Đại Học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
--------------------
TRẦN TỐ NGÂN
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC CHỈ THỊ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG NGÀNH DU LỊCH ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA
BÀN TP.HỒ CHÍ MINH
Chun ngành : Quản lý mơi trường .
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP. HỒ CHÍ MINH, tháng 01 năm 2010.
ABSTRACT
Nowadays, sustainable development is a indispensable trend which almost
countries in the world are trying to achieve. Sustainable development implementing in
all fields is very necessary to suitable with general trend of the worldwide and Viet
Nam.
Recently, tourism of Viet Nam is in developing period, more and more tourists
come to Viet Nam. Tourism is a general economic sector, it influences on many fields
and has close relationship with the environmental protection field. The degradation of
the natural environment means reducing of tourism activities. Therefore, the
sustainable tourism needs to deploy and indicators which should be set up for types of
tourism to assess the sustainable development. Accordingly, the subject proposes
indicators of sustainable tourism with 3 economic – social – environmental aspects. In
addition, this essay also tries to calculate sustainable development index for some
tourist areas located in Ho Chi Minh city and suggest the appropriated measures to
IV.1. Giải pháp về kinh tế.......................................................................... 79
IV.2. Giải pháp về xã hội........................................................................... 83
IV.3. Giải pháp về môi trường ................................................................... 86
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................ 96
V.1 Kết luận .............................................................................................. 96
V.2 Kiến nghị ............................................................................................ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 98
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: Mẫu phiếu câu hỏi điều tra...................................................... 1
PHỤ LỤC 2: Kết quả điều tra 5 khu du lịch tại TP.HCM ............................. 5
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng I.1: Khí hậu bình qn của Thành phố Hồ Chí Minh................................ 6
Bảng I.2: Ý kiến của du khách quốc tế đối với các loại hình du lịch trên địa
bàn thành phố .................................................................................................. 16
Bảng I.3: Ý kiến của du khách quốc tế về cảnh quan và sự thân thiện của
TP.HCM ........................................................................................................... 17
Bảng II.1: Chỉ thị đánh giá tính bền vững mơi trường năm 2005 được xây dựng
tích hợp theo cấu trúc khối phân cấp theo các chỉ thị và biến số môi trường ...... 21
Bảng II.2: Bảng chỉ số phát triển bền vững môi trường của các nước ASEAN...25
Bảng II. 3: Tiêu chí phát triển bền vững của Philippin ....................................... 26
Bảng II.4: Các chỉ thị đánh giá tính bền vững về tài nguyên của Trung Quốc .... 27
Bảng 5. Các chỉ thị đánh giá tính bền vững về môi trường của Trung Quốc....... 27
Bảng II. 6: Số lượng các chỉ thị và biến số PTBV đề xuất áp dụng trong tính
tốn chỉ số đánh giá tính bền vững về tài nguyên ở nước ta................................ 30
Bảng II.7: Số lượng các chỉ thị và biến số PTBV đề xuất áp dụng trong tính
tốn chỉ số đánh giá tính bền vững về môi trường ở nước ta ............................. 31
Bảng II.8:Chỉ tiêu chất lượng môi trường để tổ chức một số loại hình di lịch
PTBVC: Phát triển bền vững cao
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization): Tổ chức
Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cần thiết của đề tài
Các chỉ thị phát triển bền vững có nhiều chức năng. Từ bộ chỉ thị, các nhà quản
lý có thể đưa ra những quyết định tốt hơn và hiệu quả hơn một cách đơn giản, rõ ràng
và tổng hợp những thông tin sẵn có để thực hiện các chính sách phát triển bền vững
cho tương lai. Các chỉ thị giúp kết hợp cả thông tin về tự nhiên và xã hội trong việc
đưa ra những quyết định đánh giá và giám sát tiến độ hướng đến mục tiêu phát triển
bền vững. Bên cạnh đó, các chỉ thị cịn cung cấp những cảnh báo sớm cho việc ngăn
chặn những hậu quả về kinh tế, xã hội và môi trường.
