Một số biện pháp giáo dục học sinh nghiện điện tử tại trường THPT ngọc lặc - Pdf 44

I. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Chính sách mở cửa của nhà nước ta hiện nay cũng như sự phát triển của
khoa học công nghệ đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ đưa con
người đến gần hơn cuộc sống văn minh hiện đại. Nền giáo dục nước nhà vì
thế cũng được thừa hưởng thành tựu của khoa học công nghệ bằng việc đẩy
mạnh áp dụng khoa học công nghệ vào giảng dạy trong các nhà trường nhằm
nâng cao chất lượng dạy và học. Nhưng chính một trong những mặt trái của
nền khoa học công nghệ (văn hoá mạng, cơn bão mạng) đã ảnh hưởng xấu
đến lứa tuổi thanh thiếu niên đặc biệt là lứa tuổi 15 - 18 (học sinh THPT) nói
riêng và toàn xã hội nói chung. Một số em đã ham, “nghiện” [6] điện tử, bỏ
bê học tập, gây ảnh hưởng rất lớn đến các học sinh khác, đến chất lượng
giáo dục chung, để lại nhiều hệ luỵ cho gia đình và xã hội.
Phần nhiều, những học sinh đã “nghiện” điện tử thường có xu hướng bỏ
học. Đó chính là những con người chưa được trang bị đầy đủ những kiến
thức cơ bản, kĩ năng và còn khiếm khuyết về nhân cách đạo đức. Do đó, theo
xu thế phát triển của xã hội hiện đại ngày nay thì những con người này sẽ
không đáp ứng được yêu cầu về xây dựng và bảo vệ xã hội. Vậy, giáo dục để
các em học tập nghiêm túc, hoàn thiện nhân, cách đạo đức đáp ứng được xu
thế xã hội là trách nhiệm, nghĩa vụ của người Thầy nói riêng, của gia đình và
toàn xã hội nói chung.
Ưu tiên phát triển giáo dục là tính ưu việt của xã hội ta ngày nay. Mục
tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo
đức, tri thức, sức khoẻ, tẩm mỹ và nghề nghiệp ... những con người như vậy
sẽ là một công dân có ích cho xã hội. Do vậy, đổi mới nội dung chương
trình,phương pháp dạy học cũng theo đó đổi mới. Gần đây có tích hợp liên
môn nhằm cung cấp đầy đủ nhất kiến thức cho học sinh. [1] Các nhà trường
cũng khuyến khích viết sáng kiến kinh nghiệm để giáo viên được học hỏi,
trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau nhằm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
Trong rất nhiều sáng kiến kinh nghiệm tôi được tham khảo thì phần nhiều
tập trung vào hoạt động dạy học chỉ một số chia sẻ kinh nghiệm về hoạt

cứu đối tượng: học sinh lớp 10A5, trường THPT Ngọc Lặc “nghiện” điện tử.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình làm công tác kiệm nhiệm nhiều năm, bản thân gặp rất
nhiều trường hợp học sinh khó giáo dục mà chúng ta vẫn thường gọi là học
sinh cá biệt. Tôi đã rất trăn trở, vất vả để tìm biện pháp giáo dục, uốn nắn
các em. Thời gian gần đây lại xuất hiện tình trạng học sinh “nghiện” điện tử.
Phải nói rằng đây là hiện tượng rất khó giáo dục. Bằng những kinh nghiệm
của bản thân, kết hợp trao đổi với Ban Giám Hiệu, đồng nghiệp trong và
ngoài trường tôi cũng giáo dục được học sinh của mình. Khi bắt tay vào
nghiên cứu đề tài, trước hết tôi dựa trên sự định hướng của Sở GD - ĐT
Thanh Hóa, của BGH, trao đổi với đồng nghiệp đặc biệt là kinh nghiệm của
mình, tôi chọn phương pháp nghiên cứu: Phương pháp điều tra khảo sát thực
tế, thu thập thông tin.
II. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trên cơ sở kiến thức về đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi vị thành niên (14 18), lứa tuổi đang có nhiều thay đổi về cơ thể và tính cách (thể chất và tinh
thần). Giai đoạn này xuất hiện trong cơ thể các em nhiều hóoc môn mới,
khiến các em có những biểu hiện bất thường: “khủng hoảng về tâm lí”, vui
buồn thất thường, dễ cảm xúc, hoặc dễ sa vào những cám dỗ đời thường.
2


