THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Pdf 72

THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN VĨNH
BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
-----------
2.1. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG
ĐẾN ĐÓI NGHÈO VÀ XĐGN Ở HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (có tổng diện tích tự nhiên
18.054,5 ha) nằm ở phía Tây Nam thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành
phố khoảng 40 km, nằm trên vùng hạ lưu và cửa Sông Thái Bình, Sông Hoá, đổ
ra Biển Đông, phía đông bắc đồng bằng Sông Hồng.
Huyện Vĩnh Bảo nằm ở vị trí giao cắt của Quốc lộ 10 và Tỉnh lộ 17.
Quốc lộ 10 nối liền một số đô thị lớn của đồng bằng Sông Hồng: Thành phố Hải
Phòng, Thị xã Thái Bình và thành phố Nam Định; Tỉnh lộ 17 chạy từ Gia Lộc -
Hải Dương, qua Bến Phà Chanh gặp Quốc lộ 10 tại trung tâm huyện Vĩnh Bảo
rồi chạy tiếp đến Cống Một xã Trấn Dương, huyện Vĩnh Bảo.
Vĩnh Bảo là cửa ngõ phía tây nam của thành phố Hải Phòng có tuyến đường
10 chạy qua nối liền các tỉnh duyên hải Bắc Bộ từ Ninh Bình qua Nam Định, Thái
Bình đến cụm cảng Hải Phòng - Quảng Ninh tạo thành cánh cung duyên hải có ý
nghĩa về kinh tế, chính trị, anh ninh quốc phòng. Vĩnh Bảo nằm trong vùng ảnh
hưởng trực tiếp của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Hà Nội - Hải Phòng - Quảng
Ninh, có hệ thống sông ngòi thuận lợi cho giao lưu kinh tế.
Những năm qua, việc cải tạo và nâng công suất cụm cảng biển Hải
Phòng, Cái Lân và một số cảng biển mới ở khu vực Bắc Bộ cùng với việc cải
tạo, nâng cấp đường 10, gắn liền với việc xây dựng hoàn chỉnh các cầu trên
tuyến đường này như: Tân Đệ, Quý Cao, Tiên Cựu đã mở ra những điều kiện
thuận lợi mới cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện Vĩnh Bảo.
2.1.1.2. Tài nguyên đất đai
Theo số liệu thống kê năm 2004, huyện Vĩnh Bảo có tổng diện tích tự
nhiên là: 18.054,5ha; diện tích đất nông nghiệp là rất lớn:12.896ha (71,4%); đất
chuyên dùng là 3.198 ha, chiếm 17,7%; đất ở chiếm 873 ha, chiếm 4,8%; đất

biển nên hình thành hai mùa rõ rệt, mùa đông lạnh, khô hanh từ tháng 11 đến
tháng 3 năm sau, mùa hè nóng ẩm.
2.1.1.5. Tài nguyên du lịch
Vĩnh Bảo là vùng đất văn vật, có nguồn tài nguyên nhân văn rất quan
trọng đối với phát triển du lịch, Vĩnh Bảo là vùng đất tập trung khá nhiều các di
tích lịch sử văn hoá, nổi bật là quê hương của Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh
Khiêm, cây đại thụ nền văn hoá Việt Nam thế kỷ thứ XVI. Vĩnh Bảo còn có
nhiều môn nghệ thuật mang đậm sắc thái dân tộc như rối nước, rối cạn, chơi
pháo đất ngày tết... có sức hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước.
Do là huyện đồng bằng nên huyện Vĩnh Bảo rất khan hiếm nguồn tài
nguyên khoáng sản (nếu có thì rất nhỏ không đủ để đầu tư khai thác). Đây là
một trong những nhân tố tác động mạnh mẽ đến cơ cấu kinh tế của huyện, đặc
biệt là cho phát triển các cơ sở công nghiệp.
2.1.2. Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá
* Đặc điểm về dân số - lao động
Huyện Vĩnh Bảo có gần 100 ngàn người trong độ tuổi lao động, chiếm
khoảng 51% tổng số dân, trong đó lao động nông nghiệp vẫn là chủ yếu,
chiếmkhoảng 85% tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế của huyện,
chất lượng nguồn lao động nhìn chung còn hạn chế, lao động phổ thông chiếm
đại bộ phận, để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường trong giai
đoạn thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì vấn đề đào tạo mới
và đào tạo lại nguồn lao động đang trở thành cấp bách.
Bảng 2.2: Dân số - lao động của huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
Đơn vị tính: người.
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
I- Tổng dân số 185.534 185.419 185.345
II- Tổng số hộ 49.652 49.659 49.663
1. Hộ nông nghiệp 44.450 44.451 44.452
2. Hộ phi nông nghiệp 5.202 5.208 5.211
III

