Kinh nghiệm chỉ đạo giáo viên bộ môn ngữ văn thực hiện dạy học kiến thức liên môn cho bài “ mùa xuân của tôi” – vũ bằng , trong chương trình ngữ văn 7 nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh ở trường THCS trường lâm - Pdf 51

I – MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống người dân đang dần được cải thiện.
Điều đó tác động không nhỏ đến công tác giáo dục, tạo động lực cho việc
chúng ta tìm ra nhân tài cho đất nước thông qua việc các em hứng thú học và
cảm thụ các giờ văn. Nhưng trước sự mở cửa của đất nước trong xu thế hội
nhập về kinh tế thì vị trí môn Ngữ văn trong nhà trường ngày càng bị xem
nhẹ, đặc biệt là đối với học sinh, học văn các em xem như là một sự ép buộc
(nhất là trong việc lựa chọn học sinh giỏi đi dự thi HSG môn Ngữ văn cấp
Huyện, trước định hướng của phụ huynh học sinh các em càng ngại và không
muốn đi thi HSG môn này). Cũng vì thế mà hiện nay chúng ta có thể thấy có
một số em rất giỏi về làm kinh tế hay giỏi về nhiều ngoại ngữ nhưng không
thể hiểu nổi ý nghĩa của một câu ca dao, tục ngữ đơn giản; không biết cách
viết một câu đơn theo đúng nghĩa của nó. Là một giáo viên dạy môn Ngữ văn,
hẳn mỗi lần chấm bài làm của học sinh chúng ta phải bật cười vì những câu
không có nghĩa, hay trên lớp khi dạy học xong một bài văn bản, bài thơ…
chúng ta cho học sinh phát biểu cảm nghĩ của mình với bài vừa học thì khi
phát biểu của các em vừa dứt cũng là tràng cười của cả lớp ngả nghiêng, thế
nhưng cũng đằng sau tiếng cười ấy lại là một nỗi chua xót đắng cay và những
giọt nước mắt cảm thấy hổ thẹn thay vì sản phẩm ấy là của mình. Vì vậy, công
việc dạy học đối với giáo viên Ngữ văn đòi hỏi làm sao phải lôi cuốn được
học sinh ham thích tiết học văn bản để từ đó viết bài văn, tự nguyện đăng kí
được dự thi học sinh giỏi môn Ngữ văn từ cấp trường trở lên, đó là một việc
làm thường xuyên của giáo viên nói chung đặc biệt đối với giáo viên dạy môn
Ngữ văn. Đây là một công việc mà người dạy học có thể đánh giá mức độ
thành thạo về kĩ năng, mức độ tiếp thu kiến thức và tâm thế sau tiết học của
học sinh, qua đó mà chúng ta có thể phần nào tự đánh giá công việc dạy học
của mình và có biện pháp điều chỉnh sao cho hợp lí, phù hợp với tình hình học
tập của học sinh.
Tuy nhiên, không phải lúc nào bộ môn Ngữ văn cũng lôi cuốn hứng thú
đối với học sinh và tất cả học sinh cũng được giáo viên quan tâm đúng mức.

các công văn hướng dẫn của Ngành, căn cứ tình hình thực tiễn của giáo viên
bộ môn họp bàn để xây dựng tiết dạy cho đồng nghiệp của mình
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin : bằng phiếu
nhằm thu thập thông tin về thực trạng học sinh thụ động và ít hứng thú với
việc học môn Ngữ văn qua đó xác định nguyên nhân của thực trạng làm cơ sở
cho việc xác lập các biện pháp nhằm gây hứng thú cho HS
- Phương pháp thống kê, so sánh và đối chiếu: nhằm nổi bật kết quả đạt được
trước và sau khi áp dụng bài dạy.
- Phương pháp quan sát : nhằm thu thập các biểu hiện sinh động, khách quan
về thái độ, hứng thú cũng như mức độ tham gia hoạt động trong giờ học của
học sinh
- Phương pháp thử nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm nhằm mục đích
kiểm tra kết quả của việc sử dụng các kiến thức liên môn theo qui trình thiết
kế trong bài giảng để điều chỉnh sao cho phù hợp.

