TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC
==========
ĐỖ THỊ HÒA
TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA J. DEWEY
TRONG TÁC PHẨM “KINH NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa: QH-2015-X
Hà Nội – 2019
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC
==========
ĐỖ THỊ HÒA
TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA J. DEWEY
TRONG TÁC PHẨM “KINH NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa: QH-2015-X
CHƢƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA JOHN
DEWEY TRONG TÁC PHẨM “KINH NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC” ............... 24
2.1. Nền giáo dục cổ truyền và nền giáo dục tiến bộ. ...................................... 24
2.2. Kinh nghiệm là nền tảng của nền giáo dục tiến bộ. .................................. 28
2.3. Tổ chức nội dung giáo dục và vai trò của ngƣời thầy .............................. 35
2.4. Đánh giá giá trị, hạn chế và giá trị tham khảo của tƣ tƣởng giáo dục của
J.Dewey đối với giáo dục Việt Nam ................................................................ 39
2.4.1. Những giá trị ....................................................................................... 39
2.4.2. Những hạn chế .................................................................................... 42
2.4.3. Những giá trị tham khảo cho nền giáo dục Việt Nam hiện nay.......... 43
C. KẾT LUẬN .................................................................................................... 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 54
1
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử nhân loại, vấn đề về giáo dục là một trong những chủ đề nhận
đƣợc sự quan tâm và nghiên cứu nhiều nhất. Điều đó bởi giáo dục phản ánh tầm
nhìn cũng nhƣ mục tiêu và chiến lƣợc phát triển của từng quốc gia, từng dân tộc,
nó định hƣớng vào việc hình thành và triển khai những tiềm năng thể chất, trí
tuệ và tinh thần của xã hội. Đồng thời giáo dục cũng có vai trò quyết định trong
việc đào tạo những công dân tƣơng lai của đất nƣớc.
Ở mỗi thời đại, giáo dục luôn có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của
xã hội. Trong giai đoạn hiện nay hơn bao giờ hết giáo dục và đào tạo càng có ý
nghĩa quyết định không chỉ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội mà cả đối với
công cuộc bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nƣớc. Mục đích của giáo dục là vì
sự phát triển cá nhân, và sự tiến bộ của xã hội, ở đâu có con ngƣời thì ở đó đều
cần có sự quản lí, tổ chức, giáo dục con ngƣời. Vấn đề đặt ra ở đây là việc giáo
thế giới. Do vậy, việc nghiên cứu, tiếp thu một cách có chọn lọc những triết lý
giáo dục của ông là cần thiết cho một nền giáo dục hiện đại ở Việt Nam.
Với những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Tư tưởng giáo dục của John
Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” làm đề tài cho khóa luận
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về tƣ tƣởng triết học giáo dục là chủ đề lôi cuốn sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu. Ở Việt Nam, theo sự hiểu biết của tôi, đã có các công
trình nghiên cứu sau đây về tƣ tƣởng triết học nói chung và tƣ tƣởng giáo dục
nói riêng của J. Dewey:
Trƣớc hết là cuốn Lịch sử triết học xuất bản năm 1992, do GS.TS Nguyễn
Hữu Vui làm chủ biên. Các tác giả đã nghiên cứu có hệ thống về các trào lƣu
triết học cũng nhƣ các triết gia lớn của triết học phƣơng Tây. Tuy nhiên, do mục
đích của mình, cuốn sách chƣa trình bày cụ thể và chi tiết về từng trào lƣu, mà
mới dừng lại ở việc tóm tắt và khái quát về các học thuyết phƣơng Tây hiện đại.
Tiếp theo là cuốn Lịch sử triết học phương Tây và Triết học Mỹ do Bùi
Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng đồng tác giả (Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ
Chí Minh, 2006) nói đến tƣ tƣởng giáo dục của John Dewey – một phƣơng tiện
3
để hình thành giá trị đạo đức, xây dựng dân chủ trong xã hội nhƣng còn khá
chung chung.
Trong cuốn Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại cuối thế kỷ
XIX - nửa đầu thế kỉ XX (Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2008), các tác
giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh đã giới thiệu khái quát về
thực dụng luận và các đại diện tiêu biểu trong hệ thống lịch sử triết học phƣơng
Tây hiện đại.