Đây chính là “thời kì quá độ” chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn, tuổi
muốn được khẳng định mình. Mặt khác, đây cũng là lứa tuổi hoàn thiện và
trưởng thành, rất cần sự giáo dục, uốn nắn của gia đình, nhà trường và xã hội
… [2] Do đó giáo dục các em trong thời kì này hết sức khó khăn nhưng nếu
chúng ta nắm chắc kiến thức về đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi vị thành
niên sẽ là cơ sở lí luận quan trọng thứ nhất để giáo dục học sinh một cách
hiệu quả.
* Cơ sở lí luận thứ hai, tôi lấy ngay kinh nghiệm của cha ông qua câu

3


của Việt Nam là giáo dục tư tưởng, giáo dục ý chí vươn lên… phù hợp với
lứa tuổi người học. [1] Áp dụng nguyên lí này trong giáo dục chắc chắn
chúng ta sẽ thành công.
Thực tế cho thấy những học sinh “nghiện” điện tử một khi đã tỉnh ngộ,
quay trở về với việc học tập thì kết quả học tập vẫn tốt. Hơn thế, các em còn
có sự cố gắng không ngừng, biết đặt ra mục tiêu phấn đấu rõ ràng cho tương
lai, chỉ cần người thân, gia đình, nhà trường biết tác động ngoại lực tích cực
thì “con chim non sẽ sớm trưởng thành và vững vàng rời xa miệng tổ”!
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến.
Từ năm học 2001 - 2017, hầu như năm nào tôi cũng làm công tác
kiêm nhiệm. Thực ra làm công tác kiêm nhiệm, tôi cũng như nhiều đồng
nghiệp khác đã gặp phải muôn vàn những khó khăn, vất vả nhưng cũng được
hưởng không ít những niềm vui. Tôi còn nhớ rất rõ lời nói vừa vui đùa, vừa
động viên chúng tôi - những người làm công tác kiêm nhiệm: “Là thầy giáo
mà không được làm công tác kiêm nhiệm thì phí nửa cuộc đời” của Thầy
Hiệu trưởng Lương Hữu Hồng, hiện Thầy là Hiệu trưởng Trường THPT
Đông Sơn I (khi tôi còn công tác tại trường THPT Lang Chánh). Và thực,
trong ngần ấy năm được làm công tác kiêm nhiệm tôi thấy cuộc đời của
“người thầy” thật có ý nghĩa. Mười sáu năm công tác và kiêm nhiệm tôi đã
gặp nhiều trường hợp học sinh khó giáo dục (cá biệt): như ngang bướng với
cha mẹ, vô lễ với thầy cô, đánh nhau, uống rượu, hút thuốc lá… khi đến
trường. Khoảng từ năm học 2007 - 2008 trở lại đây, xuất hiện tình trạng học
sinh ham, “nghiện” điện tử, đây chính là một căn bệnh nan y đối với nhà
giáo dục.
“Internet tốc độ cao”, “Internet cáp quang”, “Chát siêu tốc độ”… là
những biển hiệu quảng cáo vô cùng hấp dẫn giới trẻ, độ tuổi khoảng từ 11 18 là đối tượng học sinh THCS và học sinh THPT, đặc biệt là học sinh
THPT. Điều đáng nói là xung quanh khu vực trường học những quán Game