2


II – NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1/ Cơ sở lí luận của Sáng kiến kinh nghiệm
Nghị quyết TW 4 khoá VII, Nghị quyết TW 2 khoá VIII và được pháp
chế hóa trong Luật Giáo dục ( sửa đổi) như sau:
Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp
giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy
sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và
phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời
gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học.”
Điều 24.2. Luật Giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh; phù hợp với đặc
diểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ

học sinh theo phương pháp dạy học tích cực, xác định các năng lực và phẩm
chất có thể hình thành cho học sinh trong mỗi chuyên đề đã xây dựng.
3


- Biên soạn câu hỏi/bài tập: Với mỗi chuyên đề đã xây dựng, xác định và
mô tả 4 mức độ yêu cầu (nhận biết, thông hiểu, vận dụng cấp độ thấp, vận
dụng cấp độ cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử dụng để kiểm tra,
đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh trong dạy học.
- Thiết kế tiến trình dạy học: Tiến trình dạy học chuyên đề được tổ chức
thành các hoạt động dạy học của học sinh để có thể thực hiện trên lớp và ở
nhà, mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ thực hiện một số hoạt động trong tiến
trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy học được sử dụng.
- Tổ chức dạy học và dự giờ: Trên cơ sở các chuyên đề dạy học đã xây dựng,
tổ/nhóm chuyên môn phân công giáo viên thực hiện bài học để dự giờ,
phân tích và rút kinh nghiệm về giờ dạy. Khi dự giờ, cần tập trung quan sát
hoạt động học của học sinh thông qua việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ
học tập với yêu cầu như sau:
- Chuyển giao nhiệm vụ học tập: nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp
với khả năng của học sinh, thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà học sinh phải
hoàn thành khi thực hiện nhiệm vụ; hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp
dẫn, kích thích được hứng thú nhận thức của học sinh; đảm bảo cho tất cả học
sinh tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ.
- Thực hiện nhiệm vụ học tập: khuyến khích học sinh hợp tác với nhau
khi thực hiện nhiệm vụ học tập, phát hiện kịp thời những khó khăn của học
sinh và có biện pháp hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; không có học sinh bị "bỏ
quên".
- Báo cáo kết quả và thảo luận: hình thức báo cáo phù hợp với nội dung
học tập và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng; khuyến khích cho học sinh
trao đổi, thảo luận với nhau về nội dung học tập, xử lí những tình huống sư

nhận về học môn Ngữ văn, tôi thu được kết quả :
Lớp
Sĩ số
Thái độ , tình cảm đối với môn Ngữ văn
Yêu thích
Bình thường
Không thích
7A
36
16 (44,4%)
14(38,9%)
6(16,7%)
7B
37
10(27,02%)
10(27,02%)
17(45,96%)
7C
36
11(30,55%)
14(38,9%)
11(30,55%)
Tổng
109
37(33,94%)
38(34,86%)
34(31,2%)
* Chất lượng HSG môn Ngữ văn K6,7,8 cấp Huyện năm học 20152016 đạt được như sau :
Số HS
dự thi

3.1. Giải pháp thực hiện
Tôi chỉ đạo tổ Chuyên môn thực hiện những giải pháp sau :
(1) Dự giờ đúc rút kinh nghiệm
(2) Lựa chọn - xây dựng nội dung kiến thức đưa vào bài phù hợp với bài dạy.
(3) Thử nghiệm sư phạm
(4)Chỉ đạo, tổ chức thực hiện
3.2. Các biện pháp đã tổ chức thực hiện
3.2.1. Về dự giờ đúc rút kinh nghiệm
Vấn đề này đã được tất cả giáo viên trong nhà trường thực hiện theo
nhiệm vụ được giao ngay từ đầu năm học trong Hội nghị công chức: mỗi giáo
viên dự giờ ít nhất 01 tiết/ tuần ( 15 tiết/ học kì). Lâu nay việc dự giờ chúng ta
thường xem nhẹ, sổ dự giờ chúng ta chỉ ghi cho đủ số tiết theo quy định để
kiểm tra về mặt hồ sơ cho nên phần Rút kinh nghiệm trong sổ dự giờ về Ưu
điểm và Nhược điểm giáo viên ghi chép rất sơ sài chiếu lệ; mặt khác khi dự
giờ đồng nghiệp giáo viên chỉ chú ý nhiều đến trọng tâm kiến thức, thời gian
giáo viên phân chia cho từng phần…ít chú ý đến thái độ học sinh học như thế
5


