Đảng bộ thành phố hải phòng lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2010 - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN THÔNG

§¶NG Bé THµNH PHè H¶I PHßNG
L·NH §¹O KINH TÕ N¤NG NGHIÖP
Tõ N¡M 1996 §ÕN N¡M 2010

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN THÔNG

§¶NG Bé THµNH PHè H¶I PHßNG
L·NH §¹O KINH TÕ N¤NG NGHIÖP
Tõ N¡M 1996 §ÕN N¡M 2010
Chuyên ngành

: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số

: 62 22 56 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Báo cáo/Kinh tế

BTV

Ban thường vụ

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNH, ĐTH

Công nghiệp hóa, đô thị hóa

CDCCKT

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

CT/TU

Chỉ thị/Thành ủy

CT/TW

Chỉ thị/Trung ương


Kinh tế- Xã hội

Nxb

Nhà xuất bản

NQ

Nghị quyết

UBND

Uỷ ban nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................. 1

Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN .................................................................................................. 7


3.1. Chủ trƣơng của Đảng bộ thành phố đối với kinh tế nông
nghiệp ........................................................................................ ... 69


3.1.1. Yêu cầu mới đặt ra nhằm tiếp tục phát triển kinh tế nông nghiệp .. 69
3.1.2. Chủ trương của Đảng bộ thành phố Hải Phòng - những nội
dung chủ yếu .............................................................................. ... 78
3.2. Đảng bộ thành phố Hải Phòng chỉ đạo đẩy mạnh phát triển
kinh tế nông nghiệp ...................................................................

92

3.2.1. Tổ chức chỉ đạo thực hiện các chính sách, biện pháp đẩy nhanh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ................................ ... 92
3.2.2. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.................... ... 100
3.2.3. Xây dựng mô hình các đơn vị cơ sở đạt chuẩn công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn .......................................... ... 112
Tiểu kết chƣơng 3 ........................................................................................ ..

117

Chƣơng 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ............................................................ .... 119
4.1. Một số nhận xét………………………………………………...

119

4.1.1. Ưu điểm.......................................................................................

119


TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... .

154

PHỤ LỤC ........................................................................................................................... .... 169


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hải Phòng là tỉnh có vị trí địa chính trị và địa kinh tế thuận lợi: đất
rộng, người đông, có cả đồng bằng, trung du miền núi, hải đảo, đường biển
dài với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, lực lượng lao động đông và
giàu kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, Hải phòng là thành
phố cảng, công nghiệp, thương mại và dịch vụ du lịch lớn ở miền Bắc, một
đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông đa dạng gồm: đường
thuỷ, đường bộ, đường sắt, hàng không nối liền các tỉnh trong nước và quốc
tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Điều kiện tự
nhiên tạo thuận lợi cho Hải Phòng phát triển kinh tế với một cơ cấu đa dạng
gồm: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ cảng biển và du lịch…
Những năm trước đổi mới, cũng như cả nước, Hải Phòng lâm vào
khủng hoảng kinh tế - xã hội. Là một tỉnh có tỷ trọng nông nghiệp chiếm hơn
50% nhưng lương thực, thực phẩm không đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân.
Trước sự khủng hoảng của mô hình quản lý và sự giảm sút trong sản xuất
nông nghiệp, Hải Phòng là một trong số ít những tỉnh đi đầu cả nước tìm tòi,
đổi mới tháo gỡ những khó khăn trong nông nghiệp bằng khoán sản phẩm
“chui” đến hộ xã viên. Vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng trong
nông nghiệp, nhất là Chỉ thị 100- CT/TW của Ban Bí thư Trung ương và Nghị
quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị, Đảng bộ thành phố tích cực triển khai cụ
thể hoá thành những chương trình, mục tiêu phù hợp với thực tế địa phương,

đạo kinh tế nông nghiệp, cung cấp cơ sở khoa học góp phần hoạch định sát
hợp hơn chủ trương về kinh tế nông nghiệp trong các giai đoạn tiếp theo là rất
cần thiết.
Trước những đòi hỏi cấp thiết trong thực tiễn lãnh đạo nông nghiệp của
Đảng bộ, lại được sinh ra và lớn lên ở chính nông thôn Hải Phòng, hàng ngày
trực tiếp được hưởng thụ thành quả từ nông nghiệp đã thôi thúc tác giả chọn
đề tài “Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm
1996 đến năm 2010” làm luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo kinh tế nông
nghiệp từ năm 1996 đến năm 2010, trên cơ sở đó nêu lên một số nhận xét và
đúc rút một số kinh nghiệm.
2