Bảng 2.3: Thống kê về trường, lớp, giáo viên, học sinh
huyện Vĩnh Bảo năm 2003
Cấp học Mẫu giáo Tiểu học THCS
Số trường 30 31 31
Số lớp 372 548 429
Số giáo viên 379 671 823
Số học sinh 8.479 16.557 16.605
Nguồn: Số liệu của Phòng Thống kê huyện Vĩnh Bảo
Số liệu bảng trên cho thấy, trung bình mỗi xã, thị trấn đều có 01 Trường
Mầm non, tiểu học và THCS, với số lớp học tương đối đầy đủ.
Mặc dù số trường, lớp đã đầy đủ nhưng cơ sở vật chất còn thiếu và cũ kỹ, lạc
hậu. Đồ dùng học tập, thiết bị, dụng cụ phục vụ cho công tác giảng dạy còn ít,
học sinh và giáo viên chỉ học chay bằng lý thuyết, số giờ thực hành rất ít và nếu
có thì học sinh chỉ biết sơ qua. Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì
việc đào tạo về ngoại ngữ và tin học là rất cần thiết nhưng đến nay cả huyện chỉ có
một số trường tiến hành giảng dạy, chủ yếu là học sinh THCS và THPT nhưng cơ
sở vật chất thiếu đồng bộ, máy vi tính thì cũ, chất lượng kém, giờ thực hành ít,
do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy và học của học sinh, hạn chế
sự tiếp xúc, mở rộng hiểu biết của học sinh.
* Y tế
Bệnh viện huyện Vĩnh Bảo là trung tâm y tế lớn nhất của huyện, với tất cả các
khoa, các bộ phận. Năm 2005 huyện đã xây dựng thêm trung tâm đa khoa và
đầu tư trang thiết bị như: Máy chụp X quang, máy soi, máy siêu âm,... để phục
vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong huyện. Hiện nay, số phòng và giường
bệnh đầy đủ, sạch sẽ. Mạng lưới y tế từ huyện đến cơ sở được mở rộng, 100%
xã, thị trấn đều có Trạm xá.
Bảng 2.4: Số cán bộ y tế huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
Tổng Bác sĩ Y sĩ Y tá Nữ hộ sinh
322 57 122 58 37
Nguồn: Phòng thống kê huyện Vĩnh Bảo

thuận lợi trong giao lưu trao đổi văn hoá, kinh tế giữa các vùng trong huyện và
với các tỉnh lân cận.
Thuỷ lợi
Hệ thống thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp khá hoàn chỉnh, tổng diện tích
đất làm thuỷ lợi của huyện là 1.436 ha (không tính sông lớn tự nhiên bao quanh
huyện) nhờ có hệ thống sông bao bọc nên việc cung cấp nước tưới tiêu cho các
vùng trên địa bàn huyện tương đối thuận lợi công trình đầu mối tưới gồmcó
cống Chanh Chử, cống Ba Đồng một và cống Ba Đồng hai, cống Đồng Ngừ, lấy
nước sông cung cấp vào hệ thống kênh chính cung cấp nước tưới cho sản xuất
thông qua một hệ thống các kênh mương trục chính như kênh Chanh Dương
chạy dọc huyện dài 25,5 km, kênh Ba Đồng dài 7,5 km và kênh Đơn dài 3,5 km,
kênh Bạch dài 6,5 km, kênh Chanh Chử dài 7,5 km, kênh An Ninh dài 8 km
ngoài ra trên địa bàn huyện còn có một hệ thống kênh cấp một gồm 17 tuyến
với tổng chiều dài 85,4 km và hệ thống kênh mương nội đồng phục vụ cấp thoát
nước, tại các cửa kênh mương ra các sông lớn có một số cống tiêu nước như
cống một (Trấn Dương), cống Bích Động, công Đơn và 3 trạm bơm tiêu lớn ở 3
vùng là trạm bơm Thượng Đồng (14 máy công suất 4000 m
3
/ h). Trạm bơm
Cộng Hiền, 04 máy công suất 4.000m
3
/h; Trạm bơm Xi Phông Gò Công (công
suất 5,6 m
3
/h). Ngoài ra trên địa bàn huyện có tổng cộng 141 trạm bơm nhỏ nội
đồng phục vụ tưới cục bộ, tuy vậy đối với các vùng trồng rau màu hệ thống thuỷ
lợi hiện tại chưa đáp ứng được việc chủ động cung cấp nước cũng như tiêu nước
đối với diện tích rau màu.
Hệ thống điện
Hệ thống điện nông thôn đã phủ đều khắp 30 xã và thị trấn trong huyện