nào kể cả giáo viên dạy khi có người dự thường ít chú ý đến học sinh yếu
trong lớp, chỉ chăm chăm mời học sinh từ khá trở lên để xây dựng bài cho tốt,
không bị cháy hay lụt giờ dạy. Vì vậy, tham khảo hướng dẫn dự giờ theo tinh
thần công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2014của Bộ Giáo dục và
Đào tạo và công văn số 1976/SGDĐT- GDTrH của Giám đốc Sở GD& ĐT
Thanh Hóa ngày 20 tháng 10 năm 2014 tôi chỉ đạo giáo viên đi dự giờ, ngoài
việc bám nhận xét theo yêu cầu chung của mọi tiết dự đánh giá về : Nội dung;
Phương pháp; Phương tiện, Tổ chức; Kết quả phải chú ý nhiều đến thái độ
và tâm thế học sinh trong giờ học theo hướng dẫn số 572/HD- SGDĐT của
Giám đốc Sở GD & ĐT Thanh Hóa kí ngày 29 tháng 3 năm 2017 sẽ thực
hiện kể từ năm học 2017-2018 (Giờ dạy trong hội thi giáo viên dạy giỏi các

8. Mức độ hiệu quả hoạt động của giáo viên trong việc tổng
hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thảo
luận của học sinh.
9. Khả năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học
tập của tất cả học sinh trong lớp.
Hoạt
10. Mức độ tích cực, chủ động, sáng tạo, hợp tác của học
động học sinh trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập.
của học
11. Mức độ tham gia tích cực của học sinh trong trình bày,
trao đổi, thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập.
sinh
12. Mức độ đúng đắn, chính xác, phù hợp của các kết quả
thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh.
Cộng

Điểm
đánh giá

Điểm
tối đa

1
1
1
1
2
2
2
2

Bước 2 : Đưa ra tổ cùng thảo luận và bổ sung.
Bước 3 : Chọn phương án dạy là bài giảng điện tử trình chiếu trên Poweppoint
Những kiến thức liên môn được lựa chọn sử dụng cho Văn bản :
Tiết 63 : MÙA XUÂN CỦA TÔI – Vũ Bằng
được thể hiện như sau :
* Âm nhạc
Giúp học sinh cảm nhận sức sống cảnh vật, con người xuân sang tràn trề sự sống,
tạo tiết học Văn bản bút kí có chất nhạc rộn ràng
Cụ thể : Lựa chọn bài hát có nội dung phù hợp với văn bản : Mùa xuân của tôi.

7


Mục đích : tôi chỉ đạo đưa Âm nhạc vào mở đầu trong bài dạy vì đây là văn
bản bút kí nên nó rất khô khan khi học sẽ gây sự ngại học với thể loại này, sẽ
giúp cho học sinh hứng thú ngay từ đầu giờ, các em sẽ có tâm thế hứng khởi,
hăng say xây dựng bài qua các ca từ ngay từ đầu bài hát : « Rồi dặt dìu mùa
xuân theo én về, mùa bình thường mùa vui nay đã về, mùa xuân mơ ước ấy
đang đến đầu tiên, với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông một
trưa nắng cho bao tâm hồn. Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về, người mẹ nhìn
đàn con nay đã về, mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên….. »

Ở phân môn Lịch sử và địa lí tôi chỉ đạo lựa chọn hình ảnh bản đồ đất nước ta
phù hợp trong giai đoạn lịch sử ( 1954- 1975)
Mục đích :
- Cảm thương sự đau thương chia cắtcủa dân tộc lúc bấy giờ.
- Nắm được địa danh vĩ tuyến17 sông Bến Hải và cầu Hiền Lương thuộc tỉnh
nào? Vị trí địa lí ?
- Các em có thể so sánh với những lược đồ được học trong thời điểm hiện nay có
những chú thích khác nhau như thế nào.

