Trường Tiểu học Trưng Vương
Bài báo cáo thu hoạch
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
Trong khi cả nước đang thực hiện chương trình SGK mới, một chương
trình thống nhất trong cả nước nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Việc dạy các môn học nói chung và dạy môn
Tiếng Việt nói riêng ở Tiểu họcđang hướng tới mục tiêu chung của giáo dục.
Mỗi phân môn,mỗi tiết học của môn Tiếng Việt đều hướng đến mục đích phát
triển các kĩ năng "nghe, nói, đọc, viết " cho học sinh. Mà phân môn tập làm
văn là một trong những phân môn quan trọng của bộ môn Tiếng Việt (phân
môn thực hành tổng hợp). Bởi nó vận dụng tất cả những hiểu biết về nhận
thức, kĩ năng của phân môn đòi hỏi học sinh phát huy cao độ trí tuệ và cảm
xúc để thực hiện các yêu cầu bài học. Đặc biệt dạy văn là cần thiết giúp trẻ
sản sinh ra những văn bản có cảm xúc chân thực khi nói và viết.
2.Cơ sở thực tiễn
Thực tế cho thấy nội dung chương trình của SGK mới khác nhiều so
với chương trình cũ nên người giáo viên cần nắm bắt được phương pháp dạy
bộ môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng để giảng
dạy có hiệu quả. Hơn nữa chương trình SGK được biên soạn theo quan điểm
giao tiếp nghĩa là học sinh được luyện nói trong quá trình giao tiếp. Để dạy lý
thuyết văn nói chung và lý thuyết văn miêu tả nói riêng như thế nào để giúp
học sinh được luyện nói nhiều mà vẫn nắm bắt được kiến thức cơ bản để viết
văn đúng thể loại. Từ khái niệm về thể loại văn, học sinh vận dụng viết văn
đùng dạng bài như (miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật). Để học
sinh nắm được lý thuyết văn miêu tả người giáo viên cần sử dụng linh hoạt
các phương pháp dạy học kết hợp hình thức tổ chức dạy học phù hợp để học
sinh tự chiếm lĩnh kiến thức góp phần nuôi dưỡng và phát triển mối quan tâm
hoạt và sáng tạo.
- Tự tìm tòi, nâng cao tay nghề, đúc rút kinh nghiệm trong giảng dạy
TLV nói chung và trong dạy học sinh viết văn miêu tả nói riêng.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy Tập làm văn lớp 4.
- Tìm hiểu quan điểm biên soạn Tiếng Việt 4.
- Đề xuất các biện pháp rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4I.
IV. ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng:
- Thực trạng viết văn miêu tả lớp 4I ở trường Tiểu học Trưng Vương và
một số biện pháp rèn kỹ năng viết văn ở trường Tiểu học Trưng Vương.
GVHD: Đào Thị Thu Hảo
2
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
Trường Tiểu học Trưng Vương
Bài báo cáo thu hoạch
- Thể loại văn miêu tả lớp 4
2. Khách thể: Học sinh lớp 4I- trường tiểu học Trưng Vương.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
+ Đọc tài liệu liên quan đến đề tài
+ Nghiên cứu nội dung chương trình TLV 4 mạch kiến thức: Dạy viết
văn miêu tả.
- Miêu tả đồ vật: Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả đồ vật.
- Miêu tả cây cối: Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả
cây cối.
- Miêu tả con vật: Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả
con vật.
b) Yêu cầu kỹ năng: Chương trình TLV miêu tả (nhằm trang bị cho học
sinh những kĩ năng sản sinh ngôn bản), cụ thể:
- Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp: Nhận diện đặc điểm văn bản;
phân tích đề bài, xác định yêu cầu.
- Kĩ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp: Xác định dàn ý của bài
văn đãcho; quan sát đối tượng tìm ý và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn
miêu tả
- Kĩ năng thực hiện hoá hoạt động giao tiếp: Đối chiếu văn bản nói, viết
của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt; sửa lỗi về nội dung
và hình thức diễn đạt.
