1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chửa ngoài tử cung (CNTC) là hiện tượng trứng thụ tinh và làm tổ
ngoài buồng tử cung. Đây là một bệnh phổ biến trong cấp cứu sản khoa với tỷ
lệ 1/250-1/200 phụ nữ mang thai và là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong
mẹ trong 3 tháng đầu thai kỳ [1].
CNTC là một cấp cứu sản khoa không những đe dọa tính mạng mà còn
ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của người phụ nữ. Nếu không được chẩn
đoán đúng và điều trị kịp thời thì có thể dẫn đến CNTC vỡ ngập máu trong ổ
bụng đe doạ đến tính mạng của người bệnh.
Tần suất CNTC ngày càng gia tăng ở Việt Nam cũng như trên thế giới
[2],[3]. Tại Hoa Kỳ tỷ lệ chửa ngoài tử cung từ 4,5/1000 các trường hợp mang
thai trong năm 1970 tăng lên 1,11% giai đoạn 1997 - 1999, 2% năm 2005 [4],
[5]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hòa năm 2004 và Thân Ngọc Bích năm
2009 tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương tỷ lệ CNTC lần lượt là 4,4% và 9,4%
[6],[7]. Nghiên cứu của Võ Mạnh Hùng tại Bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa
(2008) là 2,66% [8]. Theo số liệu của phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện
Sản Nhi tỉnh Lào Cai, số bệnh nhân chửa ngoài tử cung cũng không ngừng
tăng lên, số chửa ngoài tử cung trên số đẻ năm 2016 là 186/3821, tỷ lệ là
4,5%.
Sự gia tăng tần suất bệnh được nhiều tác giả cho rằng có liên quan đến
các yếu tố như viêm nhiễm tiểu khung, bệnh lây truyền qua đường sinh dục,
tiền sử nạo hút thai, tiền sử mổ vùng tiểu khung, các phương pháp mới trong
điều trị vô sinh hoặc hỗ trợ sinh sản. Tiên lượng của bệnh phụ thuộc vào thời
điểm chẩn đoán và thái độ xử trí vì vậy tỷ lệ chửa ngoài tử cung gia tăng
nhưng tỷ lệ tử vong lại giảm do tiến bộ của y học giúp cho chẩn đoán sớm,
chính xác và xử trí kịp thời [1],[9],[10].
2
cung tại Bệnh viện Sản nhi Lào Cai trong 2 năm 2016 – 2017.
Nhận xét về kết quả điều trị của bệnh nhân chửa ngoài tử cung tại Bệnh
viện Sản Nhi Lào Cai trong 2 năm 2016 – 2017.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Lịch sử chửa ngoài tử cung
Thuật ngữ CNTC bắt đầu từ tiếng Hy Lạp là ektopos, là trường hợp
noãn được thụ tinh và làm tổ ngoài buồng tử cung. Như vậy CNTC có thể gặp
ở nhiều vị trí khác nhau, tuy nhiên có tới 98% số trường hợp CNTC xảy ra ở
vòi tử cung. Ngoài ra có thể gặp chửa trong ổ bụng, chửa ở buồng trứng, chửa
ở ống cổ tử cung, chửa vết mổ [5],[11]. Trong các vị trí chửa ở vòi tử cung
thì chửa đoạn bóng chiếm 80%, đoạn eo chiếm 10%, đoạn loa chiếm 8% và
đoạn kẽ chiếm 2% [5],[12],[13].
Chửa ngoài tử cung đã được ghi nhận từ rất lâu, Albucasis là người đầu
tiên đề cập đến CNTC vào năm 936 sau công nguyên. Năm 1883, Robert
Lawon Tai điều trị thành công CNTC bằng phẫu thuật [14]. Năm 1973
Shapiro và Adler đã điều trị thành công CNTC bằng soi ổ bụng. Năm 1977
Bruhat MA là người đầu tiên thực hiện bảo tồn VTC qua nội soi [15],[16],
[17]. Năm 1982 Tanaka và cộng sự người Nhật Bản là những người đầu tiên
áp dụng MTX điều trị CNTC tại Hoa Kỳ [18].
Ở Việt Nam việc điều trị CNTC bằng MTX được áp dụng từ năm 1998
tại Bệnh viện Từ Dũ. Năm 2003 được áp dụng tại Bệnh viện Phụ sản Trung
ương và một số địa phương khác [13],[19].