nội dung bài học, từ đó thêm yêu quê hương, đất nước mình, ý thức được trách
nhiệm của mình với quê hương.
* Tích hợp giáo dục môi trường
- Giáo dục các em biết bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, môi trường sống cho thiên
nhiên – mùa xuân luôn được trường tồn.
GIÁO ÁN CỤ THỂ:

Tiết 63: Văn bản MÙA XUÂN CỦA TÔI – Vũ Bằng
I-MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Kiến thức
* Môn Ngữ văn
- Cảm nhận ®ược nét đặc sắc riêng của cảnh sắc mùa xuân của Hà
Nội và Miền Bắc qua lòng “ sầu xứ”, tâm trạng day dứt của tác giả .
- Thấy được sự kết hợp tài hoa giữa miêu tả và biểu cảm trong văn bản
tùy bút ; lời văn thấm đẫm cảm xúc trữ tình, dạt dào chất thơ.
- Cảm nhận được tình yêu quê hương đất nước tha thiết, sâu đậm của tác
giả được thể hiện qua ngòi bút tài hoa, tinh tế, giàu cảm xúc, hình ảnh.
* Môn Lịch sử:
Khơi gợi, liên hệ tới những đặc điểm tình hình cơ bản nhất của lịch sử nước
ta giai đoạn 1954- 1975.
* Môn Giáo dục công dân
Góp phần giáo dục củng cố kiến thức về truyền thống, yêu nước, giáo dục
lí tưởng sống.
2. Kĩ năng
* Môn Ngữ văn
- Đọc – hiểu văn bản tùy bút- bút kí được sáng tác trong hoàn cảnh đất
nước bị chia cắt.
- Vận dụng kiến thức về thể loại và sự kết hợp các phương thức biểu đạt
trong tác phẩm truyện để cảm nhận một văn bản tùy bút-bút kí.
- Kỹ năng: giao tiếp, ra quyết định trước một vấn đề, một tình huống cần

Nam, những nỗi nhớ da diết về quê hương, gia đình và lòng mong mỏi đất nước
hòa bình, thống nhất.
II. CHUẨN BỊ
- Giáo viên: Giáo án điện tử, tranh ảnh, tư liệu liên quan đến bài học...
- HS: soạn bài theo câu hỏi SGK, sưu tầm tư liệu liên quan đến bài học...
III. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1. Ổn định lớp : Gv kiểm tra sĩ số HS
2. Kiểm tra bài cũ: Em hãy nêu vài cảm nhận của em về “ Một thứ quà của
lúa non- Cốm” của nhà văn Thạch Lam
3. Bài mới
- GV tích hợp KT Âm nhạc: cho HS nghe một đoạn bài hát: “ Mùa xuân đầu
tiên” của Văn Cao.
- GV dẫn dắt: Có lẽ mùa xuân là đề tài gợi nhắc nhiều xúc cảm đối với văn
nghệ sĩ. Vũ Bằng là một trong cây bút viết hay, viết sâu sắc về mùa xuân bằng
giọng văn tinh tế và đầy chất thơ. Với sở trường tùy bút và bút kí ông đã vẽ lên
bức tranh mùa xuân đất Bắc tuyệt vời qua “Mùa xuân của tôi” chúng ta sẽ cùng
tìm hiểu ở bài học hôm nay.
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY TRÒ
Hoạt động 1
- GV cho HS quan sát chân dung Vũ Bằng.

YÊU CẦU CẦN ĐẠT
I. TÌM HIỂU CHUNG
1.Tác giả
10


- Vũ Bằng: (1913-1984)
- Quê: Hà Nội
- Là nhà văn, nhà báo

chia đoạn, vậy đoạn trích chia thành mấy
đoạn?Nội dung của từng đoạn?.
Gợi ý trả lời:
Bố cục: 3 đoạn:

c. Phương thức biểu đạt: Biểu cảm
– trong một tác phẩm văn xuôi trữ
tình.
3. Đọc – tìm hiểu chú thích:

4. Bố cục: 3 đoạn.

11


+ Đ1: Từ đầu đến “mê luyến mùa xuân” : Tình
cảm của con người với mùa xuân là một qui
luật tự nhiên tất yếu.
+ Đ2: Từ : “Tôi yêu” đến “ mở hội liên hoan”:
Cảnh sắc và không khí mùa xuân ở đất trời và
trong lònh người.
+ Đ3: Còn lại: Cảnh sắc riêng của trời đất mùa
xuân từ khoảng sau ngày rằm tháng riêng.
- GV chiếu đáp án trên màn hình
Hoạt động 2
- GV chiếu đoạn 1( theo bố cục ) lên màn hình.
Học sinh đọc đoạn 1
H. Tình cảm của con người với mùa xuân
được tác giả biểu hiện như thế nào? Tìm chi
tiết hình ảnh cụ thể?