2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những căn cứ để Đảng bộ thành phố Hải Phòng xác định chủ
trương phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2010.
- Phân tích chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng
trong lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2010.
- Phân tích, đánh giá các kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân
và đúc rút những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp
của Đảng bộ thành phố Hải Phòng những năm 1996- 2010.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu các quan điểm, chủ
trương và quá trình chỉ đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ thành phố Hải
Phòng từ năm 1996 đến năm 2010.
3.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

có sử dụng một số tài liệu, tư liệu liên quan, trước năm 1996 và sau năm 2010.
- Về không gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu kinh tế
nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu luận án
- Nguồn tư liệu chung:
+ Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về vai trò của kinh tế nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
+ Các văn kiện của Đảng, Chính phủ; các văn kiện của Đảng bộ thành
phố Hải Phòng và các Đảng bộ cơ sở về kinh tế nông nghiệp... là những tư
liệu gốc của luận án. Trong đó, đặc biệt là các nghị quyết chuyên đề về nông
nghiệp của Đảng bộ thành phố Hải Phòng, như: Nghị quyết số 15- NQ/TU
(1999) về:“Một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn”; Nghị quyết số
16- NQ/TU (1999) về:“Một số vấn đề phát triển kinh tế thủy sản”; Nghị
quyết số 11- NQ/TU (2002) về“Đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn Hải Phòng (2001- 2010)”; Chương trình hành động số 23- Ctr/TU
(2008) về:“nông nghiệp, nông dân, nông thôn”.
+ Tài liệu của các cấp, các ngành trong thành phố về kinh tế nông
nghiệp, như: Niên giám thống kê, báo cáo hàng năm; các đề án; quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế- xã hội thành phố Hải Phòng; quy hoạch vùng kinh
tế, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm; các tài liệu, biên bản hội nghị, hội
thảo… được lưu trữ tại Văn phòng Thành ủy, Văn phòng UBND thành phố,
Ban Kinh tế, Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố…
4


+ Các sách chuyên khảo, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học đã công
bố liên quan đến kinh tế nông nghiệp.
- Nguồn tư liệu thực tế: Các dữ kiện, số liệu thu thập qua điều tra thực
tế của các tác giả luận án có liên quan đến đề tài.

tích những thành công, những hạn chế của Đảng bộ trong việc xác định
hướng đi, đề xuất các giải pháp và tổ chức chỉ đạo thực hiện để phát triển kinh
tế nông nghiệp.
- Luận án góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học, đúc kết những
kinh nghiệm, giúp Đảng bộ và các cấp ủy, UBND và các sở, ban, ngành trong
thành phố có thêm nguồn tài liệu tham khảo trong quá trình tổng kết thực tiễn để
xây dựng các phương án phát triển kinh tế nông nghiệp trong thời gian tiếp theo.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, biên
soạn lịch sử Đảng bộ; lịch sử ngành nông nghiệp thành phố Hải Phòng cũng
như giúp nghiên cứu sinh khi nghiên cứu thể loại đề tài này.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Danh mục công trình khoa học của tác
giả liên quan đến đề tài luận án; Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận
án được cấu trúc thành 4 chương, 8 tiết.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng
đối với kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2000
Chương 3: Sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với kinh
tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

6


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH
NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Là một trong những nội dung chủ yếu của quá trình đổi mới đất nước, kinh
tế nông nghiệp luôn là chủ đề thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học,

chuyên môn hóa và hiệp tác lao động công nghiệp, tương xứng với trình độ
phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất lớn; xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế xã hội nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người
dân nông thôn... Cuốn sách cũng đề cập đến những giải pháp lớn tiếp tục đẩy
mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam con
đường và bước đi là cuốn sách của tác giả Nguyễn Kế Tuấn, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, năm 2006 [152]. Theo tác giả, sau hơn 20 năm đổi mới,
nông nghiệp Việt Nam có sự chuyển biến vượt bậc, đời sống xã hội ở nông
thôn đang hướng tới hình thành và phát triển một nông thôn mới, hiện đại. Để
tiếp tục quá trình đổi mới, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam
phải từng bước giải quyết tốt những khó khăn, như: chất lượng, hiệu quả tăng
trưởng kinh tế nông nghiệp thấp, năng lực cạnh tranh quốc tế của các nông
sản hàng hóa Việt Nam hạn chế do hệ quả của nền nông nghiệp sản xuất nhỏ,
manh mún, phân bổ và sử dụng đất đai còn nhiều bất cập… Đây là những vấn
đề lớn mà việc giải quyết chúng phải có bước đi, cách làm phù hợp, thận
trọng và quyết tâm của toàn Đảng, nhân dân và toàn xã hội;
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những nội dung quan trọng
của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, do đó có nhiều công trình nghiên
cứu vấn đề này, tiêu biểu như:
TS Phạm Thị Khanh, tác giả bài viết: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn, giải pháp cơ bản phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt
Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Phát triển kinh tế (91998) [85]; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nền kinh tế quốc dân của Ngô Đình Giao, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, năm 2003 [65], bàn về thực trạng nông nghiệp của nước ta là độc canh
cây lúa, sản xuất hàng hóa chưa phát triển, lạc hậu năng suất thấp... do đó, khi
chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tiêu thụ thì chuyển dịch cơ
cấu kinh tế được coi là nội dung quan trọng, cơ bản của CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn. Các công trình khoa học này cũng đặt ra yêu cầu trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải phát triển theo hướng CNH, HĐH. Đối