con em các dân tộc thiểu số, sống ở các xã vùng sâu, vùng xa, đi lại khó
khăn, nói tiếng phổ thông còn chưa rõ, có đến 2/3 thuộc đối tượng chính
sách: nghèo, cận nghèo, vùng 135 (vùng kinh tế đặc biệt khó khăn). Đặc
biệt, trong lớp có đến 4 em ham chơi điện tử: Phạm Văn Niên, Phạm Văn
Tuấn, Bàn Văn Thành, Phạm Quang Tùng, riêng em Phạm Văn Niên thì đã
“nghiện” nặng.
Do áp lực từ những phiên họp Chi bộ, họp Hội đồng giáo dục, họp Tổ
chủ nhiệm với những thao tác đánh giá, nhận xét, rút kinh nghiệm rồi điểm
trừ thi đua …Tổ chủ nhiệm chúng tôi nói chung, bản thân tôi nói riêng phải
trăn trở tìm phương pháp giáo dục học sinh để đưa thành tích lớp chủ nhiệm
đi lên. Trong các biện pháp mà trước nay giáo viên chủ nhiệm đã sử dụng:
phạt trực nhật, cảnh cáo trước cờ, xáo cỏ khuôn viên nhà trường, dọn vệ
sinh, mời phụ huynh… Tôi đều đã áp dụng nhưng hiệu quả mang lại không
cao. Nhà trường xét xuống, phụ huynh tin tưởng gửi gắm lên, trăm sự nhờ
thầy cô... “Trên búa, dưới đe” có những lúc tâm trạng tôi căng như dây đàn,
thành ra nóng nảy, nặng lời với học sinh. Cô, trò dần có khoảng cách, giao
tiếp trong những hoàn cảnh bắt buộc, theo đó không khí lớp cũng căng thẳng
nặng nề.
Tôi nghĩ rằng phương pháp giáo dục của mình chưa phù hợp chăng?
Tôi đã chủ động gặp và trao đổi với BGH, đồng nghiệp đặc biệt những
người có kinh nghiệm và thành công trong công tác chủ nhiệm, thêm nữa là
các bạn bè công tác ở trường khác. Tôi không thể bất lực trước tình trạng
học sinh “nghiện” điện tử được. Cuối cùng, tôi sâu chuỗi biện pháp giáo dục
5


của mình, của đồng nghiệp đặc biệt của BGH rồi suy ngẫm và quyết định sử
dụng những phương pháp: xử lí nghiêm, xử lí mạnh; kiên trì giáo dục; giáo
dục học sinh trưởng thành từ lao động; tin tưởng con người, cảm hóa con
người bằng tấm lòng - đức trị. Và tôi đã thành công!

có phần hạn chế, phương pháp giáo dục chưa đúng cách). Do vậy, các em
chưa được quan tâm sát sao việc học tập, chưa được phân tích, định hướng
kịp thời và đúng cách. Các em chưa có chuyển biến ngay và việc giáo dục
- Ở mục 2.3. Hai thành ngữ: “Chứng nào tật ấy”, “Đá ném ao bèo” tác giả
trích nguyên văn từ TLTK số [3].
6


các em có phần khó khăn, vất vả hơn.
Như vậy, xử lí nghiêm, xử lí mạnh là một trong những biện pháp giáo
dục học sinh “nghiện” điện tử. Tôi đã sử dụng có hiệu quả và chúng ta những người làm công tác chủ nhiệm - cũng có thể sử dụng.
Giải pháp thứ hai: Áp dụng câu nói của Bác Hồ : “ giáo dục trong
nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã
hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”.[1] Tôi chủ động phối kết hợp
chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quá trình giáo dục
học sinh.
Sau khi áp dụng những biện pháp thứ nhất chưa hữu hiệu với tất cả học
sinh “nghiện” điện tử tôi tiếp tục mời phụ huynh của những học sinh còn
ham chơi điện tử đến văn phòng nhà trường trao đổi. Tôi thẳng thắn đề nghị
các bậc phụ huynh: con cái là vốn tài sản quý giá nhất đối với người làm
cha, làm mẹ. Các bậc phụ huynh có thể làm tất cả vì con mình không? Có,
vậy thì xin các bác giành cho các con của mình sự quan tâm hơn nữa, sát
sao hơn nữa, động viên hơn nữa, phân tích, định hướng cho các cháu để các
cháu học tập nghiêm túc. Các phụ huynh bỏ ra 30 phút mỗi sáng để theo sau
chân các cháu đến trường như những vị mật thám chuyên nghiệp. Nếu các
cháu bỏ học vào quán điện tử các bác có thể xử lí ngay. Tôi tin rằng bị cha
mẹ bắt quả tang như vậy cùng với sự phân tích, định hướng chắc chắn các
cháu sẽ không giám tái phạm, bỏ chơi, chú tâm vào học tập.
Còn tôi, tôi chủ động gặp Trưởng ban nền nếp trao đổi về tình hình lớp,
đề nghị Ban nền nếp phối kết hợp với giáo viên chủ nhiệm, xử lí nghiêm nếu