GV tích hợp kiến thức Mĩ thuật
12


H. Bức tranh mô tả cảnh gì ? Qua bức tranh
em cho biết cảm xúc của tác giả hướng về đâu
và là cảm xúc gì ?
Gợi ý trả lời:
- Bức tranh mô tả cảnh bàn thờ trong gia đình
của người dân Hà Nội vào ngày tết.
- Cảm xúc hướng về cội nguồn và không khí
gia đình đoàn tụ đầm ấm.
GV tích hợp kiến thức GDCD
Giáo dục lòng biết ơn tổ tiên hướng về cội
nguồn trong mỗi học sinh
GV cho HS quan sát một số hình ảnh đặc trưng
về mùa xuân vừa trình chiếu giới thiệu: Đây là
những không gian giao thoa trời đất chuyển
mùa và rực rỡ sắc xuân của mọi miền Tổ quốc.
(GV chiếu tranh tích hợp KT Mĩ thuật)

+ Cảnh sắc:
- Hình ảnh: mưa riêu riêu,ấm áp
nồng nàn khí xuân, đêm xanh
- Âm thanh: tiếng nhạn, tiếng trống
chèo, tiếng hát huê tình.
GV chiếu đoạn văn: Mùa xuân của tôi…thơ -> Sức sống mùa xuân trong lòng
mộng.
người

nhiên và con người như thế nào?. Những tình
cảm gì nổi dậy mạnh mẽ trong lòng tác giả khi
mùa xuân đến?
H: Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật
nào trong các đoạn văn.
- GV chiếu đoạn văn:
H. Em có nhận xét gì về nghệ thuật , giọng
điệu, ngôn ngữ và dấu hiệu câu trong đoạn
văn?. Việc sử dụng biện pháp nghệ thuật như
vậy có tác dụng gì?.
GV nhận xét và chốt kiến thức.
Gợi ý trả lời:
- Biện pháp nghệ thuật so sánh.
- Từ ngữ khẳng định, động từ mạnh.
- Câu dài ngắt nhịp bằng dấu phẩy
GVBình và chiếu tranh minh họa:
Đoạn văn trên cho thấy sự chuyển biến diệu kì
14


sức sống mãnh liệt của thiên nhiên và con
người khi mùa xuân về. Xuân đến như mang
một luồng không khí mới, một hơi thở mới thổi
vào muôn, vật muôn loài làm cho nhựa sống
tràn trề, bừng bừng trỗi dậy, vụt lên một cách
mãnh liệt. Qua lời văn chúng ta cảm nhận được
niềm xúc động đang trào dâng trong lòng tác
giả. Sự ngưỡng mộ,trân trọng và tình yêu sâu
sắc củaVũ Bằng đối với mùa xuân đất Bắc. Đó
cũng chính là cội nguồn của tình yêu quê

+ Miªu t¶ tinh tÕ
H. Emcó nhận xét gì về BPNT?.
H. Em cảm nhận được gì về cảnh sắc mùa xuân -> Sự biến chuyển của thiên nhiên
Miền Bắc sau ngày rằm tháng riêng qua ngòi sau rằm tháng giêng trong một
bút tài hoa , tinh tế của tác giả?.
khoảng thời gian không đổi.
-GV nhận xét chung.
GV tích hợp kiến thức GDCD
H. Trước cảnh sắc thiên nhiên và không khí
mùa xuân như vậy, chúng ta nên làm gì để giữ
mãi sự trẻ trung, tươi đẹp của mùa xuân.
GV lồng GD: Gợi lên cho người đọc tình
yêu thiên nhiên, tình yêu mùa xuân, yêu cuộc
15


sống, bảo vệ bầu không khí trong lành của
thiên nhiên.
III . TỔNG KẾT
Hoạt động 3
H. Em hãy tóm lược những nét chính về nghệ 1. Nghệ thuật
- Trình bày nội dung văn bản theo
thuật của văn bản?
mạch cảm xúc lôi cuốn, say mê.
- Lựa chọn từ, ngữ, câu văn linh
hoạt, biểu cảm, giàu hình ảnh.
- Có nhiều so sánh, liên tưởng phong
phú, độc đáo, giàu chất thơ.
H. Em cảm nhận những gì sâu sắc nhất từ 2. Nội dung
- Tình cảm tự nhiên đối với mùa