1.2. Nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 4:
Chương trình TLV lớp 4 được thiết kế tổng cộng 62 tiết/năm. Trong đó,
văn miêu tả gồm có 30 tiết
2. Cơ sở của việc dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 4
Văn miêu tả là một trong những thể loại văn rất quen thuộc và phổ biến
trong cuộc sống cũng như trong các tác phẩm văn học. Đây là loại văn có tác
GVHD: Đào Thị Thu Hảo
4
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
Trường Tiểu học Trưng Vương
môi trường giao tiếp có chọn lọc để học sinh mở rộng vốn từ theo định
hướng, trang bị những tri thức nền và phát triển các kĩ năng sử dụng Tiếng
GVHD: Đào Thị Thu Hảo
5
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
Trường Tiểu học Trưng Vương
Bài báo cáo thu hoạch
Việt trong giao tiếp. Về phương pháp dạy học, kĩ năng nói trên được dạy
thông qua nhiều bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống
giao tiếp tự nhiên.
3.2. Quan điểm tích hợp
Tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học
hay một bài tập nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm
tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học.
Có thể thực hiện tích hợp theo chiều ngang và chiều dọc.
Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức Tiếng Việt với các
mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc
đồng quy. Hướng tích hợp này được sách Tiếng Việt 4 thực hiện thông qua hệ
thống các chủ điểm học tập. Theo quan điểm tích hợp, các phân môn (Tập
đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và Câu, Tập làm văn) trước đây ít gắn bó
với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc, các
nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn kuyện kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ với
nhau hơn trước.
Việt; sách giáo khoa Tiếng Việt 4 hướng dẫn thầy, có cách thức cụ thể tổ chức
các hoạt động này.
4. Các phương pháp dạy Tập làm văn lớp 4
Trong quá trình dạy học phân môn Tập làm văn lớp 4, người giáo viên
có nhiều cách thức, nhiều con đường và nhiều phương pháp đề hình thành
kiến thức, kĩ năng cho học sinh. Theo tôi những phương pháp thường dùng để
dạy Tập làm văn lớp 4 là nhằm phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo học
sinh.
4.1 Phương pháp thực hành giao tiếp
- Khái niệm: Phương pháp thực hành giao tiếp là phương pháp dạy học
bằng sắp xếp tài liệu ngôn ngữ sao cho vừa bảo đảm tính chính xác, chặt chẽ
trong hệ thống ngôn ngữ phản ánh được đặc điểm, chức năng của chúng trong
hoạt động giao tiếp.
- Mục đích: Tận dụng vốn hiểu biết về ngôn ngữ nói của học sinh, để
học sinh cảm thấy nhẹ nhàng hơn trong việc tiếp nhận kiến thức và rèn luyện
kỹ năng học tập mới. Rèn cho học sinh tính tự tin chính kiến của mình.
- Yêu cầu HS: Khi sử dụng phương pháp thực hành giao tiếp, giáo viên
phải tạo điều kiện tối đa để học sinh được giao tiếp (giao tiếp giữa giáo viên với
học sinh, giao tiếp giữa học sinh với học sinh). Thông qua giao tiếp, giáo viên
cho học sinh nhận thấy được cái đúng, cái sai để bổ sung hoặc sửa chữa nhằm
nâng cao chất lượng, hiệu quả giao tiếp. Ngoài ra, giáo viên cần tạo không khí
lớp học vui, thoải mái để học sinh có kỹ năng giao tiếp, tự nhiên, tự tin.
GVHD: Đào Thị Thu Hảo
7
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
thức ( Giáo viên có thể làm mẫu một phần ). Sau khi làm mẫu, giáo viên tổ
chức cho học sinh quan sát mẫu và suy ra cách làm các phần tương tự còn lại.