Nghiên cứu trực tiếp về tƣ tƣởng giáo dục của J. Dewey có thể kể đến các
nghiệm và giáo dục” của Quách Hoàng Công, Hà Lê Dũng đƣợc in trên Tạp chí
khoa học và công nghệ, Trƣờng đại học Khoa học Huế, tập 1 số 2 năm 2014.
Trong bài viết này tác giả đã tập trung luận giải một số triết lý giáo dục của
J.Dewey qua việc khảo sát tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”.
Nhƣ vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về John Dewey và triết lý giáo
dục của ông, tuy nhiên nghiên cứu trực tiếp về quan niệm giáo dục của John
Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” thì còn khá khiêm tốn và
mới chỉ dừng ở các bài báo. Chính vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu tƣ tƣởng giáo
dục của J.Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” sẽ bổ sung thêm
một công trình nghiên cứu chuyên sâu về triết lý giáo dục của ông, đồng thời
qua đó chúng ta có thể rút ra những giá trị tham khảo đối với phát triển nền giáo
dục Việt Nam hiện nay .
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Khóa luận phân tích làm rõ những nội dung cơ bản trong tƣ tƣởng
giáo dục của J.Dewey qua tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”, từ đó đƣa ra đánh
giá về giá trị, hạn chế và những giá trị tham khảo đối với giáo dục ở Việt Nam hiện
nay.
Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích trên, khóa luận có các nhiệm vụ sau:
- Trình bày điều kiện, tiền đề tƣ tƣởng cho sự ra đời tƣ tƣởng giáo dục của J.
Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”.
- Phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của tƣ tƣởng giáo dục của J.
Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”.
5
- Đƣa ra một số đánh giá về những giá trị và hạn chế trong tƣ tƣởng triết
học giáo dục của Dewey và giá trị tham khảo của tƣ tƣởng giáo dục J. Dewey
đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay.
CHƢƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC
CỦA J.DEWEY VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁC PHẨM “KINH
NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC”
1.1. Điều kiện và tiền đề tƣ tƣởng ra đời tƣ tƣởng giáo dục của J.
Dewey
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa nƣớc Mỹ thế kỷ XX
Cuối thế kỷ XIX, các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa chuyển sang giai đoạn đế quốc
chủ nghĩa, đặc biệt nƣớc Mỹ đã trải qua những thay đổi to lớn. Lúc này Mỹ đang
phát triển và trƣởng thành, những biến đổi về tình hình kinh tế đã kéo theo nhiều
sự thay đổi trên các lĩnh vực chính trị,văn hóa, xã hội và khoa học.
Sau cuộc nội chiến (1861 – 1865), chủ nghĩa tƣ bản Mỹ phát triển một cách
vƣợt bậc. Nƣớc Mỹ do đặc điểm lịch sử nên không gặp phải sự cản trở của thế
lực phong kiến đã phát triển khá thuận lợi. Mỹ là nƣớc sớm chú trọng đến sự
phát triển khoa học công nghệ nên sớm đầu tƣ cho việc phát minh khoa học
công nghệ, điều đó cho phép Mỹ có thể áp dụng kĩ thuật tiến tiến nên năng suất
lao động khá cao.
Những điều kiện thuận lợi trên đã cho phép nền kinh tế Mỹ phát triển có
tính đột phá và đạt những thành tựu to lớn. Thời kỳ này còn đƣợc gọi là thời kỳ
tiến bộ trong lịch sử phát triển nƣớc Mỹ. Mỹ trở thành cƣờng quốc công nghiệp
hàng đầu thế giới ngay ngƣỡng cửa của thế kỷ XX vì sự bùng nổ của giới doanh
nghiệp tƣ nhân tại miền bắc và làn sóng di dân mới đến của hàng triệu công
nhân và nông dân từ châu Âu. Ngành công nghiệp trở thành đầu tàu lôi kéo sự đi
lên của các ngành khác với quá trình tập trung hóa cao độ và sự hình thành các
tập đoàn công nghiệp và các công ty tập trung. Nông nghiệp với sự áp dụng các
thành tựu của khoa học công nghệ và đƣợc sự hỗ trợ của chính phủ cho đầu ra
các sản phẩm, kết hợp với dự án hợp tác nghiên cứu với các trƣờng đại học, các
viện nghiên cứu đã cho ra đời những nông sản phẩm chất lƣợng tốt và có khả
năng nuôi trồng cao, khiến nông nghiệp không chỉ phục vụ đƣợc nhu cầu của đại
đa số ngƣời dân trong nƣớc mà còn có thể xuất khẩu. Trong bối cảnh vận dụng
chính hùng mạnh sụp đổ, lạm phát tiền tệ, các ngân hàng vỡ nợ, các tập đoàn
công nghiệp liên tục phá sản, nông sản đƣợc sản xuất với số lƣợng lớn nhƣng
không tìm kiếm đƣợc đầu ra dần trở nên rẻ mạt, trong khi các hàng hóa khác trở
8
nên khan hiếm và trở nên hết sức đắt đỏ, hàng trăm ngƣời không tìm đƣợc việc
làm, đời sống ngƣời dân trở nên hết sức khó khăn….