1.2. Sơ lược về giải phẫu và sinh lý vòi tử cung
1.2.1. Cấu tạo vòi tử cung
Vòi tử cung là ống dẫn trứng từ buồng trứng tới tử cung, bắt đầu từ mỗi
hơn đoạn bóng. Trên đường di chuyển, trứng phân bào rất nhanh để trở
thành khối phôi dâu có 16 tế bào (sau khi phóng noãn khoảng 6 - 7 ngày)
nhưng không tăng thể tích [22],[27].
Cấu tạo mô học VTC: Thành VTC được cấu tạo 4 lớp từ ngoài vào.
- Ngoài cùng là lớp thanh mạc, nhẵn bóng tạo bởi lá tạng của phúc mạc.
- Lớp 2 là mô liên kết lỏng và mỏng, trong đó có mạch máu, thần kinh.
5
- Lớp thứ 3 gọi là áo cơ gồm 2 lớp, lớp cơ dọc ở ngoài, thớ cơ vòng ở trong.
- Trong cùng là lớp niêm mạc: có các nếp gấp thay đổi tùy theo từng
đoạn phân chia giải phẫu, gồm 3 loại tế bào: Tế bào hình trụ, tế bào chế tiết, tế
bào hình thoi.
1.2.2. Sinh lý và chức năng vòi tử cung
Sự thụ tinh thường xảy ra ở bóng VTC, quá trình di chuyển của phôi qua
vòi từ 6 đến 7 ngày. Những cản trở xảy ra tại thời điểm này có thể dẫn đến hậu
quả CNTC tức phôi làm tổ tại VTC [28].
Tinh trùng, noãn, phôi được vận chuyển qua vòi tử cung nhờ 3 yếu tố:
- Sự co bóp của lớp cơ vòi tử cung là chủ yếu.
- Sự chuyển động của vòi các lông ở bờ tự do của tế bào có lông đã đẩy
noãn và phôi đi theo hướng về buồng tử cung.
- Tác dụng của dòng nước trong lòng VTC, nhờ hệ thống mạch máu và
hệ thống bạch huyết phong phú trong lớp đệm, vòi tử cung đã hấp thụ nước
trong ổ bụng vào lòng vòi, dòng nước này chảy về buồng tử cung đã cuốn theo
cả trứng hoặc phôi khi nằm trong lòng vòi tử cung [24],[28],[29],[30].
Bất kỳ yếu tố nào cản trở sự di chuyển của noãn đã thụ tinh hoặc cản trở
sự làm tổ của noãn đều có khả năng gây CNTC [26],[30],[31].
1.2.3. Hình ảnh giải phẫu bệnh lý
- Về đại thể: nếu được chẩn đoán khi chưa vỡ, khối chửa tại VTC giống
5% CNTC. Theo Lê Anh Tuấn, những phụ nữ có tiền sử viêm phần phụ có
nguy cơ CNTC gấp 3 lần so với những phụ nữ không có tiền sử viêm nhiễm.
Nhiễm Chlamydia cũng là một trong những yếu tố nguy cơ của CNTC [10],
[35].
- Dính xung quanh vòi tử cung là hậu quả của viêm tiểu khung, lạc nội
mạc tử cung.
7
1.3.2. Tiền sử phẫu thuật tiểu khung và vòi tử cung
Nhiều nghiên cứu cho rằng tiền sử phẫu thuật tiểu khung, các kỹ thuật
tạo thông vòi như: mở VTC, tạo hình vòi và loa vòi, gỡ dính quanh vòi và
buồng trứng, tất cả đều có mối liên quan khá chặt chẽ với CNTC. Tiền sử bị
CNTC trước đó thì tỷ lệ CNTC ở lần có thai sau tăng lên [30],[33],[34].
1.3.3. Sử dụng các biện pháp tránh thai
Dụng cụ tử cung: làm tăng nguy cơ CNTC, người mang dụng cụ tử
cung có nguy cơ bị CNTC cao gấp khoảng 2-3 lần so với người không mang
dụng cụ tử cung [36].