GVHD: Đào Thị Thu Hảo
8
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
Trường Tiểu học Trưng Vương
Bài báo cáo thu hoạch
4.4. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
- Khái niệm: Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề là giáo viên đưa ra
tình huống gợi vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự
giác, tích cực chủ động và sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó mà
kiến tạo tri thức rèn luyện kỹ năng để đạt được mục đích học tập.
- Mục đích: Tăng thêm sự hiểu biết và khả năng áp dụng lý thuyết vào
giải quyết có vấn đề của thực tiễn. Nâng cao kỹ năng phân tích và khái quát từ
tình huống cụ thể và khả năng độc lập cũng như khả năng hợp tác trong giải
quyết vấn đề.
- Yêu cầu sử dụng: Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần chuẩn
bị trước đề phù hợp với nội dung bài và đảm bảo tính sư phạm. Giáo viên cần
chuẩn bị tốt kiến thức lý luận cũng như thực tiễn để giải quyết vấn đề mà học
sinh đưa ra.
4.5. Phương pháp đóng vai.
- Khái niệm: Phương pháp đóng vai trò tổ chức cho học sinh thực hành
làm thử một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Đây là
4.7. Phương pháp trực quan.
- Khái niệm: Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học trong đó
giáo viên sử dụng các phương tiện trực quan nhằm giúp học sinh có biểu
tượng đúng về sự vật và thu nhận kiến thức, rèn kỹ năng theo mục tiêu bài
học một cách thuận lợi.
- Mục đích: Thu hút sự chú ý và giúp học sinh hiểu bài, ghi nhớ bài tốt
hơn. Học sinh có thể khái quát nội dung bài và phát hiện những mối liên hệ
của các đơn vị kiến thức dễ dàng hơn.
- Yêu cầu sử dụng: Giáo viên phải hướng dẫn học sinh quan sát (Bằng
nhiều giác quan ) để học sinh hiểu và cảm nhận về đối tượng cần quan sát.
Hướng dẫn cách quan sát từ bao quát đến chi tiết, từ tổng thể đến bộ phận,
giúp học sinh hình thành phương pháp làm việc khoa học. Hơn nữa, trong quá
trình giảng dạy, giáo viên phải đưa đồ dùng trực quan đúng lúc, đúng chỗ cho
tất cả học sinh có thể quan sát, tránh lạm dụng.
II. THỰC TRẠNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.Vài nét về tình hình địa phương:
1.1. Vị trí
- Trường Tiểu học Trưng Vương thuộc địa bàn Phường 4 nằm ở khu
vực thành phố Tuy Hòa, phía Bắc giáp phường 5, phía Nam giáp bờ sông Ba,
phía Tây giáp phường 3, phía Đông giáp phường 6.
- Dân cư tương đối đông đúc.
GVHD: Đào Thị Thu Hảo
10
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
Trường Tiểu học Trưng Vương
đến chất lượng giảng dạy của giáo viên.
GVHD: Đào Thị Thu Hảo
11
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
Trường Tiểu học Trưng Vương
Bài báo cáo thu hoạch
- Còn thiếu giáo viên dạy môn Thể dục.
- Trường đang xây dựng mới (12 phòng học), do vậy phải gửi 17 lớp
sang học tại các trường bạn. Vì thế, việc quản lý, giảng dạy và các hoạt động
giáo dục có phần hạn chế.
- Không đủ phòng chức năng, một số phòng tạm bợ, không đúng qui
cách.
- Thiết bị dạy học sử dụng lâu năm đang trên đà xuống cấp.
- Một số phụ huynh hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ít quan tâm đến
việc học tập của con em.