Sự khủng hoảng của nền kinh tế đã tạo ra thử thách lớn đối với bối cảnh
chính trị nƣớc Mỹ lúc này. Khi đó mối quan tâm hàng đầu của nƣớc Mỹ là: làm
sao để thoát khỏi khủng hoảng và khôi phục lại nền kinh tế phát triển thịnh
vƣợng nhƣ trƣớc đây. Nơi từng đƣợc gọi là mảnh đất của những vận hội và niềm
hy vọng giờ đây trở thành miền đất đầy âu lo và tuyệt vọng. Cuộc bầu cử tổng
thống năm 1932 với sự thắng lợi của ứng viên Đảng Dân chủ Franklin Roosevelt
(1882 – 1945) một lần nữa khẳng định niềm tin của ngƣời dân Mỹ với những tín
điều về dân chủ. Quá trình thực hiện kinh tế mới (New Deal) của tổng thống
Roosevelt với bản chất từ bỏ chủ nghĩa tƣ bản phi điều tiết, trở lại kiểm soát hệ
thống kinh tế của đất nƣớc với việc đƣa ra hàng loạt cải cách luật pháp bang và
liên bang, tạo việc làm cho thanh niên qua các dự án công cộng, hỗ trợ các
doanh nghiệp, cắt giảm sản lƣợng và trợ cấp cho nông nghiệp….Việc can thiệp
vào thị trƣờng của chính phủ Mỹ đã dần đƣa kinh tế Mỹ trở về quỹ đạo vốn có,
xây dựng một liên minh chính trị vững chắc và thu hút sự quan tâm của ngƣời
dân đối với chính phủ. Kết quả là, cuộc suy thoái chính thức kết thúc năm 1941
khi nƣớc Mỹ có ý định tham chiến vào Thế chiến lần thứ hai.
Đây cũng là thời kỳ chứng kiến bƣớc chuyển mình của Mỹ từ một nƣớc với
nền cộng hòa non trẻ sang một nƣớc đế quốc với xu hƣớng mở rộng tầm ảnh
hƣởng ra khu vực Thái Bình Dƣơng và khu vực Mỹ - La tinh với hàng loạt
những quyết sách nhƣ mua lại Alaska từ Nga (1867), kiểm soát Puerto Rico,
Guam, Cuba và quần đảo Philippines (sau khi thắng Tây Ban Nha năm 1898),
sát nhập quốc đảo Hawaii (1893), xây dựng kênh đào Panama (1914) nhằm đáp
Về triết học, chủ nghĩa Hegel mới bùng phát trên đất Mỹ với mục tiêu khôi
phục triết học Hegel nhằm giải quyết vấn đề cũng nhƣ thách thức chính trị - xã hội
nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Điều này đã có ảnh hƣởng
không nhỏ tới nền học thuật nƣớc Mỹ trong những năm 1860. Một thời gian sau,
dòng triết học này đã bị triết học thực dụng phê phán và thay thế. J.Dewey bắt đầu là
một ngƣời theo triết học Hegel nhƣng đã sớm chuyển sang chủ nghĩa thực dụng.
Triết học thực dụng ra đời trong những năm 1871 đến 1874 tại câu lạc bộ
Siêu hình, thuộc đại học Havard do Charles Sanders Peirce (1839 – 1914) và
một số thành viên khác sáng lập. Sau này đƣợc William James (1842 – 1910)
10
phát triển. John Dewey (1859 – 1952) đƣợc biết đến là ngƣời đã nêu cao ngọn
cờ thực dụng trên hầu hết những khía cạnh của cuộc sống.
Khoa học kỹ thuật cũng có bƣớc phát triển toàn diện, trong đó có ảnh
hƣởng lớn nhất đối với khoa học Mỹ phải kể đến là Thuyết Tiến hóa của Darwin
mà chính chủ nghĩa thực dụng đã lấy lý thuyết này làm căn cứ khoa học.