nhiều mặt yếu kém: năng lực quản lý còn hạn chế, quy mô các HTX còn nhỏ
bé, trình độ sản xuất còn lạc hậu, năng lực cạnh tranh và khả năng tiếp cận thị
trường thấp; kinh tế thị trường chiếm tỷ trọng thấp trong tổng sản phẩm xã
hội, kém hấp dẫn và phát triển chậm. Từ đó, tác giả nêu một số giải pháp vĩ
mô nhằm thúc đẩy phát triển bền vững của các HTX trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế.
9


Bàn về phát triển kinh tế trang trại, tác giả Nguyễn Đình Hương viết
cuốn: Thực trạng, giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm
2000 [79]. Các bài viết của Nguyễn Điền và Phan Thành Tịnh về: Kinh tế
trang trại góp phần đẩy mạnh điện khí hóa nông nghiệp, Báo Nhân dân số
16391 năm 2000 [63]; Tập trung ruộng đất trong mô hình kinh tế trang trại
cho mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững của Đặng Hùng Võ, Tạp chí
nông thôn mới, số 213 năm 2007 [174]. Các công trình khoa học này đều
thống nhất về vai trò quan trọng của kinh tế trang trại trong nông nghiệp,
nông thôn- một hình thức phát triển cao của kinh tế hộ nông dân khi được tích
tụ đất đai, sở hữu đất đai và thị trường tiêu thụ thuận lợi kết hợp các chính
sách về tín dụng, chính sách khoa học công nghệ và sự đầu tư đồng bộ hạ tầng
cơ sở nông thôn… Các tác giả cũng nêu những khó khăn trong quá trình phát
triển kinh tế trang trại, nhất là khó khăn về đất đai và tiêu thụ nông sản, thủy
sản... Do đó, để đạt mục tiêu phát triển bền vững, các tác giả nêu một loạt
những giải pháp hữu hiệu cả về chính sách của Nhà nước cũng như giải pháp
thực hiện của các chủ trang trại.
Nghiên cứu về hội nhập và kinh nghiệm quốc tế trong quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn, tiêu biểu như cuốn: Công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn các nước Châu Á và Việt Nam, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, năm 1996 của Nguyễn Điền [62]; cuốn: Vấn đề nông

thu nhập và đời sống của nông dân; khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và
thành thị... Những khó khăn và thách thức này cần được nghiên cứu tìm ra
giải pháp phù hợp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế để tiếp tục đưa
nông nghiệp nước ta phát triển theo hướng ổn định, bền vững.
Nhìn lại quá trình 20 năm đổi mới nông nghiệp, nông thôn, TS Đặng
Kim Sơn có công trình nghiên cứu: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam - 20
năm đổi mới và phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2006 [112].
Cuốn sách tổng kết chặng đường 20 năm đổi mới nông nghiệp, với 5 phần: 1)
Nhìn lại nền nông nghiệp Việt Nam trước đổi mới; 2) Quá trình đổi mới chính
sách và thể chế; 3) Chuyển dịch cơ cấu và phát triển nông nghiệp, nông thôn;
4) Khái quát thành tựu và một số vấn đề rút ra từ quá trình đổi mới; 5) Những
thách thức đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn và một số vấn đề đặt ra
trong thời gian tới. Tác giả kết luận: Công cuộc đổi mới kinh tế do Đảng khởi
xướng và lãnh đạo trong 20 năm (1986- 2006) đã mang lại cho đất nước
những biến đổi sâu sắc trên nhiều lĩnh vực, trong đó, đổi mới trong nông
nghiệp đựợc coi là bước khởi đầu của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt
11