chưa kịp nói gì mẹ Niên đã nghẹn ngào: “Tôi xật số khổ cô giáo à, người ta
mười đứa xì nên, tôi một đứa mà khơng nên, khổ cả cho cô giáo, tôi xật là
chả biết nên làm răng cô giáo à…”. Tôi mời chị vào văn phòng trao đổi,
thống nhất biện pháp giáo dục Niên. Các bạn kia đã bỏ chơi điện tử, chú
tâm học tập chỉ còn Niên là vẫn tìm mọi cách để được chơi nghĩa là cháu đã
quá ham - “nghiện”. Vậy gia đình và nhà trường phải làm quyết liệt hơn:
Phải cho Niên lao động. Gia đình cho cháu tạm nghỉ học khoảng một tuần
để cháu tham gia lao động. Trong quá trình lao động làm cho con người
tavui hơn, có được nhiều sự sáng tạo, đồng thời giúp con người quên đi
niềm ham mê đời thường theo hướng tiêu cực. Mặt khác, lao động thấm mệt
cháu sẽ nhận ra được giá trị của việc học .
Cha mẹ nào chẳng xót con nhưng thương con là phải giáo dục, định
hướng đúng đắn cho con. Chị theo dõi biểu hiện của cháu, gần gũi phân tích
việc đến trường học tập là cần thiết, đây là tuổi con được học tập, sau này
quá tuổi muốn được đến trường cũng không được nữa. Lao động nào theo
hình thức nào cũng quý nhưng lao động chân tay rất vất vả. Con lao động
giỏi nhưng không có trình độ văn hoá ( mù chữ) xã hội, bè bạn sẽ có cái
nhìn khác về con… Sau gần mười ngày lao động vất vả (làm phụ hồ) Niên
nhận ra giá trị của việc học, muốn trở lại trường hứa và với mẹ sẽ học tập
nghiêm túc.
Tôi vui mừng đón Niên trở lại lớp, phấn khởi thông báo với lớp về sự
tỉnh ngộ của Niên, lớp cũng rất vui. Những tưởng, Niên đã tỉnh ngộ, chọn
đúng con đường cần phải đi đâu ngờ tuổi trẻ thiếu nghị lực, không vượt qua
được những cám dỗ đời thường. Sau ba tuần đến trường nghiêm túc, Niên
lại tái phát bệnh cũ. Tôi gần như tuyệt vọng, buông xuôi!
Mặc dù biện pháp này chưa phải là hữu hiệu đối với Niên nhưng nó có
tác động không nhỏ đến nhận thức của Niên. Em đã nhận thức được giá trị
của việc học và việc lao động vất vả như thế nào nghĩa là Niên thuộc tuýp
8


mẹ nghèo rưng rưng, chị nghẹn ngào không rõ tiếng: “nhưng bây giờ …cô
giáo ơi … nó khơng còn được như trước nữa…Tiền nộp học, đặc biệt là tiền
chơi Gem thì cháu lấy ở đâu ạ, chị vẫn nghẹn ngào: “anh chị nhịn ăn, nhịn
mặc dành cho nó thiếu xì nó xin ông bà, chú bác…nó còn bảo là bạn cho
nó…Hỏi về phương pháp, tôi biết được gia đình giáo dục Niên chưa đúng
cách. Hỏi thêm một vài nhà hàng xóm tôi đã hiểu cơ bản về con người Niên:
Ngoan ngoãn, siêng năng, thương cha mẹ, chịu khó học tập nhưng đây là
giai đoạn có nhiều thay đổi về tâm sinh lí, dễ sa ngã, thiếu ý chí… Từ đáy
- Ở mục 2.3. Đoạn: “Một số nội dung … ý chí vươn lên” tác giả tham khảo
từ TLTK số [1].
9


lòng tôi thực sự cảm thông hoàn cảnh gia đình anh chị và mong muốn giáo
dục được Niên.
Tôi lên kế hoạch và thực hiện. Trước hết tôi thay đổi biện pháp giáo dục,
“cương” sẽ không phù hợp với Niên mà phải chuyển sang “nhu”. Quan tâm,
động viên, tâm sự, phân tích đúng sai, nên không nên, gần gũi em như một
người mẹ, người chị, người bạn mỗi ngày. Mặt khác, tôi nhờ một bạn trong
lớp gần nhà Niên sáng sớm sang gọi Niên cùng đi học. Tôi đề nghị giáo
viên bộ môn thường xuyên hỏi han, động viên, giúp đỡ Niên. Những bạn
học tốt và cán sự lớp kèm cặp cho Niên, tạo môi trường cho Niên được hoạt
động. Vì có năng khiếu thể thao, tôi phối kết hợp với Đoàn thanh niên của
trường, Đoàn thanh niên của làng Minh Tiến, bầu Niên là đội trưởng đội
bóng chuyền để Niên có môi trường lành mạnh vui chơi, hoạt động và được
khẳng định mình. Tôi treo giải thưởng cho phong trào TDTT chào mừng
26/3 để khích lệ Niên.
Tranh thủ tối đa thời gian gần gũi Niên, nói chuyện, phân tích về gia
đình, về bố mẹ, các chị, định hướng tương lai cho Niên… nhằm tác động
vào tình cảm, vào ý chí của Niên. Đồng thời, tôi thường xuyên kiểm tra bài