Nhƣ vậy, trƣớc sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế và khoa học tự nhiên,
cũng đòi hỏi khoa học nhân văn phải thay đổi theo. Chính bối cảnh kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội ấy đã ảnh hƣởng không nhỏ tới sự ra đời triết học của
J.Dewey nói chung và sự phát triển những suy tƣ về giáo dục của ông nói riêng.
1.1.2. Tiền đề tƣ tƣởng của tƣ tƣởng giáo dục của J.Dewey
Ngoài những điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa nƣớc Mỹ cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX, tƣ tƣởng giáo dục của J.Dewey còn ra đời trên cơ sở kế
thừa tƣ tƣởng giáo dục của các triết gia trong lịch sử, trong đó trực tiếp là tƣ
tƣởng triết học của Wilhelm von Humboldt và hai bậc tiền bối trong chủ nghĩa
thực dụng đó là Charles Sander Peirce và William James. Khóa luận sẽ đi sâu
trình bày sự ảnh hƣởng của các triết gia trên đối với tƣ tƣởng giáo dục của J.
Dewey.
trò vì tri thức chỉ có thể có đƣợc thông qua tìm tòi, trao đổi, đối thoại. Một điểm
khác nữa trong lý tƣởng giáo dục của Humboldt là quan niệm cho rằng còn
ngƣời là sinh vật nỗ lực học tập và làm việc suốt đời vì thế việc đào luyện
(bildung) con ngƣời là một tiến trình không kết thúc và không thể dừng lại giữa
đƣờng.
Lý tƣởng giáo dục của Humboldt xoay quanh từ “bildung” – một từ tiếng
Đức mang rất nhiều hàm ý, thƣờng đƣợc dịch ra tiếng Anh đơn giản là
“education”, trong khi thực tế nó gần gũi hơn với từ “formation” hay “paideia”
trong tiếng Hi Lạp có nghĩa là giáo dục con ngƣời, giáo dục nhân tính cho mỗi
cá nhân để cá nhân có thể tham gia vào quá trình cùng chung sống với các thành
viên khác trong xã hội. Trong lý luận giáo dục của mình, ngƣợc lại với quan
điểm của Heghel về nhiệm vụ giáo dục công dân của nhà nƣớc, Humboldt phê
phán mọi nỗ lực của nhà nƣớc và xã hội muốn gò ép cá nhân theo những định
hƣớng và mục đích của riêng mình. Theo Humboldt, nhiệm vụ chính của nhà
nƣớc là đảm bảo an ninh và tích cực hỗ trợ nhƣng không can thiệp quá sâu vào
giáo dục. Theo ông, không những phải đảm bảo giáo dục miễn phí cho mọi công
12
dân, nhà nƣớc còn phải bảo vệ quyền lợi đƣợc giáo dục của trẻ em, chống lại
những ép buộc vô lý nhằm hạn chế việc học hành của trẻ em từ phụ huynh theo
tinh thần khai sáng của triết học giáo dục do Rousseau khởi xƣớng.
Trong những nỗ lực cải cách giáo dục của mình, với mong muốn tạo sức
mạnh tinh thần cho ngƣời Đức, Humboldt đã đề xuất thành lập và trao quyền tự
chủ tài chính cho bộ giáo dục và các trƣờng đại học ở Đức. Tuy nhiên, đề xuất
của ông đã không đƣợc thực thi. Cống hiến lớn nhất của ông là thành lập Đại
học Berlin sau này mang tên ông. Mô hình trƣờng đại học Humboldt đƣợc xây
dựng theo mô hình giảng dạy kết hợp nghiên cứu, trƣờng đại học phải thiết lập
chƣơng trình giáo dục tổng quát, trƣờng đại học phải dạy mọi loại khoa học,
không đơn thuần tập trung vào dạy nghề. Trƣờng đại học phải hình thành một
sinh tồn của con ngƣời. Về bản chất, lý luận này của ông là quá trình phát triển
của nhận thức con ngƣời từ trạng thái băn khoăn khi đối mặt với những tình
huống mới lạ của cuộc sống đến trạng thái rõ ràng, nhận thức toàn diện bản chất
của sự vật. Từ đó, con ngƣời có thể đƣa ra những hành động cụ thể phù hợp với
hoàn cảnh đã đƣợc nhận thức. Peirce gọi trạng thái nhận thức rõ ràng đó là
“niềm tin”. Theo nghĩa rộng hơn, niềm tin là tri thức cuối cùng mà con ngƣời
đạt đƣợc về bản chất sự vật. Từ cách suy nghĩ nhƣ trên, Peirce cho rằng con
ngƣời cần có những phƣơng pháp hợp lý để củng cố niềm tin hay đạt tới tri thức
đúng đắn. Ông phân loại các phƣơng pháp đó gồm phƣơng pháp quyền uy,
phƣơng pháp cƣỡng ép, phƣơng pháp tiên nghiệm và phƣơng pháp khoa học.