2.3. Truyền thống của trường
Từ ngày thành lập đến nay, Trường Tiểu học Trưng Vương luôn phấn
đấu vươn lên về mọi mặt, là một trong những đơn vị dẫn đầu cấp thành phố
về phong trào thi đua dạy và học. Tuy thời gian có ngắn nhưng Trường đã
hình thành những truyền thống tốt đẹp. Trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên,
nhân viên (CB, GV, NV) nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm cao. Chất lượng dạy
và học của trường luôn là tốp dẫn đầu cấp thành phố. Phong trào hoạt động
ngoài giờ của trường khá mạnh. Liên Đội được Trung ương Đoàn tặng Bằng
54 nữ; trong đó:
- Cán bộ quản lý: 02 người / 02 nữ.
- Giáo viên: 58 người / 48 nữ.
- Nhân viên: 05 người / 04 nữ.
* Phân tích loại hình đào tạo của GV:
- Giáo viên dạy các môn học không chuyên: 41 người.
- Giáo viên làm công tác Đội: 01 người.
- Giáo viên dạy Anh văn: 09 người.
- Giáo viên dạy Mỹ thuật: 02 người.
- Giáo viên dạy Âm nhạc: 02 người.
- Giáo viên Tin học: 02 người.
- Giáo viên Thể dục: 01 người.
* Tỉ lệ giáo viên trên lớp là 1,15 (46 GV/40 lớp)
* Phân tích trình độ đào tạo của GV (cả CBQL):
- Thạc sĩ: 02 người.
- Đại học: 52 người.
- Cao đẳng: 06 người.
- Trình độ đào tạo đạt trên chuẩn 60 người, tỉ lệ 100%.
b) Biên chế các tổ
- Tổ 1: 10 giáo viên. Tổ trưởng Lê Thị Ánh Hồng, Tổ phó Lê Thị Thu
Thơm.
- Tổ 2: 08 giáo viên. Tổ trưởng Lê Thị Lài, Tổ phó Trương Thị Mỹ Linh.
- Tổ 3: 07 giáo viên. Tổ trưởng Trần Thị Lý, Tổ phó Tăng Huỳnh
Thanh Tuyền.
- Tổ 4: 09 giáo viên. Tổ trưởng Đào Thị Thu Hảo, Tổ phó Trần Thị
Kiều Oanh.
- Tổ 5: 10 giáo viên. Tổ trưởng Đoàn Lưu Thủy, tổ phó Lê Thị Thanh Bích.
GVHD: Đào Thị Thu Hảo
Trong năm học 2018-2019, trường có:
- Phòng học: 12 phòng (Kiên cố: 11). Phòng chức năng: 8 phòng (kiên cố:
Số phòng học mượn là: 9 phòng. Các phòng học cơ bản đảm bảo đúng
chuẩn và trang bị đầy đủ bảng chống lóa; tu sửa kịp thời, trang trí, sắp xếp
hợp lý phục vụ tốt cho công tác dạy học.
- Nhà trường đảm bảo đủ máy cho văn phòng làm việc và học sinh học.
Máy được kết nối Internet đáp ứng yêu cầu công tác quản lý và công tác dạy
và học. Công tác quản lý đồ dùng dạy học đảm bảo an toàn, sử dụng có hiệu
quả.
b) Công trình phụ
GVHD: Đào Thị Thu Hảo
14
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
Trường Tiểu học Trưng Vương
Bài báo cáo thu hoạch
Nhà trường có 4 nhà vệ sinh (2 cho học sinh và 2 cho giáo viên); vệ
sinh khá sạch sẽ. Có nhà xe giáo viên; quản lý và sử dụng có hiệu quả.