Mùa xuân đang đến GV gửi lời chúc tới gia đình
HS nói riêng và tất cả mọi người nói chung an
lành, hạnh phúc.

4.Hướng dẫn về nhà:
- Sưu tầm và chép lại một số đoạn văn, câu thơ hay về mùa xuân ?
- Học thuộc nghi nhớ và một đoạn em yêu thích trong văn bản.
- Tìm đọc tập tuỳ bút : Thương nhớ mười hai.
- Soạn : Bài “Sài Gòn tôi yêu”.
IV. RÚT KINH NGHIỆM SAU GIỜ DẠY:..........................................................
3.2.3. Thử nghiệm sư phạm
Sau khi hoàn thành giáo án có sử dụng kiến thức liên môn ( Địa lí. Lịch sử,
âm nhạc...), tôi chỉ đạo giáo viên Phạm Thị Anh Kim – người xây dựng bài chính
đứng lớp cho giáo viên đi dự và góp ý.
Yêu cầu: Tiết dạy không “ mớm” bài trước cho HS, để giờ học diễn ra một cách tự
nhiên, dạy theo thời khóa biểu và Lịch báo giảng, không gây xáo trộn công tác
chuyên môn trong nhà trường.. có như vậy mới đánh giá đúng mức sự tiếp thu và
có hứng thú hay không đối với bài dạy có sử dụng kiến thức nhiều bộ môn.

Kết quả thu được:
- Học sinh yếu quan sát tranh nhận biết được các loài hoa đặc trưng: mai, đào,
các lễ hội của dân tộc, không khí đặc trưng của mùa….
- Học sinh giơ tay xây dựng bài sôi nổi.
- Học sinh đứng tại chỗ trình bày bài nói ở phần Luyện tập tự nhiên, không rụt
rè, bộc lộ cảm xúc, tình cảm xúc động, chân thành như em Thảo Vân(7B),
Ngọc Huyền ( 7 A ), Xuân Quyết ( 7C)…
- Tiết học kết thúc trong tâm trạng luyến tiếc không dài và mong mauhết giờ.


7B
37
34(91.89%)
4(8.11%)
0
7C
36
33(91.66%)
3(8.34%)
0
Tổng
109
101(92.66%)
8(7.34%)
0
Bảng số liệu trên đã cho thấy : Sự yêu thích môn học đã thay đổi đột ngột,
từ đó giúp giáo viên môn Ngữ văn nói riêng và giáo viên ở các bộ môn nói
chung phải tự bồi dưỡng phương pháp và kiến thức cho mình nếu như không
muốn bị học sinh đào thải trong xu thế thời đại của công nghệ thông tin và
"Công nghiệp 4.0" (Industrie 4.0).
Qua chỉ đạo tích hợp kiến thức liên môn đã được kiểm nghiệm sư phạm,
giáo viên lên lớp có ý thức sử dụng kiến thức liên môn ở nhiều tiết dạy thái độ
học sinh đã có chuyển biến rõ rệt đối với việc đón nhận môn Ngữ văn, các em
cảm nhận cái hay cái đẹp trong bài học, biết được kiến thức là vô vàn ngoài
việc thầy cô cung cấp thì tự bản thân mình phải biết tự học, tự tìm tòi. Cho
nên, môn Ngữ văn từ " mảnh đất kén hạt giống " , giờ đây học kì 2 có nhiều
em đăng kí dự thi HSG cấp trường và tiếp tục thi HSG cấp Huyện đạt kết quả
như sau trong năm học 2016- 2017 :
Khối SL dự thi SL đạtgiải Giải Nhất Giải Nhì Giải ba Giải KK Không đậu
6