Trong các phƣơng pháp trên thì theo ông chỉ có phƣơng pháp khoa học là
phƣơng pháp tốt nhất để xác định niềm tin vì nó có thể kiểm nghiệm đƣợc trong
thực nghiệm và cho rằng, tiêu chuẩn cơ bản để xác định niềm tin chính là lấy
hiệu quả thực tế làm cơ sở.
Phƣơng pháp khoa học của Peirce gồm 3 bƣớc nhƣ sau: giả thuyết
(abduction), suy luận (deduction) và quy nạp (induction). Giả thuyết là bƣớc đầu
tiên, đƣợc ông định nghĩa là “quá trình hình thành các giả thuyết giải thích”.
Bƣớc giả thuyết chủ yếu dựa trên quan sát các dữ kiện thực tế nhằm xác định
những gì chúng ta cho là đúng dựa trên nguyên tắc chung nhất định. Bƣớc thứ
hai là suy luận. Ta tiến hành bƣớc này dựa trên những giả thuyết từ bƣớc thứ
nhất, từ đó đoán ra các tình huống có thể xảy ra mà bản thân ta phải đối mặt
trong tƣơng lai. Bƣớc cuối cùng của quá trình này là quy nạp. Bƣớc này đƣợc sử
14
dụng nhằm đánh giá các dự đoán về độ tin cậy và giá trị của các giả thuyết đƣợc
tạo ra qua giả thuyết và suy luận, từ đó tiến hành các thử nghiệm và kiểm chứng
cần thiết để đạt tới tri thức khách quan, khoa học.
Chính lý thuyết này đã có ảnh hƣởng lớn đến tƣ tƣởng của J. Dewey khi
xây dựng lý thuyết về bản chất, phƣơng pháp của giáo dục. Bên cạnh đó, chính
khái niệm “kinh nghiệm thuần túy” và “dòng cuộc sống” (the stream of life).
Theo James thì ông gọi dòng cuộc sống là kinh nghiệm thuần túy, chính dòng
cuộc sống này là chất liệu, vật chất cung cấp cho chúng ta sau này phạm trù
phản tƣ và tính khái niệm của nó. Qua đó, ta có thể nhận thấy, kinh nghiệm, theo
James không chỉ là khoa học, là văn hóa hay các đối tƣợng vật lý trong thế giới
sự vật khách quan, nó là hoạt động suy nghĩ, tƣ tƣởng, cảm xúc, tâm thức của cá
nhân. Do đó ta không thể cắt nghĩa mà chỉ có thể cảm nhận kinh nghiệm. Khi
trình bày cách hiểu cụ thể về “dòng ý thức” ông đƣa ra một số đặc trƣng sau:
Thứ nhất: Tƣ tƣởng là tƣ tƣởng của cá nhân.
Thứ hai: Tƣ tƣởng vĩnh viễn là biến đổi, thay đổi liên tục và không bao
giờ tĩnh tại.
Thứ ba: Tƣ tƣởng có thể dịch chuyển từ ngƣời này qua ngƣời khác thông
qua giao tiếp và truyền đạt.
Thứ tƣ: Tƣ tƣởng có tính độc lập tƣơng đối với ý thức nên hai tâm thức có
thể trải nghiệm cùng một sự vật.
Thứ năm: Tƣ tƣởng có tính lựa chọn, liên quan đến lợi ích và hứng thú
của mọi ngƣời.
Từ lý luận về tâm lý học, lý luận dòng ý thức và đặc biệt là vấn đề liên
quan đến hứng thú của mọi ngƣời của James dƣờng nhƣ đã mở ra một hơi
hƣớng mới cho J. Dewey khi trong tƣ tƣởng giáo dục ông đề cao vai trò của kinh
nghiệm, đề cao vai trò của ngƣời học, lấy ngƣời học làm trung tâm, và giáo dục
chính là cuộc sống hiện tại của mỗi ngƣời.