2.5.3. Hệ thống hồ sơ, sổ sách
* Nhà trường có đủ các loại hồ sơ phục vụ cho công tác giáo dục như:
a) Sổ đăng bộ;
b) Sổ phổ cập giáo dục tiểu học;
c) Sổ theo dõi chất lượng giáo dục; hồ sơ giáo dục học sinh khuyết tật.
d) Học bạ của học sinh;
TT
Họ và tên
Chức vụ
GVHD: Đào Thị Thu Hảo
Bài báo cáo thu hoạch
Phân tích nhiệm vụ được giao
Cộng
(Số tiết/ tuần)
Tổ
T V
CT TK
TT PĐSH Giảng
TT
CN D N
dạy
CĐ HĐ
ND BD
TT TT
16
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
Trường Tiểu học Trưng Vương
1 Phan Thị Phương
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
Ca Thị
Nguyễn Thị Hồng
Lê Thị Ánh
Võ Thị Kim
Trần Thị Thu
Nguyễn Thị Tú
Huỳnh Thị Kim
Lê Thị Thu
Cao Thị Phương
Lê Thị Thanh
Huỳnh Thị Lệ
Trương Thị Mỹ
Ảnh
Gấm
Hồng
Oanh
Thảo
Thi
Thịnh
Thơm
Yên
Hồng
Thúy
Linh
Hương
Hằng
Lài
Huệ
Tuyền
Trà
Dân
Lý
Nữ
Hồng
Phúc
Linh
Dung
Xuân
Thành
Hòa
Trang
Hảo
GVCN 1G
GVCN 1H
TP-GVCN 1I
GVCN 1K
GVCN 2A
GVCN 2B
TP-GVCN 2C
GVCN 2D
GVCN 2E
TT-GVCN 2G
GVCN 2H
TP-GVCN 3A
GVCN 3B
GVCN 3C
TT-GVCN 3D
GVCN 3E
GVCN 3G
GVCN 4A
GVCN 4B
GVCN 4C
GVCN 4D
GVCN 4E
GVCN 4G
GVCN 4H
TT-GVCN 4I
TP-GVCN 4K
TT-GVCN 5A
GVCN 5B
GVCN 5C
GVCN 5D
2
2
2
2
2
3
3
3
3
3
3
4
4
4
4
4
4
4
4
4
5
5
5
5
5
5
5
5
5
BM
20
20
20
20
20
20
20
20
20
20
20
20
20
20
17
20
20
20
20
15
20
18
20
21
/
/
/
/
/
x
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
1A
1B
1C
1D
1E
1G
1H
1I
1K
2A
2B
2C
2D
2E
2G
2H
3A
3B
3C
3D
3E
3G
4A
4B
4C
4D
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
23
23
23
23
23
23
23
23
23
23
x
3
/
/
/
/
/
5
23
/
/
/
/
/
3
3
2
23
23
23
23
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
Trường Tiểu học Trưng Vương
Bài báo cáo thu hoạch
48
49
50
51
52
Võ Thị Hồng
Nguyễn Thị Anh
Lê Thị Mỹ
Nguyễn Thị Hồng
57
58
59
60
Lê Nữ Chúc
Trần Thị Ngọc
Trương Thị Minh
Phạm Thị Thu
Hà Thị Cẩm
Trịnh Phát
Tăng Ngọc
Phạm Hùng
Nghi
Hà
Hiền
Băng
Nhung
Thịnh
Hùng
Nam
GV-Tin
GV-MT
GV-MT
GV-AN
GV-AN
GV-TD
GV TPT Đội
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
3
/
/
/
/
2
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
3
4
Tổ SH
Nhiệm vụ
1
Phạm Thị Kim Thoa
Tổ trưởng
Văn phòng
2
Đặng Thị Chế Vi
Tổ phó
Văn phòng
Kế toán
Văn thư –
Thủ quĩ
3
3
4
Võ Thị Thanh Thảo
Trần Đặng Lưu Hà
GVHD: Đào Thị Thu Hảo
18
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
Trường Tiểu học Trưng Vương
Bài báo cáo thu hoạch
- Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Mỗi cán bộ, giáo viên nhận đỡ đầu
một học sinh có nguy cơ bỏ học vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, hoặc học
yếu” nhằm nâng cao chất lượng văn hoá và hạn chế học sinh bỏ học giữa
chừng.