Là trung tâm du lịch và cửa ngõ du lịch lớn nhất trong cả nước, thành phố Hồ
Chí Minh có hệ thống cơ sở vật chất và dịch vụ du lịch khá phát triển, từ những điểm
vui chơi giải trí cho đến khách sạn, nhà hàng. Khí hậu thành phố dễ chịu, nắng khơng
q nóng và mưa khơng kéo dài nên mùa nào cũng có thể là mùa du lịch. Song hiện
nay ngành du lịch của thành phố vẫn cịn nhiều hạn chế, đó là vấn đề môi trường, cảnh
quan đô thị vẫn chưa làm hài lịng du khách như nạn kẹt xe, ơ nhiễm khơng khí, rác
thải, ngập nước … Vì vậy, để ngành du lịch của thành phố Hồ Chí Minh được hồn
thiện hơn thì việc phát triển ngành du lịch theo hướng bền vững là vô cùng cần thiết
nhằm bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo vệ các tài sản văn hóa lịch sử và góp phần xây
dựng cộng đồng địa phương.
Việc nghiên cứu đề xuất các chỉ thị phát triển bền vững du lịch cho thành phố
sẽ làm tiền đề cho việc xây dựng bộ thông số, chỉ thị, chỉ số đánh giá tính bền vững về
kinh tế, xã hội và môi trường cho ngành du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh cũng như
ngành du lịch trên tồn quốc.
sinh thái tại thành phố Hồ Chí Minh.
-
Đề xuất các giải pháp tổng hợp phục vụ phát triển bền vững du lịch sinh thái tại
thành phố Hồ Chí Minh.
4. Phương pháp nghiên cứu
-
Điều tra hiện trạng môi trường du lịch sinh thái tại thành phố Hồ Chí Minh. Cụ
thể: tiến hành thu thập thông tin về hiện trạng mơi trường du lịch thành phố Hồ Chí
Minh từ các phương tiện thông tin đại chúng cũng như từ các cơ quan chuyên trách;
khảo sát thực tế tại các địa điểm du lịch của thành phố. Sau đó, tổng hợp đánh giá
những lợi thế cũng như những vấn đề còn hạn chế của môi trường du lịch thành phố.
-
Tổng hợp các thông tin liên quan đến việc xây dựng bộ chỉ thị, chỉ số phát triển
bền vững của các lĩnh vực liên quan ở trong và ngoài nước; những kinh nghiệm, cách
thức thiết lập các chỉ thị phát triển bền vững, phương pháp tính tốn các chỉ số.
-
Từ những thơng tin đã điều tra, khảo sát và tổng hợp được, tiến hành đề xuất
các chỉ thị phát triển bền vững du lịch sinh thái cho thành phố Hồ Chí Minh.
-
Thực hiện tính tốn thử nghiệm một vài chỉ số phát triển bền vững du lịch sinh
trong khi cơ sở hạ tầng, chất lượng môi trường chưa đáp ứng được nhu cầu của du
khách do việc quản lý còn yếu kém. Việc nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị phát triển du
lịch bền vững giúp cho các nhà quản lý có thể dễ dàng nhìn thấy những vấn đề ảnh
hưởng đến sự phát triển lâu dài về sau của ngành mà từ đó có thể đưa ra những giải
pháp phát triển hợp lý, lâu bền.
3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG VÀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN
DU LỊCH TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
I.1. Tổng quan du lịch TP. Hồ Chí Minh
I.1.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội
I.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
(1). Địa lý
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10’ – 10°38’ Bắc và 106°22’ – 106°54’
Đơng, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông
Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây và Tây Nam
giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí
Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ biển
Đông 50 km theo đường chim bay. Với vị trí tâm điểm của khu vực Đơng Nam Á,
Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường
thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế.