Bên cạnh đó những tƣ tƣởng về phƣơng pháp của chủ nghĩa thực dụng là
đề cao vai trò của phƣơng pháp khoa học của James hay tƣ tƣởng về chân lý
cũng có những tác động nhất định trong việc hình thành tƣ tƣởng giáo dục của
ông.
Nhƣ vậy, tƣ tƣởng giáo dục của J.Dewey không chỉ ra đời từ yêu cầu trực
tiếp của thực tiễn xã hội Mỹ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, mà còn là sự tiếp
16
Harriet Alice Chipman. Họ có 7 ngƣời con, trong đó có một ngƣời là con nuôi.
17
Đặc biệt chính vợ ông là bà Alice Chipman đã khiến ông soạn thảo bài viết My
pedagogic creed (Cƣơng lĩnh sƣ phạm của tôi). Từ đây, J. Dewey bắt đầu quan
tâm đến giáo dục công. Ông là thành viên sáng lập của câu lạc bộ Michigan
Schoolmaster trong nỗ lực thúc đẩy sự hợp tác giữa các trƣờng trung học công
lập với các giảng viên đại học.r
Năm 1888, ông và gia đình rời Michigan. Ông trở thành giáo sƣ triết học
ở Đại học Minnesota. Tuy nhiên, một năm sau, ông lại quay trở về Đại học
Michigan và dạy ở đó trong 5 năm tiếp theo.
Năm 1894, ông đƣợc bổ nhiệm làm trƣởng khoa triết học, Đại học
Chicago. Ông làm việc ở Đại học Chicago cho tới năm 1904, đồng thời làm
giám đốc của Trƣờng Giáo dục trong 2 năm.
Dewey rời Chicago vào năm 1904 để trở thành giáo sƣ triết học ở Đại học
Columbia – nơi mà ông làm việc trong 26 năm sau đó rồi về hƣu.
Ông thƣờng tìm cách truyền bá ý tƣởng của mình tới một cử tọa rộng lớn
hơn và đã viết hàng loạt bài báo và nhiều cuốn sách đặc sắc. Sự quan tâm đến
giáo dục của Dewey bắt đầu vào những năm ông giảng dạy tại Michigan. Ông
nhận thấy hầu hết các trƣờng học đều đi theo những đƣờng hƣớng đƣợc thiết
định bởi những truyền thống cũ kỹ và không biết điều chỉnh theo những khám
phá mới nhất của tâm lý học trẻ em và theo những nhu cầu của một trật tự xã hội
dân chủ đang thay đổi. Việc tìm kiếm một triết lý giáo dục để có thể sửa chữa
những khiếm khuyết ấy trở thành mối bận tâm chính đối với Dewey và là một
chiều kích mới thêm vào tƣ duy của ông.
Các tác phẩm gây ảnh hƣởng nhất của ông là những tác phẩm bàn về giáo
dục, dân chủ, đạo đức học, tôn giáo và nghệ thuật.
Tác phẩm biểu hiện tập trung tƣ tƣởng của J. Dewey là Lôgic học: Lý
thuyết thẩm tra (Logic: The Theory of Inquinry, 1938), tác phẩm đƣợc nhiều
Từ yêu cầu thực tiễn đƣợc đặt ra nhƣ vậy ở J. Dewey đã hình thành và
phát triển tƣ tƣởng của mình. Khi bắt đầu xây dựng sự nghiệp triết học dần dần
thúc đẩy ông nghiên cứu về giáo dục. Ông nhận thấy hầu hết các trƣờng học ở
Mỹ khi đó đều đi theo con đƣờng giáo dục truyền thống không còn phù hợp với
một xã hội đang biến đổi dần dần. Việc tìm kiếm một triết lý giáo dục mới trở
thành mối bận tâm của J. Dewey, kích thích sự suy tƣ của ông về vấn đề này.
Khi giảng dạy triết học và làm trƣởng khoa ở Đại học Chicago ông đã đề xuất
19
những tƣ tƣởng cơ bản của thuyết công cụ làm nền tảng cho triết lý về giáo dục
và đã bắt đầu hình dung ra mô hình trƣờng học phù hợp. Từ những kinh nghiệm
có đƣợc khi giảng dạy và sự nghiên cứu nghiêm túc của bản thân, tác phẩm Kinh
nghiệm và giáo dục (Experience and Education) ra đời, nó là sự chuẩn bị lâu dài
của ông khi tƣ tƣởng về giáo dục đã ở giai đoạn chín muồi.