Kết quả giáo dục học kỳ 1
2.6.2. Hoạt động ngoài giờ lên lớp
- Nhà trường đã củng cố Ban Hoạt động ngoài giờ lên lớp và nâng cao
chất lượng hoạt động ngoài giờ lên lớp. Tổ chức các ngày sinh hoạt chủ điểm
trong học kỳ đạt hiệu quả cao.
- Tổ chức tốt hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh. Đang cải tiến việc
đánh giá thi đua hàng tuần của Liên Đội. Tuyên dương, khen thưởng kịp thời
tập thể lớp và học sinh đạt thành tích tiêu biểu trong các phong trào.
- Chăm sóc tốt cây bóng mát, bồn hoa, cây cảnh...
- Tham gia tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, công tác xã hội.
- Chú trọng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các môn
học, hoạt động giáo dục và qui tắc ứng xử văn hoá.
- Củng cố, tổ chức tốt các hoạt động thể dục, thể thao, văn nghệ,...cho
các em.
- Tích cực xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Trong học
Nhà trường đã tham gia tập huấn đầy đủ và thực hiện tốt việc ứng dụng
công nghệ thông tin trong quản lý, trong công tác dạy học. Các báo cáo được
sử dụng hệ thống Email. Giáo viên soạn giáo án, bài giảng vận dụng công
nghệ thông tin khá thuần thục. Việc thực hiện các chương trình EMIS, phần
mềm thống kê tiểu học và phần mềm quản lý phổ cập giáo dục tiểu học đúng
theo qui định.
2.6.5. Việc thực hiện các cuộc vận động
CB, GV, NV tham gia học tập nghiêm túc và cố gắng thực hiện các
chuyên đề về: Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách
của Hồ Chí Minh; phấn đấu “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo
đức, tự học và sáng tạo”.
2.6.6. Công tác kiểm tra
- Nhà trường đã xây dựng kế hoạch công tác kiểm tra nội bộ
trường học.
- Thực hiện tốt công tác thanh tra nhân dân.
2.6.7. Cải tiến công tác quản lý
GVHD: Đào Thị Thu Hảo
20
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
Trường Tiểu học Trưng Vương
Bài báo cáo thu hoạch
- Nhà trường thực hiện tốt công tác tham mưu với cấp trên, phối hợp tốt
với các đoàn thể để góp phần chăm lo phát triển toàn diện nhà trường.
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
Trường Tiểu học Trưng Vương
Bài báo cáo thu hoạch
5. Nhà vệ sinh của học sinh sạch sẽ thường xuyên, tốt hơn.
6. Trường tham Giải thể thao học đường cấp Thành phố đạt giải Nhất
toàn đoàn.
3. Thực trạng dạy học văn miêu tả lớp 4I ở trường tiểu học Trưng Vương
3.1. Thuận lợi
- Nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo thực hiện công tác chuyên môn có
hiệu quả, nâng cao tay nghề cho giáo viên.
- Giáo viên đều được trang bị đầy đủ sách giáo khoa, sách giáo viên,
sách tham khảo, các phương tiện dạy học như máy chiếu để dạy bằng giáo án
điện tử…Đội ngũ giáo viên có năng lực, yêu nghề đã áp dụng phương pháp
dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh linh hoạt và
hiệu quả.
- Từ lớp 2, 3, học sinh được tập quan sát và trả lời câu hỏi để làm quen
với văn miêu tả, đã biết cách luyện tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên để tự
chiếm lĩnh tri thức.
- Đối tượng miêu tả khá gần gũi với học sinh (cây bàng, con gà,…).
- Đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học có tâm hồn trong sáng, thơ ngây,
giàu cảm xúc và sức sáng tạo. Thế giới của các em là thế giới cổ tích. Những
đồ vật, con vật, cây cối là những người bạn thân thiết, gần gũi mà các em có
thể tâm tư, chia sẻ tình cảm của mình. Đặc điểm tâm lí này rất thuận lợi cho
việc khơi gợi ở các em những cảm xúc miêu tả bất ngờ, thú vị,…
3.2. Khó khăn
phương pháp đặc trưng của phân môn mà Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định
nhằm nâng cao chất lượng dạy học sinh lớp 4 viết văn miêu tả mà tôi áp dụng
có hiệu quả.
3.3. Kiểm nghiệm bài văn miêu tả của học sinh lớp 4
3.3.1. Một số lỗi thường gặp
a. Trong phần cơ sở thực tiễn tôi đã đề cập những vấn đề chung thường
gặp ở bài văn miêu tả của học sinh lớp 4: bài văn ngắn, kể lể, ít hình ảnh,…
Ví dụ 1:
- Cái cặp của em nhiều màu. Mặt trước có siêu nhân rất đẹp. Nó có ba
ngăn. Một ngăn em để bút, một ngăn em để vở, một ngăn để sách.
- Cây bàng cao đến mái nhà. Thân nó to, xù xì. Cây bàng có nhiều
cành, tán rộng. Lá màu xanh. Quả ăn có vị chát.
Đoạn văn như vậy được coi là tạm được vì đúng ý. Câu văn rõ nghĩa.
Nhưng miêu tả như vậy chỉ cần vài câu là tả xong một đồ vật, một cây. Và nó
cũng rất chung chung, không làm nổi bật được nét riêng của đồ vật đó, cây đó.
GVHD: Đào Thị Thu Hảo
23
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
Trường Tiểu học Trưng Vương
Bài báo cáo thu hoạch
b. Đọc bài văn miêu tả của các em, ta còn thấy sự khô khan, nghèo
cảm xúc, sự liệt kê lan man, dài dòng, lủng củng, lộn xộn, không lột tả được
đối tượng miêu tả, đôi khi còn bịa đặt.
SVTT: Hà Thị Thanh Nhường
Trường Tiểu học Trưng Vương
Bài báo cáo thu hoạch
+ Câu sai nghĩa. VD: Con mèo nặng khoảng 2 tạ.
+ Câu không rõ nghĩa. VD: Con mèo lông trắng mắt nó em yêu chú
lắm.
+ Câu không có sự tương hợp về nghĩa giữa các thành phần câu, giữa
các vế câu.
Ví dụ 2: Chiếc cặp của em màu đỏ giúp em học giỏi.
+ Các câu trong bài mâu thuẫn nhau: Cây bàng to, mập mạp. Thân cây
khẳng khiu.
- Lỗi lạc chủ đề. Ví dụ: Tả chiếc cặp: Ngăn ngoài của cặp em đựng bút.
Chiếc bút màu đỏ rất đẹp.
Như vậy, ta thấy bài văn miêu tả của học sinh lớp 4 mắc rất nhiều lỗi.
Tuỳ theo mức độ, học sinh có khả năng hạn chế hơn một số lỗi cơ bản. Ở đây
đặt ra một vấn đề cấp thiết là dạy học sinh viết văn sao cho mạch lạc, giàu
hình ảnh, tái hiện được cụ thể, sinh động đối tượng miêu tả.
3.3.2. Nguyên nhân
- Giáo viên chưa khơi gợi được sự ham học, yêu thích miêu tả đồ vật, con
vật, cây cối,...xung quanh, chưa tạo được động cơ học văn miêu tả ở các em.
- Các em chưa hiểu rõ đặc điểm cơ bản của văn miêu tả, chưa phân biệt
được sự khác biệt giữa văn bản miêu tả với các kiểu bài văn khác.
- Khả năng quan sát và lựa chọn hình ảnh để quan sát và miêu tả chưa
tinh tế.
- Vốn từ miêu tả còn nghèo nàn. Chưa có thói quen tích luỹ các từ ngữ
gợi tả.