Nam. Từ một nền nông nghiệp quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung,
quan liêu, bao cấp, qua quá trình đổi mới, đến nay chúng ta đã có một cơ chế
quản lý kinh tế phù hợp, nền nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện.
Thành tựu lớn nhất mà công cuộc đổi mới đem lại cho người nông dân là trao
cho họ quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, được lựa chọn hình thức tổ
chức sản xuất, mua bán sản phẩm. Tuy vậy, những hạn chế sau 20 năm đổi
mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam được các tác giả đề cập
như: tăng trưởng chậm lại và thiếu tính bền vững; nông thôn đang có chiều
hướng tụt hậu; đời sống của nông dân nhìn chung còn thấp, ở nhiều vùng
chậm được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, phát sinh nhiều vấn đề xã hội
bức xúc…;

nước, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 1998 [96]; TS Lê Phương Thảo
và TS Doãn Hùng đồng chủ biên cuốn: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1998 [147] đề cập đến vai trò của Đảng trong
phát triển kinh tế, nhấn mạnh quá trình tìm tòi, đổi mới nông nghiệp của
Đảng. Từ đó, các tác giả đi đến kết luận, trên cơ sở đổi mới tư duy, trước hết
là tư duy kinh tế, trong đó kinh tế nông nghiệp là khâu đột phá đã mở đường
cho quá trình đổi mới đưa đất nước vươn lên. Trong quá trình Đảng lãnh đạo
sự nghiệp cải biến nông nghiệp đầy khó khăn đó đã để lại nhiều kinh nghiệm
quý báu, những bài học tham khảo bổ ích trong thực hiện chính sách phát
triển nông nghiệp hiện nay.
Những chính sách nông nghiệp luôn có tác động sâu sắc đến sự phát
triển chung của nền kinh tế, nhất là ở những quốc gia mà nông nghiệp là
ngành chiếm phần lớn số lao động như Việt Nam. Với quan điểm trên,
PGS,TS Nguyễn Văn Bích và KS Chu Tiến Quang đồng tác giả cuốn: Chính
sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông
thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1996 [13] đề cập đến
các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, như: Chính sách
kinh tế nhiều thành phần; chính sách ruộng đất; chính sách thị trường; chính
sách đầu tư, phát triển kinh tế nông thôn; chính sách tín dụng; chính sách
khoa học công nghệ chuyển giao kỹ thuật cho nông dân… Các tác giả khẳng
định các chính sách này tạo lập khuôn khổ pháp lý, môi trường thuận lợi thúc
đẩy nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển trong những năm đầu của
thời kỳ đổi mới và tiếp tục được phát huy trong những giai đoạn tiếp theo.
Tuy vậy, các tác giả cũng nêu những hạn chế về chính sách của Nhà nước dẫn
đến những thách thức, mâu thuẫn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Qua
đó, các tác giả đề xuất các giải pháp lớn trong việc hoạch định chính sách
đúng đắn, khắc phục hạn chế để phát triển toàn diện nông nghiệp và kinh tế
nông thôn.
13


nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986- 2011), Nxb
Chính trị- Hành chính, năm 2012 [67]. Cuốn sách có ba chương nghiên cứu 3
giai đoạn khác nhau: trước năm 1986; từ năm 1986 đến năm 1996 và những
năm 1996- 2011. Tác giả nghiên cứu toàn diện đường lối phát triển kinh tế
14


nông nghiệp, trọng tâm là Đảng lãnh đạo thực hiện đổi mới cơ chế quản lý
trong nông nghiệp, như: quản lý ruộng đất, giải phóng sức lao động, phát huy
sự năng động sáng tạo của người nông dân, đồng thời phân tích những biến
đổi của đời sống xã hội nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Tác giả
đưa ra những nhận định, đánh giá xác đáng, nhất là những đánh giá về hạn
chế, yếu kém sai lầm khuyết điểm trong quá trình thực hiện chính sách đối
với nông nghiệp, nông dân. Qua đó, gợi mở phương hướng giải pháp nhằm
thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng giai
cấp nông dân hiện nay.
Một số công trình khác nghiên cứu chủ trương của Đảng về từng lĩnh
vực cụ thể của kinh tế nông nghiệp, như công trình: Đối mới cơ chế quản lý
kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam của PGS,TS Trương Thị Tiến, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, năm 1999. Nội dung cuốn sách phân tích những bất hợp lý,
phi hiệu quả cản trở lực lượng sản xuất phát triển của cơ chế quản lý kinh tế
nông nghiệp thời kỳ trước đổi mới “cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp trước
đổi mới đã triệt tiêu tính tích cực, chủ động của người lao động, của hộ gia
đình và bản thân các HTX, các nông trường quốc doanh, làm mất động lực
của sự phát triển” [150, tr. 213]. Qua đó, tác giả khẳng định, đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế nông nghiệp là nhu cầu cấp thiết. Đổi mới cơ chế quản lý bắt
đầu từ chủ trương của Đảng trong Hội nghị Trung ương sáu (8-1979) đến Chỉ
thị 100- CT/TW của Ban Bí thư, Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Nghị quyết
10 của Bộ Chính trị… được tác giả phân tích khá kỹ, làm toát lên quá trình
từng bước đổi mới tư duy trong quản lý kinh tế nông nghiệp.