1.3.4. Nạo thai và sẩy thai tự nhiên
Tiền sử nạo hút thai nhiều lần cũng là một nguyên nhân góp phần làm
gia tăng CNTC. Số CNTC có tiền sử nạo hút thai ở các nghiên cứu vào các
thời điểm năm 1999-2000, 2000-2003 chiếm gần 50% trường hợp CNTC.
Năm 2008, 2009 là 47,8% và 52,5% [7],[10],[[37],[38],[39].
1.3.5. Vô sinh
Trong những năm gần đây, thụ tinh ống nghiệm (TTON) là một trong
những phương pháp hỗ trợ sinh sản được áp dụng rộng rãi trong điều trị vô
sinh. Những phụ nữ có tiền sử TTON thì CNTC chiếm 2 - 11% tùy từng
nghiên cứu [40]. Theo Nguyễn Thị Thủy Hà, tỷ lệ này là 1,4% [34].
1.3.6. Những nguyên nhân khác
- Ra máu âm đạo là triệu chứng phổ biến, sau khi chậm kinh ít ngày đã
thấy ra máu, thường ra máu ít một, sẫm màu, liên tục hay không, có khi lẫn
màng, 80% bệnh nhân CNTC có ra máu âm đạo [21],[26],[27],[44].
- Đau bụng: triệu chứng luôn có trong CNTC, mức độ đau có thể rất
khác nhau theo các thể lâm sàng. Vị trí đau hố chậu phải hoặc trái hoặc cả
vùng tiểu khung hoặc đau khắp ổ bụng khi có vỡ khối thai chảy máu ồ ạt, đau
kèm theo mót rặn, đái buốt do khối máu tụ kích thích vào trực tràng, bàng
quang [27],[30]. Triệu chứng đau bụng có độ nhạy 90,2% nhưng có giá trị
chẩn đoán dương tính thấp 65% [26],[45].
9
1.4.1.2. Triệu chứng toàn thân
Khi CNTC vỡ biểu hiện có choáng mất máu, đau khắp bụng, bụng
chướng, mạch nhanh, huyết áp tụt, đôi khi bệnh nhân có ngất do đau và mất
máu. Khi khối chửa chưa vỡ, đây là triệu chứng hiếm gặp [21],[30].
1.4.1.3. Triệu chứng thực thể
Thăm âm đạo kết hợp sờ nắn bụng thấy: Sự thay đổi kích thước và mật độ
tử cung theo chiều hướng có thai: tử cung mềm, cổ tử cung tím, thân tử cung hơi
lớn hơn bình thường, khó đánh giá và chiếm tỷ lệ nhỏ, trong khi tử cung không
to chiếm hơn 60 -70 % các trường hợp CNTC [26],[30],[46],[47].
Cạnh tử cung có thể sờ thấy khối nề, danh giới rõ hoặc không nhưng ấn
đau, có giá trị trong chẩn đoán (độ nhạy 86,5% và giá trị chẩn đoán dương
tính 90%) [45].
Túi cùng Douglas thời kỳ đầu còn mềm mại nhưng nếu có máu, có dịch
trong túi cùng Douglas thì bệnh nhân rất đau [30].
1.4.2. Triệu chứng cận lâm sàng
Các phương pháp cận lâm sàng thường dùng tại Việt Nam hiện nay là
định tính và định lượng hCG, siêu âm với đầu dò âm đạo và nội soi ổ bụng.
buồng trứng. Hình ảnh khối phần phụ thường đa dạng, nhiều hình thái,
thường gặp 3 loại sau: khối nhẫn, khối dạng nang và khối hỗn hợp âm vang
Dấu hiệu gián tiếp không có túi ối trong buồng tử cung, có thể có
dịch cùng đồ.
- Dịch ở túi cùng Douglas: là giai đoạn muộn của CNTC, là vùng thưa
âm vang ở sau thân tử cung thuộc túi cùng Douglas có thể do khối chửa đã vỡ
hoặc rỉ máu qua loa vòi tử cung vào cùng đồ, nếu vỡ chảy máu nhiều tạo
thành vùng thưa âm vang tại các điểm thấp ở tư thế nằm như cùng đồ
Douglas, rãnh đại tràng lên và xuống.
11
- Hình ảnh tử cung: kích thước tử cung có thể to hơn bình thường,
không có túi thai trong buồng tử cung, đôi khi có hình ảnh túi thai giả dễ nhầm
với thai chết trong buồng tử cung. Một số trường hợp sau hút thai, niêm mạc tử
cung mỏng, thường có lớp dịch giảm âm và đôi khi có dấu hiệu tăng âm vang
của máu cục đọng lại trong buồng tử cung.