trì, phải xuất phát từ đạo đức nghề nghiệp, từ mong muốn cháy bỏng giáo
dục, uốn nắn học sinh. Có như vậy thì chúng ta nhất định sẽ thành công!
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Với những biện pháp giáo dục học sinh nghiện điện tử trình bày ở trên,
tôi đã áp dụng giáo dục vào nhiều trường hợp học sinh trong các khóa chủ
nhiệm. Đồng thời chia sẻ cho các đồng nghiệp trong lớp chủ nhiệm cũng có
học sinh nghiện điện tử đều rất thành công. Các em đã vượt qua ngoại cảnh,
quay trở lại là một học sinh ngoan, sống có lí tưởng, có hoài bão, hoàn
thành tốt chương trình giáo dục phổ thông, trở thành công dân có ích cho xã
hội.
Về phía nhà trường cũng bổ sung thêm phương pháp giáo dục đối với
học sinh cá biệt cá hiệu quả và triển khai trong tổ chủ nhiệm.
Cụ thể là khóa học 2009 - 2012 có bốn học sinh như đã nêu trên, đặc
biệt là em Phạm Văn Niên. Khóa học 2012 - 2015 có trường hợp em Quách
Phi Dũng, Phạm Văn Điện, có nữ học sinh Phạm Thị Phương. Khoá học
2015 - 2018, có em Trần Văn Anh, Phạm Quang Huy. Lớp của đồng nghiệp
Lê Văn Dương, khóa học 2011 - 2014 có trường hợp em Phạm Văn Quang,
Nguyễn Mạnh Hiếu; khóa học 2015 - 2017, lớp đồng chí Ngô Thị Tuyết có
em Phạm Anh Chiến… với tất cả những học sinh “nghiện” điện tử nêu trên
chúng tôi đều đã áp dụng các biện pháp giáo dục trên và đều thành công.
Các em hầu hết đã trưởng thành, làm nhiều công việc khác nhau. Em Phạm
Anh Chiến đang chuẩn bị kết thúc bậc học THPT. Em Phạm Văn Điện là y tá
bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Lặc. Thỉnh thoảng cô trò gặp nhau trong
bệnh viện, em rất quan tâm và có thái độ chăm sóc rất tận tình, chu đáo. Tôi
theo dõi và thấy với tất cả các bệnh nhân trong phòng bệnh em đều rất tận
tâm. Em Phạm Văn Quang hiện là công an xã Thạch Lập, các học sinh khoá
sau ở cùng xã cho biết, anh Quang công an xã Thạch Lập xử lí công việc rất
hợp tình, hợp lí…Còn Niên, em không thực hiện được mơ ước là bác sĩ để
chữa bệnh cho bố nhưng em hiện là một ông chủ nhà may lớn ở Phú Thọ,
cũng có điều kiện để phụ giúp bố mẹ trong cuộc sống, qua zalo cô trò hay



Đó là một vài dòng chuyện trò trên zalo của tôi và Niên.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Tôi thiết nghĩ, một xã hội phát triển hay không đều phụ thuộc vào nhân
tố con người ngược lại con người có ích cho xã hội hay không lại phụ thuộc
vào quá trình giáo dục kết hợp với ý thức của họ. Trong xã hội ta ngày nay,
người có ích cho xã hội là người có tri thức, có đạo đức. Vậy muốn có điều
đó đòi hỏi con người phải thật sự cố gắng tích lũy kiến thức, bồi dưỡng tri