học Quốc gia Hà Nội, năm 2011 [91] trình bày có hệ thống quan điểm, chủ
trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp trong những năm 1986- 2006. Kết quả nghiên cứu của luận án
góp phần làm rõ sự phát triển nhận thức của Đảng về chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp và tác động đến sự phát triển kinh tế- xã hội trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH. Qua đó, luận án đánh giá những ưu điểm, hạn chế và rút ra
một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ tỉnh Thanh
Hóa, tác giả Nguyễn Văn Vinh có đề tài Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1986 đến 2005, luận án tiến sĩ
lịch sử, Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm
2010 [172]. Luận án khái quát quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa những năm 1986- 2005. Luận án
16


nêu ra kết quả đạt được và đúc kết những kinh nghiệm trong lãnh đạo chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ. Qua đó luận án chỉ rõ những
định hướng cơ bản của Đảng bộ Thanh Hóa về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp theo hướng đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển bền vững.
Bàn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu là luận
án tiến sĩ lịch sử của Đào Thị Bích Hồng với đề tài Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu
lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2006, Đại học
Quốc gia Hà Nội, năm 2011. Theo tác giả, “Một trong những nội dung cốt lõi
của quá trình phát triển kinh tế- xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH là sự hình
thành và biến đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế”[76, tr. 1]. Tác giả tập trung
nghiên cứu vai trò của Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của tỉnh từ năm 1997 đến năm 2006. Từ kết quả đạt được trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, luận án rút ra một số nhận xét kinh nghiệm

luận và thực tiễn về lịch sử nông nghiệp Hải Phòng làm cơ sở hoạch định
chính sách, đề ra các giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ
thành phố Hải Phòng trong thời kỳ mới.
Tác giả PGS,TS Đan Đức Hiệp có cuốn sách Kinh tế Hải Phòng 25
năm đổi mới và phát triển (1986- 2010), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
năm 2010 [69]. Trên cơ sở hệ thống hóa các thông tin, tư liệu, số liệu, kết quả
thực tiễn, cuốn sách khái quát quá trình phát triển của kinh tế Hải Phòng sau
25 năm đổi mới. Đặc biệt, cuốn sách trình bày những bước phát triển của
nông nghiệp thành phố trong chặng đường đổi mới gắn liền với vai trò của
Đảng bộ thành phố Hải Phòng, từ việc tổng kết phong trào “khoán chui” của
các địa phương, đề ra Nghị quyết 24 của Thành ủy đến việc vận dụng Chỉ thị
100- CT/TW của Ban Bí thư Trung ương, Nghị quyết 10- NQ/TW của Bộ
Chính trị, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII… đều phản ánh sự năng động,
sáng tạo của Đảng bộ từng bước đưa kinh tế nông nghiệp thành phố vượt qua
khủng hoảng để phát triển.
Đổi mới mô hình hợp tác xã sản xuất nông nghiệp hiện nay ở huyện An
Lão- Hải Phòng của Đoàn Văn Dân (1993), luận án phó tiến sĩ kinh tế, Đại
học Kinh tế Quốc dân [42], nghiên cứu quá trình chuyển đổi mô hình HTX
nông nghiệp ở huyện An Lão- Hải Phòng trong hoàn cảnh vai trò kinh tế hộ
được coi trọng, trở thành đơn vị kinh tế tự chủ. Luận án khẳng định vai trò to
lớn của kinh tế hợp tác và tính tất yếu phải chuyển đổi các HTX từ mô hình
HTX kiểu cũ sang hình thức HTX kiểu mới. Qua đó, luận án chỉ ra phương
hướng, giải pháp chuyển đổi các mô hình HTX kiểu cũ ở huyện An Lão,
thành phố Hải Phòng.
18


Luận án tiến sĩ Lịch sử của Nguyễn Ngọc Hà về Kinh tế hộ nông
nghiệp ở Hải Phòng từ 1986 đến 1996, Đại học Sư Phạm Hà Nội, 2002 [66]phân tích quá trình tái lập và phát triển kinh tế hộ nông nghiệp Hải Phòng
những năm 1986- 1993 và 1993- 1996 dưới tác động của đường lối đổi mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status