1.4.2.3. Định lượng progesteron trong huyết thanh
Theo Bustor E.John thì nồng độ progesteron < 15ng/ml có hơn 80% là
CNTC. Khi nồng độ này nằm trong khoảng 15 - 25ng/ml thì cần phải theo dõi
và làm thêm các xét nghiệm khác [51].
Theo nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Hiền năm 2007 tại BVPSTW:
khi khám lâm sàng, siêu âm, định lượnghCG huyết thanh chưa xác định
chính xác được chửa ngoài tử cung thì làm thêm xét nghiệm định lượng
progesteron huyết thanh [52].
Bệnh nhân có triệu chứng nghi ngờ CNTC, định lượng hCG huyết
thanh < 1500 IU/l, định lượng progesteron huyết thanh < 15 ng/ml, siêu âm
đầu dò âm đạo: không thấy túi thai trong buồng tử cung hoặc kèm theo 1 dấu
hiệu nghi ngờ phải nghĩ đến CNTC.
đồng nhất, cùng đồ không có dịch, kết quả thử thai dương tính [30],[53].
Theo Vương Tiến Hoà (2002) là 69%. Theo Nguyễn Thị Tuyết Mai
(2000-2005) là 8,17% và 12,33%. Theo Thân Ngọc Bích (1999-2009) là 22,7%
và 41.8% [7],[27],[54].
- Chửa ngoài tử cung vỡ
Triệu chứng nổi bật là đau bụng dữ dội vùng bụng dưới , da xanh niêm
mạc nhợt, mạch nhanh huyết áp tụt. Có phản ứng thành bụng, gỡ đục vùng
thấp, tử cung bập bềnh trong nước, khám cùng đồ sau đầy đau chói. Cũng có
trường hợp ngập máu ổ bụng nhưng diễn ra từ từ, người bệnh thích nghi được
nên các dấu hiệu choáng không rõ [29],[31].
- Chửa ngoài tử cung thể giả sẩy
Dễ nhầm lẫn với sẩy thai, bệnh nhân có đau vùng hạ vị từng cơn, hết
đau khi mảnh tổ chức bị tống ra. Xét nghiệm giải phẫu bệnh tổ chức sẩy hoặc
nạo thấy hình ảnh màng rụng, không thấy gai rau [30].
13
- Thể huyết tụ thành nang
Biểu hiện lâm sàng là rong huyết kéo dài, toàn thân có tình trạng thiếu
máu, cạnh tử cung có khối, bờ không rõ, ấn rất đau, đôi khi có dấu hiệu rối
loạn tiêu hóa do kích thích của khối huyết tụ [29].
Siêu âm cạnh tử cung có khối âm vang không đồng nhất, ranh giới
không rõ, kích thước phụ thuộc vào khối máu tụ to hay nhỏ, có thể sâu hoặc
bên tử cung, định lượng βhCG dương tính [53].
1.5.2. Phân loại theo vị trí khối chửa
Hình 1.2: Vị trí khối chửa ngoài tử cung [1]
Chửa ngoài tử cung ở vòi tử cung chiếm khoảng 95% các trường hợp
CNTC, trong đó khối chửa ở đoạn bóng - loa là 93%, đoạn eo là 4%, đoạn kẽ
- Chửa trong ổ bụng: nếu thai dưới 7 tháng mổ lấy thai ngay không trì
hoãn, sau 7 tháng có thể chờ đợi thai 36- 38 tuần sẽ phẫu thuật lấy thai chủ
động. Khi mổ lấy thai, để lại bánh rau, trừ trường hợp rau đã bong. Chửa
trong ổ bụng vẫn còn là một biến chứng nặng nề của sản khoa, chẩn đoán sớm
15
và điều trị triệt để CNTC trong 3 tháng đầu là phương pháp tốt nhất để tránh
bệnh lý này [20],[30].