18


thức, rèn rũa nhân cách đạo đức. Vậy tri thức, đạo đức chính là gốc rễ cho sự
phát triển của xã hội.
Môi trường tốt nhất cho sự tích lũy kiến thức và rèn rũa đạo đức
không đâu bằng được học tập trong các nhà trường. Lứa tuổi phù hợp nhất
để thực hiện điều đó chính là lứa tuổi học sinh, đặc biệt là học sinh THPT,
ngưỡng cuối cùng để bước sang một bậc học mới hoặc vươn ra cuộc đời.
Bởi những lẽ đó các thầy giáo, cô giáo hãy bằng tất cả tri thức, kỹ năng,
bằng lương tâm đạo đức nghề nghiệp, bằng tình yêu thương, nghĩa vụ và
trách nhiệm hãy dạy tri thức và rèn rũa, uốn nắn đạo đức cho các em.
3.2. Kiến nghị
Để nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là giáo dục học sinh
“nghiện” điện tử đạt hiệu quả cao hơn, tôi mạnh dạn đề đạt một số kiến nghị
sau:
Một là: Đối với Ban Giám Hiệu nhà trường: Khách quan trong đánh
giá lớp chủ nhiệm và giáo viên chủ nhiệm. Cần bám sát vào từng nhiệm vụ
cụ thể để xem xét, đánh giá, động viên, khích lệ thầy trò trong quá trình dạy

lực các em, tránh tình trạng coi trọng vật chất. Luôn bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ sư phạm để luôn vững vàng, chủ động truyền thụ kiến một cách
thức hấp dẫn nhất đến học sinh. Có tinh thần phối kết hợp với giáo viên chủ
nhiệm trong công tác giáo dục, uốn nắn học sinh.
Bốn là: Đối với bạn bè: Tuyệt đối không được kì thị, xa lánh, cô lập, bè
phái mà phải gần gũi, phân tích đúng sai cho bạn, động viên, giúp đỡ để bạn
nhận thức đúng, vượt qua sai lầm trở về với tập thể cùng học tập và cùng
tiến bộ.
Năm là: Đối với bản thân học sinh “nghiện” điện tử: Các em phải
nhận thức được thầy cô, cha mẹ, bạn bè chỉ tác động tích cực đến các em.
Bản thân các em phải có nhận thức đúng đắn, có mong muốn được thay đổi,
được tiến bộ. Nếu không có được điều đó thì không có nhà giáo dục tài ba
nào có thể giáo dục thành công học sinh “nghiện” điện tử. Do đó giáo viên
chủ nhiệm, gia đình phải tác động sao cho các em có sự tự nhận thức, tự
chuyển biến trong tư tưởng thì khi đó các em sẽ hợp tác tích cực và công tác
giáo dục sẽ thành công.
Sáu là: Đối với gia đình có con “nghiện” điện tử: Luôn sát sao, quan
tâm, động viên, nhắc nhở các con, giành nhiều thời gian quản lí, kiểm tra
việc học và sinh hoạt của các con. Chủ động phối kết hợp với nhà trường để
nắm bắt tình hình học tập, rèn luyện đạo đức của con em. Có thể thay đổi
biện pháp giáo dục con em : cương, nhu linh hoạt sao cho phù hợp và mang
lại hiệu quả cao.
Bảy là: Đối với xã hội: Phải tích cực, tự giác trong việc bảo vệ cái tốt,
cái tích cực, đấu tranh phòng trừ cái xấu, cái tiêu cực. Tôn trọng những
người làm công tác giáo dục, có nhiều chính sách ưu tiên hơn nữa đối với
nhà giáo. Tạo nhiều dư luận tích cực để hạn chế tối đa tình trạng học sinh
“nghiện” điện tử.
Khi làm được tất cả những điều đó thì tôi tin chắc rằng dù có gian nan
đến đâu chúng ta vẫn có thể giáo dục được những học sinh thân yêu của
mình!

………………………………………….......
1.1. Lí do chọn đề tài
……….. 1
…………………………………………....
1.2. Mục đích nghiên cứu …………………………......
……….. 2
………….
1.3. Đối tượng nghiên cứu .………………………........
……….. 2
…………
1.4. Phương pháp nghiên cứu …………………….......
………. 2
…………...
II. NỘI DUNG ……………..………………….........….....
………. 2
………….…
2.1. Cơ sở lí luận ….....
………. 2
……………………………………………
2.2. Thực trạng vấn đề ..
……… 4
………………………………………...…
2.3. Những giải pháp đã áp dụng để giải quyết vấn đề
……… 6
……………
2.4. Hiệu quả của đề tài ..…………………………………... ……… 11
………
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ …………………………............ …….. 18
……..
3.1. Kết luận ………………………………………….


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status