại một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển cá
thể, có một số gen được hoạt hóa (mà vốn trước nay bị ức chế) để cho ta tính
trạng mới, còn một số gen khác lại bị đình chỉ hoạt động. Điều này xảy ra
theo một chương trình đã được mã hóa trong cấu trúc của phân tử ADN của
mỗi tế bào khiến cho quá trình sinh trưởng phát triển của cơ thể thực vật luôn
được hài hòa. Mặt khác, khi tế bàonằm trong một khối mô của cơ thể thường
1.2.2.2. Tái sinh mẫu nuôi cấy
Đây là giai đoạn tái sinh một cách có định hướng sự phát triển của mô
nuôi cấy. Quá trình được điều khiển bằng các chất kích thích sinh trưởng
(auxin/cytokinin), các chất bổ sung khác như là nước dừa, dịch chiết nấm
men.. .vào môi trường kết hợp với các yếu tố ánh sáng, nhiệt độ thích hợp
nhằm tạo ra tỷ lệ tái sinh cao nhất. Tuổi mẫu đem vào nuôi cấy cần được chú
ý, thường các mô non chưa phân hóa có khả năng tái sinh cao hơn những mô
đã chuyển hóa [7].
1.2.2.3. Giai đoạn nhân nhanh chồi
Giai đoạn này là giai đoạn tạo ra hệ số nhân nhanh cao nhất, được coi là
then chốt của quá trình. Điều khiển quá trình này bằng cách bổ sung vào môi
9
trường nuôi cấy các chất kích thích sinh trưởng, các chất bổ sung khác như:
nước dừa, dịch chiết nấm men,.. kết hợp với yếu tố nhiệt độ và ánh sáng [ 7].
Tùy thuộc vào vào đối tượng nuôi cấy, có thể tiến hành nhân nhanh bằng cách
kích thích sự hình thành các cụm chồi (nhân cụm chồi), hay kích thích sự phát
triển cuả các chồi nách hoặc thông qua việc tạo thành cây từ phôi vô tính.
1.2.2.4. Tạo cây hoàn chỉnh
Khi các chồi đạt được kích thước nhất định sẽ được chuyển sang môi
trường ra rễ. Thường sau 2 - 3 tuần, các chồi riêng lẻ này sẽ ra rễ và trở thành
cây hoàn chỉnh. Ở giai đoạn này người ta bổ sung các vào môi trường nuôi
cấy các chất kích thích sinh trưởng thuộc nhóm auxin là nhóm hoocmon thực
vật quan trọng có chức năng tạo rễ phụ từ mô nuôi cấy. Trong nhóm này các
chất IAA, IBA, NAA, 2,4-D thường sử dụng để tạo rễ cho chồi.
1.2.2.5. Giai đoạn đưa cây ra đất
Đây là giai đoạn cuối cùng quyết định khả năng ứng dụng của quá trình
nhân giống in vitro trong thực tiễn sản xuất. Trong giai đoạn này cây con
được chuyển từ môi trường nhân tạo sang môi trường tự nhiên, do đó cần đảm
được đưa vào môi trường dưới dạng muối nitrat canxi, nitrat kali, nitrat natri
hoặc nitrat amon. Trong số các nguyên tố của môi trường, nitơ có hàm lượng
lớn nhất [21].
Hai dạng phospho thường được dùng là: NaHPO4.7H2O và KH2PO4 [21].
Kali được cung cấp cho môi trường dưới dạng kali nitrat (KNO 3); Kali
Clorua (KCl); Kali phosphate (KH2PO4). Nồng độ kali trong môi trường nuôi
cấy thay đổi từ 2-25 mM [19].
Nguồn Canxi trong môi trường cung cấp dưới dạng muối canxi nitrat
Ca(NO3)2.4H2O; canxi clorua CaCl2.6H2O. Nồng độ Ca2+ trong môi trường
nuôi cấy thay đổi từ 1-3,5 ụM [21].
Nguồn magiê: Magiê được cung cấp dưới dạng magiê sunphat MgSO 4.
7H2O. Với nồng độ trong môi trường từ 0,5-3 ụM [21]. Nguồn Mg và S được
cung cấp dưới dạng MgSO4.H2O hoặc (NH4)2SO4 [22].
Sắt: thiếu sắt tế bào mất khả năng phân chia, thiếu sắt làm giảm hàm
lượng ARN và sinh tổng hợp protein nhưng làm tăng tổng hợp ADN và axit
tự do dẫn đến giảm phân bào. Các môi trường cổ điển dùng sắt dưới dạng
clorua sắt FeCl2, FeCl3.6H2O, sunfat sắt FeSO4.7H2O, Fe2(SO4)3[21].
11
Các ion Na+và Cl- cần ở hàm lượng thấp được đưa vào môi trường cùng
với các muối khoáng khi điều chỉnh pH môi trường.
Các loại muối khoáng vi lượng: là những nguyên tố thường được sử
dụng với hàm lượng thấp hơn 30 mg/l dung dịch nhưng rất nhiều nguyên tố vi
lượng được chứng minh là không thể thiếu đối với sự phát triển của mô: Fe,
Cu, Zn, Mn, Mo, I, Bo, Co. Các nguyên tố này đóng vai trò quan trọng trong
hoạt động của các enzyme [3].