- Chửa ở ống cổ tử cung: khi thai làm tổ ở buồng cổ tử cung, bệnh
nhân chưa có con nên giữ tử cung, sau nạo chèn gạc cầm máu vùng rau bám,
nếu không kết quả thì cắt tử cung hoàn toàn, trường hợp đã đủ con phẫu thuật
cắt tử cung hoàn toàn. Kỹ thuật cắt tử cung khó khăn vì cổ tử cung phình to,
trong lúc phẫu thuật cấp cứu dễ gây tổn thương niệu quản. Trường hợp khối
thai nhỏ, ít chảy máu điều trị bằng MTX [26].
- Chửa ở vết mổ: xử trí sớm ngay trong quý đầu của thai nghén để
giảm nguy cơ rau cài răng lược, gây chảy máu dữ dội nguy hiểm đến tính
mạng bệnh nhân. Điều trị nội khoa bằng MTX toàn thân đơn thuần, diệt phôi,
hút thai kết hợp với điều trị nội khoa. Phẫu thuật mổ mở chỉ định trong các
trường hợp: bệnh nhân đến trong tình trạng băng huyết, đủ con, điều trị nội
khoa thất bại, hút thai phối hợp điều trị nội khoa thất bại.
1.6.1.2. Phẫu thuật nội soi (PTNS)
Hiện nay PTNS đã trở thành phương pháp điều trị chủ yếu trong điều
trị CNTC. Ở Việt Nam điều trị CNTC bằng PTNS được áp dụng lần đầu tiên
tại Bệnh viện Từ Dũ năm 1993 và đến năm 1998 phương pháp điều trị này
được áp dụng tại BVPSTW, đây là phương pháp chính trong phẫu thuật
CNTC. Phẫu thuật mổ mở chỉ đặt ra với những bệnh nhân CNTC có chống
chỉ định PTNS [55],[56],[57].
Chống chỉ định của PTNS [31]:
khối chửa trên siêu âm < 3cm, không có tim thai, tuổi thai dưới 8 tuần.
Liều lượng:
- Phác đồ đa liều MTX 1mg/kg cân nặng tiêm bắp vào các ngày 1, 3, 5,
7 và giải độc leuco vocin 0,1mg/kg cân nặng tiêm bắp vào các ngày 2, 4, 6, 8.
17
Dùng liên tục đến khi hCG giảm >15% sau 48 giờ hoặc 04 liều MTX, có thể
nhắc lại liều 2 nếu hCG không giảm
cứu cho thấy tỷ lệ chẩn đoán CNTC 90%, tỷ lệ bảo tồn VTC là 15,6%.
19
- Năm 2007 Nguyễn Thị Tuyết Mai nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu những
tiến bộ trong chẩn đoán và xử trí chửa ngoài tử cung năm 2005 so với năm 2000
tại BVPSTW”. Bệnh nhân CNTC năm 2005 được chẩn đoán và xử trí sớm hơn
năm 2000. Tỷ lệ CNTC chưa vỡ năm 2005 là 12,33%, năm 2000 là 8,17%.
PTNS được áp dụng điều trị CNTC năm 2005 (78,06%) nhiều hơn so với năm
2000 (41,9%).
- Theo nghiên cứu của Đỗ Bình Trí năm 2008, tỷ lệ CNTC được mổ nội
soi bảo tồn VTC tại BVPSTW năm 2007 là 11,6%, thành công 87,1%.
- Năm 2009 Hồ Văn Việt “Nghiên cứu chẩn đoán và xử trí CNTC năm
2008 và năm 2003 tại bệnh viện phụ sản Trung Ương”. Kết quả cho thấy chẩn
đoán CNTC năm 2008 sớm hơn so với năm 2003. Năm 2003 chỉ điều trị CNTC
bằng phuong pháp ngoại khoa, năm 2008 đã có 9,9% bệnh nhân dduocj điều trị
nội khoa bằng MTX.
- Theo nghiên cứu của Thân Ngọc Bích năm 2010, tỷ lệ CNTC được điều
trị tại BVPSTW năm 2009 là 9,40% tăng hơn so với năm 1999 (7,15%). Chẩn
đoán và điều trị năm 2009 đã tiến bộ nhiều so với năm 1999. Khối chửa chưa vỡ
năm 2009 chiếm 41,8%, năm 1999 là 22,7%. Điều trị bằng PTNS năm 2009 cao
hơn năm 1999 (72,7% so với 33,1%), tỷ lệ bảo tồn VTC khi phẫu thuật năm
2009 cao hơn năm 1999 (14,7% so với 8,5%).