0
Kết quả cho thấy : Lòng yêu mến, hứng thú học môn Ngữ văn là động lực để
các em dành tình cảm cho bài thi để có được kết quả như trên, số lượng học
sinh tham gia thi đã tăng, số lượng giải có số cũng đã tăng, điều ấy cũng là
động lực giúp giáo viên thêm yêu nghề để tìm ra" cái mới " lôi cuốn học sinh.
4.2. Hiệu quả đối với bản thân và đồng nghiệp
- Đối với bản thân(quản lí): Cần đi sâu chỉ đạo chuyên môn trên phương diện
18


toàn diện ; nắm bắt tâm tư HS để điều chỉnh cho giáo viên về phương pháp.
Bản thân mình cũng không quên về kiến thức khi làm công tác cũng là việc tự
học tự bồi dưỡng thường xuyên với người làm công tác quản lí.
- Đối với giáo viên : Sau mỗi giờ dạy cần đánh giá rút kinh nghiệm và điều
chỉnh, bổ sung vào phần IV.RÚT KINH NGHIỆM SAU GIỜ DẠY ( giáo án)
4.3. Hiệu quả đối với nhà trường.
Bám sát các công văn hướng dẫn của cấp trên đã quyết liệt chỉ đạo giáo
viên có cái nhìn toàn cục về đổi mới Phương pháp dạy học, không nên trung
thành với cách dạy " đọc chép" trước đây. Từ đó trong nhà trường đã dấy lên
phong trào thi đua dạy học có sử dụng kiến thức liên môn không chỉ ở môn
Ngữ văn mà còn ở các môn : Công nghệ, Địa lí, Hóa học, Sinh học…
Trên cơ sở thực hiện công văn hướng dẫn số: 248/PGDĐT-THCS của
PGD & ĐT Tĩnh Gia ngày 31 tháng 8 năm 2016 V/v tổ chức cuộc thi Vận
dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn và cuộc thi
Dạy học theo chủ đề tích hợp , qua thực nghiệm và kết quả thu được, tôi tiếp
tục chỉ đạo cô giáo Phạm Thị Anh Kim nghiên cứu Phiếu mô tả cho bài dạy :
Mùa xuân của tôi- Vũ Bằng và hoàn thiện bài dự thi theo kế hoạch của ngành
đề ra.
Kết quả thu được : Cô giáo Phạm Thị Anh Kim có bài dự thi được HĐKH
Ngành công nhận đạt giải khuyến khích cấp Tỉnh năm học 2016 - 2017.

- Tăng cường ý thức tự học tự bồi dưỡng thường xuyên như V.I Lê nin đã nói:
“ Học, học nữa, học mãi”.
2.2. Đối với cấp quản lí giáo dục ( cấp trường):
- Người quản lí quan tâm đến giáo viên, không nặng nề gây áp lực cho họ,
động viên , tuyên dương kịp thời khi có những kết quả tốt đóng góp cho công
tác chuyên môn nhà trường ( Tế nhị việc trì chiết những điểm yếu của giáo
viên trước đám đông, không nên trù dập nếu không giáo viên sẽ ì, có tư tưởng
chống đối…)
- Chỉ đạo tổ chức hội thảo theo cụm về tiết dạy sử dụng kiến thức liên môn để
giáo viên học hỏi liên trường và phát huy tay nghề của mình hơn nữa.
2.3. Đối với cấp phòng – Sở:
- Tổ chức Hội giảng thi Dạy học theo chuyên đề tích hợp, liên môn liên
Huyện để nhân rộng những bài dạy và cá nhân xuất sắc, mang tính khách
quan.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi qua quá trình giảng dạy
và chỉ đạo giáo viên thực hiện ở trường THCS Trường Lâm- Tĩnh Gia, mong
rằng sẽ giúp phần nhỏ cho công tác chỉ đạo chuyên môn trong việc sử dụng
kiến thức liên môn ở các trường THCS. Rất mong sự đóng góp ý kiến các cấp
lãnh đạo và các đồng nghiệp để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn.
Trường Lâm, ngày 12 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mìnhviết,
không sao chép nội dung của người khác.
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Người viết

Lữ Thị Huệ

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status