1.2.3.2. Nguồn cacbon
Khi nuôi cấy in vitro,các tế bào thực vật thường không có khả năng
abscisis, ethylen) quyết định sự hình thành, phát triển, phát sinh hình thái của
thực vật nuôi cấy [16].
*Auxin: Auxin được sử dụng phổ biến trong nuôi cấy mô tế bào thực vật
và thường được bổ sung vào môi trường nuôi cấy từ đầu. Auxin cùng với
cytokinin có tác dụng thúc đẩy sự phát sinh và phát triển chồi, huyền phù tế
bào và cơ quan. Đồng thời điều hòa quá trình phát sinh hình thái. Ở mức độ tế
bào, auxin điều khiển các quá trình cơ bản của tế bào như phân chia và kéo
dài tế bào [3].
Auxin tự nhiên được tìm thấy nhiều ở thực vật là indol axetic acid
(IAA). IAA có tác dụng kích thích sinh trưởng kéo dài tế bào và điều khiển sự
hình thành rễ. Ngoài IAA, còn có các dẫn xuất của nó là napthyl axetic acid
(NAA) và 2,4- dichlorophenoxy acetic acid (2,4 D). Các chất này cũng đóng
vai trò quan trọng trong sự phân chia của mô và trong quá trình hình thành rễ
[3].
Trong cây auxin được tổng hợp ở các mô non đặc biệt là lá đang phát
triển và vùng đỉnh chồi. Từ những vùng này auxin được chuyển xuống các
phần phía dưới của cây [7].
*Cytokinin: Cytokinin là chất kích thích sinh trưởng có tác dụng kích
thích sử dụng protein, điều khiển chu trình tế bào và tăng sự phân chia tế bào.
Các cytokinin thường được sử dụng rộng rãi là kinetine, benzyadenin
(BA), 6- benzyl aminopurin (BAP) và thidiazuzon (TDZ). Đây là các
cytokinin tổng hợp nhân tạo nhưng có hoạt tính mạnh hơn nhiều các cytokinin
tự nhiên như zeatin hay iP. Các cytokinin có tác dụng kích thích phân chia tế
bào kéo dài thời gian hoạt động của tế bào phân sinh và làm hạn chế sự già
hóa của tế bào [3].
13
*Gibberellin: Gibberellin được phát hiện đầu tiên bởi nhà nghiên cứu
người nhật Kurosawa (1920) khi nghiên cứu bệnh ở mạ lúa do nấm Gibberella
1.2.3.6. pH môi trường
Mỗi loại cây trồng yêu cầu một loại môi trường khác nhau nhưng pH của
môi trường thường là 5,6-6,0 [2].
Môi trường thấp có pH hơn 5 hay cao hơn 6 đều có ảnh hưởng đến trạng
thái của môi trường nuôi cấy và sự hòa tan các chất dinh dưỡng [12].
1.2.4. Ảnh hƣởng của điều kiện nuôi cấy đến nuôi cấy mô tế bào thực
vật
1.2.4.1. Điều kiện vô trùng
Nuôi cấy in vitro là nuôi cấy trong điều kiện vô trùng. Nếu không đảm
bảo điều kiện vô trùng mẫu nuôi cấy, môi trường hoặc thao tác nuôi cấy sẽ bị
nhiễm. Điều kiện vô trùng có ý nghĩa quyết định đến cả quy trình nuôi cấy mô
in vitro [2].
Phương pháp vô trùng vật liệu thông dụng nhất hiện nay là dùng các chất
hoá học, đèn tím có khả năng diệt nấm và vi khuẩn. Đây là một thao tác khó
và là khâu đầu tiên có ý nghĩa tiên quyết. Song nếu tìm được nồng độ và thời
gian xử lí thích hợp sẽ cho mẫu tỉ lệ sống cao và tỉ lệ nhiễm thấp. Các hóa
chất thường dùng để khử trùng như: HgCl2 0,1%, nước Clolox, cồn 700,
Ca(ClO)2...
1.2.4.2.Môi trường vật lý
*Nhiệt độ: Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phân chia tế bào và
các quá trình trao đổi chất trong nuôi cấy mô, nhiệt độ nuôi cấy thường giữ ổn
định ở 25-270C; nhiệt độ còn ảnh hưởng tới hoạt động của auxin [21]. Nhìn
chung nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng tốt ở nhiều loài cây là
25±20C [3].
*Ánh sáng: Các nghiên cứu cho thấy ánh sáng rất cần thiết cho sự phát
sinh hình thái mẫu nuôi cấy. Cường độ ánh sáng cao kích thích sự sinh trưởng
của mô sẹo. Ngược lại, cường độ ánh sáng thấp kích thích sự tạo chồi. Và các
loại mẫu cấy khác nhau có nhu cầu về thời gian chiếu sáng, cường độ ánh
sáng khác nhau. Thời gian chiếu sáng với đa số các loài cây thích hợp là 1215