các xã đều đã lắp đặt hệ thống thông tin bưu điện, thông qua các điêm bưu điện
văn hóa xã. Hệ thống điện thoại đã và đang phát triển đến các xã, thôn xóm,
cụm dân cư và một bộ phận dân cư, nhờ hệ thống giao thông phát triển thông
suốt đến các xã nên hệ thống bưu chính, thông tin từ thành phố về huyện và xã
có thể thực hiện nhanh chóng.
* Kinh tế - xã hội
Bảng 2.5: Cơ cấu kinh tế huyện Vĩnh Bảo
Đơn vị tính: (%)
Năm 2001 2002 2003
Nông nghiệp 67 62,2 65,6
Công nghiệp 12 9,8 13
Dịch vụ 21 25 21,4
Nguồn: Số liệu lấy từ Phòng Thống kê huyện Vĩnh Bảo
Với diện tích đất nông nghiệp chiếm 71,4% tổng diện tích đất của toàn
huyện và chủ yếu là đất phù sa bồi đắp. Nông nghiệp huyện Vĩnh Bảo chủ yếu
là trồng cây lương thực, hoa màu như lúa, ngô, khoai, sắn nên giá trị thấp hơn cây
công nghiệp. Huyện chỉ có nghề truyền thống là trồng cây thuốc lào nhưng rất vất
vả, phụ thuộc nhiều vào thời tiết nên rủi ro cao.
Cũng như sự phát triển cung của cả nước, cơ cấu sản xuất nông nghiệp
luôn cao nhất: Năm 2001 là 67%, năm 2003 là 65,5%. Sản xuất công nghiệp và
dịch vụ còn thấp, do địa bàn huyện không có nhà máy, khu công nghiệp, ... như
các huyện khác mà sản xuất công nghiệp chủ yếu là nghề truyền thống.
Qua phân tích những đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Vĩnh
Bảo ngoài những yếu tố tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế - xã hội của
huyện nói chung, tình trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo nói riêng
còn một số vấn đề tồn tại:
+ Dân số - lao động - việc làm
Mặc dù đã đẩy mạnh việc thực hiện công tác kế hoạch hoá gia đình
nhưng dân số huyện Vĩnh Bảo còn khá đông ảnh hưởng đến đời sống vật chất
tinh thần của nhân dân. Số lao động chưa có việc làm còn cao, những người

sống trong cảnh nghèo.
Bảng 2.6: Tỷ lệ hộ nghèo các quận, huyện thành phố Hải Phòng năm 2000
STT Đơn vị quận, huyện Tỷ lệ hộ nghèo (%)
1 Quận Hồng Bàng 6,9
2 Quận Ngô Quyền 6,3
3 Quận Lê Chân 7,2
4 Quận Hải An 8,1
5 Quận Kiến An 7,9
6 Huyện Cát Hải 17,64
7 Huyện An Lão 19,86
8 Huyện Kiến Thụy 18,57
9 Huyện Vĩnh Bảo 21,66
10 Huyện Tiên Lãng 22,34
11 Huyện An Dương 20,01
12 Huyện Thủy Nguyên 19,35
13 Thị xã Đồ Sơn 16,82
Nguồn: Sở Lao động- Thương binh & xã hội thành phố Hải Phòng
Tiêu chí nghèo 2001-2005 chưa đáp ứng yêu cầu tối thiểu của cuộc sống
(đối với nông thôn 3.300đ/người/ngày, đối với thành phố là
5.000đ/người/ngày). Cho nên một số quận đã cơ bản không còn hộ nghèo, tuy
nhiên tỷ lệ nghèo không đồng đều.
Tỷ lệ đói nghèo trung bình của thành phố là trên 14% (2000) nhưng qua
bảng số liệu trên mức chênh lệch đói nghèo giữa các quận, huyện là rất cao, thể
hiện rõ sự phân hóa giàu nghèo mức sống giữa thành thị và nông thôn. Hầu hết
các quận nội thành tỷ lệ hộ nghèo thấp trong vòng từ 7-9% nhưng ở nông thôn
tỷ lệ này rất cao, gấp hơn 3 lần so với thành thị. Trong đó huyện Tiên Lãng,
Vĩnh Bảo là hai huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất trên 20%. Thông qua kết quả
điều tra nghiên cứu thực tế ở địa bàn huyện, qua đánh giá của các nghiên cứu có
thể nói Vĩnh Bảo là huyện có số hộ nghèo cao nhất từ trước tới nay. Với đặc thù
đất hẹp, người đông lại không có nghề phụ dân cư sinh sống chủ yếu bằng nông

hàng ngày còn thiếu chất dinh dưỡng, có khi phải ăn độn ngô, độn khoai, sắn;
nhiều hộ đến những ngày giáp hạt phải đi vay thóc, gạo, có hộ không có đất ở,
họ phải làm những ngôi nhà tạm bợ ở bên bờ sông, bờ đê hoặc trên những con
thuyền nhỏ để sinh sống qua ngày.
Theo báo cáo của Phòng Nội vụ – Lao động Thương binh và Xã hội
huyện Vĩnh Bảo năm 2002 cả huyện có 5.987 hộ sống trong nhà tranh, nhà dột
nát, 4.763 hộ không có phương tiện đi lại tối thiểu (xe đạp).
2.2.1.2. Cơ cấu
Mặc dù nằm cùng trong một huyện nhưng mỗi xã, thị trấn có mức sống
và tỷ lệ hộ đói nghèo lại khác nhau. Có sự khác biệt đó là do nhiều nguyên nhân
như: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên (đất đai, sông hồ, …), trình độ dân trí, …
Với tổng số 30 xã, thị trấn tỷ lệ hộ đói nghèo phân theo các mức độ khác nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status