- Năm 2014 Bùi Minh Phúc “Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị CNTC tại
bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình trong 3 năm 2011- 2013” tỷ lệ chẩn đoán sớm
là 23,7%, 100%CNTC được điều trị bằng phẫu thuật, PTNS chiếm 79,5%.
1.8. Một vài thông tin chung về địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Lào Cai được tách ra từ khoa Sản của bệnh
viện Đa khoa tỉnh Lào Cai. Bệnh viện được thành lập theo quyết định số
- Bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị chửa ngoài tử cung tại Bệnh
viện Sản Nhi Lào Cai trong thời gian trên.
- Các thông tin và các yếu tố nghiên cứu được ghi đầy đủ trong hồ sơ.
- Tiêu chuẩn chẩn đoán CNTC dựa vào:
+ Triệu chứng lâm sàng: Rối loạn kinh nguyệt (chậm kinh, kinh ra đúng
kỳ, kinh ra sớm), đau bụng, ra máu âm đạo, có khối cạnh tử cung.
+ Cận lâm sàng: hCG dương tính (nước tiểu hoặc máu), siêu âm trong buồng
tử cung không có túi ối, có khối cạnh tử cung, cùng đồ có dịch hoặc không.
Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng
- Bệnh án không đủ tiêu chuẩn lựa chọn trên.
- Chửa ngoài tử cung được điều trị ở tuyến khác chuyển đến vì bất cứ
lí do gì
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Sản Nhi Lào Cai.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Dự kiến tiến hành nghiên cứu từ tháng 09/2017 đến tháng 09/2018.
22
2.2. Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu mô tả.
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu:
Cỡ mẫu được chọn là tất cả các trường hợp CNTC có đủ tiêu chuẩn đã
nêu trên dựa theo hồ sơ được lưu trữ tại Bệnh viện Sản Nhi tình Lào Cai thời
gian từ ngày 01/01/2016 đến 31/12/2017.
Phương pháp chọn mẫu
- Tiền sử điều trị vô sinh: điều trị nội khoa, mổ nội soi gỡ dính, tạo
VTC, nối VTC sau đình sản, các phương pháp hỗ trợ sinh sản.
- Triệu chứng cơ năng CNTC: rối loạn kinh nguyệt (chậm kinh, kinh ra
sớm, kinh ra đúng kỳ), đau bụng, ra máu âm đạo.
- Triệu chứng toàn thân: sốc (M > 100 l/ph, HA < 90/60 mmHg), không
sốc (M ≤ 100 l/ph, HA ≥ 90/60 mmHg).
- Triệu chứng thực thể: khối nề phần phụ, phản ứng thành bụng, cùng đồ
đầy đau, di động tử cung đau, tử cung và hai phần phụ bình thường.
- Cận lâm sàng:
+ hCG: số bệnh nhân được thử Quickstick và xét nghiệm βhCG.
+ Siêu âm: số bệnh nhân siêu âm, kết quả siêu âm:
. Không có túi thai trong buồng tử cung.
. Hình ảnh điển hình: là một khối nằm ở vòi tử cung giống hình chiếc
nhẫn vòng, có vỏ hơi dày là do hợp bào nuôi phát triển tạo thành những gai
rau, viền quanh một vùng chứa dịch thuần nhất là nước ối, nên thưa âm vang.
. Hình ảnh không điển hình: khối âm vang không đồng nhất, vùng
thưa âm xen lẫn đậm âm.
. Dịch Douglas: có, không.
24
- Các thủ thuật can thiệp để chẩn đoán:
+ Số bệnh nhân được chọc dò cùng đồ (Có máu điển hình và máu không
điển hình), hút buồng tử cung, nội soi ổ bụng chẩn đoán.
2.2.5.2. Kết quả điều trị CNTC
- Các phương pháp điều trị: Ngoại khoa (PTNS, mổ mở).
- Lượng máu trong ổ bụng khi phẫu thuật:
+ ≤ 100ml
+ 100-500 ml
- Số liệu được làm sạch trước khi được nhập trên phầm mềm Epidata 3.1.
- Số liệu được mã hóa, chỉ thành viên trực tiếp nghiên cứu được quyền
tiếp cận số liệu.
- Dữ liệu được phân tích trên phần mềm thống kê SPSS 16.0 với các test
thống kê y học.