J.Dewey chính là nhà thực dụng có ảnh hƣởng lớn nhất đối với sự phát
triển của nền giáo dục Mỹ. Tên tuổi J.Dewey trở thành thần tƣợng của nhiều thế
hệ trí thức. Về khía cạnh giáo dục, J.Dewey là ngƣời đã phát triển một lý thuyết
triết học đề cao tính đồng kết giữa lý thuyết và thực hành. Bản thân ông cũng đã
thực nghiệm lý thuyết này trong sự nghiệp giáo dục của mình. Lý luận giáo dục
của ông nhằm tạo ra một bƣớc đột phá trong giáo dục, phê phán mạnh mẽ nền
giáo dục truyền thống, tạo một bƣớc ngoặt trong phong trào canh tân giáo dục ở
Mỹ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Ông xứng đáng đƣợc xem là “cha đẻ” của
phong trào tân giáo dục với học thuyết về giáo dục đồ sộ của mình. Mô hình
giáo dục thực nghiệm của ông đƣa ra đã ảnh hƣởng và đƣợc sự ủng hộ của rất
nhiều nƣớc trên thế giới và đến nay nó vẫn ảnh hƣởng. Mặc dù vẫn bị phê bình,
đôi khi còn bị chỉ trích nặng nề, nhƣng với những nỗ lực đóng góp thực hiện ý
tƣởng của mình và hoài bão canh tân giáo dục, J.Dewey xứng đáng đƣợc công
nhận là một trong những nhân vật kiệt xuất của nền giáo dục và triết học Mỹ.
1.2.2. Khái quát chung về tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”1
và “Sự tổ chức nội dung một cách tiến bộ”. Chƣơng cuối cùng là “Kinh nghiệm
là phƣơng tiện và mục tiêu của giáo dục” chỉ gồm ngắn gọn 3 đoạn và chƣa đến
4 trang giấy. Cuốn sách đánh giá những thực tiễn của cả trƣờng học cổ truyền
lẫn trƣờng học tiến bộ và chỉ ra những khuyết điểm của mỗi trƣờng học ấy.
Nhƣng tuyệt nhiên cuốn sách không mang tính tranh luận. Trong khi xem xét
những vấn đề giáo dục ở thời điểm ông, J.Dewey đã giải thích một triết học của
kinh nghiệm và những gợi ý do phƣơng pháp khoa học mang lại cho lĩnh vực
giáo dục.
Kinh nghiệm và giáo dục là một phân tích sáng suốt sâu sắc của J.Dewey
về cả nền giáo dục “cổ điển” lẫn nền giáo dục “tiến bộ”. Dĩ nhiên ở đây J.Dewey
muốn ám chỉ những trƣờng học tiến bộ ra đời trong những năm 1920 để chống
lại nhà trƣờng cổ truyền hình thức chủ nghĩa. Ở thời điểm đó do chịu sự ảnh
hƣởng của cải cách hầu hết các trƣờng học tiến bộ đều thuộc sở hữu tƣ nhân do
một giai cấp trung lƣu có đầu óc khoáng đạt xây dựng để phục vụ lợi ích của họ.
Trong cuốn Kinh nghiệm và giáo dục, J.Dewey đã nhắc tới tầm quan trọng của
việc học sinh “nghiên cứu gốc rễ của chúng trong quá khứ” để hiểu đƣợc những
2
Nguyên bản trong tiếng Anh
21
vấn đề của đời sống hiện tại. Nếu nhà trƣờng cổ truyền trông cậy vào những chủ
đề hoặc di sản văn minh để xây dựng nội dung cho nó, thì nhà trƣờng “mới” lại
đề cao tính năng động, sáng tạo, chủ động và sự hứng thú của ngƣời học và
những vấn đề mang tính thời sự. Dewey chỉ ra cả hai tƣ tƣởng giáo dục này đều
không toàn diện. Traditional education (giáo dục truyền thống) chỉ chú tâm đến
nội dung dạy và áp đặt cứng nhắc, không quan tâm đến khả năng cũng nhƣ sự
hứng thú của ngƣời học vì vậy mà ngƣời học phải nhớ rất nhiều những kĩ năng