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sơng Cửu
Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây. Vùng cao
nằm ở phía Bắc – Đơng Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét. Xen kẽ
có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở quận 9. Ngược lại,
vùng trũng nằm ở phía Nam – Tây Nam và Ðơng Nam thành phố, có độ cao trung bình
trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét. Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ
chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gịn. Ngồi các con sơng chính, Thành phố Hồ Chí
Minh cịn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến
Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lị Gốm, Kênh
Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðơi…
Nhờ thế Pleistocen, khu vực phía Bắc Thành phố Hồ Chí Minh có được lượng
nước ngầm khá phong phú. Nhưng về phía Nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm
thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng
kể, tuy chất lượng không thực sự tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba tầng: 0–20 m,
60–90 m và 170–200 m. Tại Quận 12, các huyện Hóc Mơn và Củ Chi, chất lượng
nước tốt, trữ lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn
nước bổ sung quan trọng. Hệ thống sông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh
trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông,
thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và
hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành.
5
(3). Khí hậu, thời tiết
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, Thành phố Hồ Chí Mình có
nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt đầu từ
tháng 5 tới tháng 11, cịn mùa khơ từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Trung bình, Thành
phố Hồ Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng một tháng, nhiệt đó trung bình 27°C, cao
nhất lên tới 40°C, thấp nhất xuống 13,8°C. Hàng năm, thành phố có 330 ngày nhiệt độ
trung bình 25 tới 28°C. Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong
đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vào năm 1958. Một
năm, ở thành phố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các thàng từ 5
tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9. Trên phạm vi không gian thành
phố, lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðơng
Bắc. Các quận nội thành và các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu vực cịn
lại[5].
7
8
9
10
11
12
32
33
34
34
33
32
31
32
31
21
22
23
24
25
24
25
24
23
23
22
22
(70)
(72)
(73)
313
267
334
268
115
56
(0.6) (0.2) (0.5) (1.7) (8.7) (13)
6
(12.3) (10.5) (13.1) (10.6) (4.5) (2.2)
(4). Ơ nhiễm mơi trường
Kênh rạch tại thành phố bị ô nhiễm trầm trọng
Với tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, ý thức người
dân kém..., Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm
môi trường. Cũng như Hà Nội, hiện tượng nước thải ở Thành phố Hồ Chí Minh khơng
được xử lý, đổ thẳng vào hệ thống sơng ngịi rất phổ biến. Nhiều cơ sở sản xuất không
xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn cũng chưa có hệ thống xử lý
nước thải. Tại cụm công nghiệp Tham Lương, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi chất thải
công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m³/ngày. Sơng Sài Gịn, mức
độ ơ nhiễm vi sinh chủ yếu do hoạt động nuôi trồng thuỷ sản gây ra vượt tiêu chuẩn
cho phép đến 220 lần. Cho tới 2008, vẫn chưa có giải pháp cụ thể nào để chấm dứt
2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000 lao động, trong đó 139 nghìn người ngồi
độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc. Năm 2007, thu nhập bình quân
đầu người ở thành phố đạt 2.100 USD/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước,
730 USD/năm vào 2006.
Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ,
thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính... Cơ cấu
kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm
44,6%, phần cịn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Về các ngành kinh tế, dịch
vụ chiếm tỷ trọng cao nhất : 51,1%. Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm
47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%.
Tính đến giữa năm 2006, 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp Thành phố Hồ
Chí Minh đã thu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452 dự án có vốn đầu tư
nước ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ USD và 19,5 nghìn tỉ VND. Thành phố cũng
đứng đầu Việt Nam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với 2.530 dự án FDI,
tổng vốn 16,6 tỷ USD vào cuối năm 2007. Riêng trong năm 2007, thành phố thu hút
hơn 400 dự án với gần 3 tỷ USD.
Về thương mại, Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống trung tâm mua sắm,
siêu thị, chợ đa dạng. Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưa
8
của thành phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng. Những thập niên gần đây,
nhiều trung tâm thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond
Plaza… Mức tiêu thụ của Thành phố Hồ Chí Minh cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh
khác của Việt Nam và gấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội. Sở Giao dịch Chứng khốn Thành
phố Hồ Chí Minh, có mã giao dịch là VN-Index, được thành lập vào tháng 7 năm
1998. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2007, tồn thị trường đã có 507 loại chứng
khốn được niêm yết, trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 nghìn
tỷ đồng.
Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều
những tác động của nền kinh tế thị trường. Những người hoạt động trong lĩnh vực
thương mại cao hơn nhiều so với ngành sản xuất. Sự khác biệt xã hội vẫn còn thể hiện
rõ giữa các quận nội ô so với các huyện ở ngoại thành.
(2). Y tế
Thành phố Hồ Chí Minh, với dân số đông, mật độ cao trong nội thành, cộng
thêm một lượng lớn dân vãng lai, đã phát sinh nhu cầu lớn về y tế và chăm sóc sức
khỏe. Các tệ nạn xã hội, như mại dâm, ma túy, tình trạng ơ nhiễm môi trường… gây
ảnh hưởng lớn tới sức khỏe dân cư thành phố. Những bệnh truyền nhiễm phổ biến ở
các nước đang phát triển như sốt rét, sốt xuất huyết, tả, thương hàn… hay các bệnh của
những quốc gia công nghiệp phát triển, như tim mạch, tăng huyết áp, ung thư, tâm
thần, bệnh nghề nghiệp… đều xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi thọ trung
bình của nam giới ở thành phố là 71,19, con số ở nữ giới là 75,00.
Vào năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 21.780 nhân viên y tế, trong đó có
3.399 bác sĩ. Tỷ lệ bác sĩ đạt 5.45 trên 10 nghìn dân, giảm so với con số 7.31 của năm
2002. Toàn thành phố có 19.442 giường bệnh, 56 bệnh viện, 317 trạm y tế và 5 nhà hộ
sinh. Thế nhưng mạng lưới bệnh viện chưa được phân bổ hợp lý, tập trung chủ yếu
trong nội ô. Theo con số năm 1994, chỉ riêng Quận 5 có tới 13 bệnh viện với 5.290
giường, chiếm 37% số giường bệnh toàn thành phố. Bù lại, hệ thống y tế cộng đồng
tương đối hoàn chỉnh, tất cả các xã, phường đều có trạm y tế. Bên cạnh hệ thống nhà
nước, thành phố cũng có 2.303 cơ sở y tế tư nhân và 1.472 cơ sở dược tư nhân, góp
phần giảm áp lực cho các bệnh viện lớn. Cũng tương tự hệ thống y tế nhà nước, các cơ
sở này tập trung chủ yếu trong nội ô và việc đảm bảo các nguyên tắc chuyên môn chưa
được chặt chẽ.
Sở Y tế thành phố hiện nay quản lý 8 bệnh viện đa khoa và 20 bệnh viện
chuyên khoa. Nhiều bệnh viện của thành phố đã liên doanh với nước ngoài để tăng
chất lượng phục vụ.
10
(3). Giáo dục
11
ngành giáo dục thành phố còn kém. Nhiều trường học sinh phải học ba ca. Thu nhập
của giáo viên chưa cao, đặc biệt ở các huyện ngoại thành.
(4). Giao thông vận tải
Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu
mối giao thơng quan trọng của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Khác với Hà Nội,
vận tải thủy ở Thành phố Hồ Chí Minh chiếm một tỷ lệ quan trọng. Tính riêng vận tải
hàng hóa, đường biển chiếm khoảng 29% và đường sông khoảng chiếm 20% tổng khối
lượng thông qua đầu mối thành phố. Đường bộ chỉ chiếm 44% vận tại hàng hóa nhưng
chiếm tới 85,6% vận tải hành khách. Về giao thông đường không, Sân bay quốc tế Tân
Sơn Nhất là phi trường lớn nhất Việt Nam về cả diện tích và công suất nhà ga. Năm
2006, vận tải thành phố đã vận chuyển tổng cộng 73.743 tấn hàng hóa, 239 triệu lượt
người và bốc xếp 44.341 tấn hàng. Toàn thành phố hiện nay có khoảng 340.000 xe hơi
và 3,5 triệu xe máy, gần gấp đôi so với Hà Nội.
Giao thông đường sắt của thành phố gồm tuyến nội ô và khu vực phụ cận – do
Xí nghiệp Liên hiệp đường sắt 3 quản lý, tuyến Bắc – Nam và một vài đoạn đường
chuyên dụng, hiện hầu như đã ngưng khai thác. Trong thành phố có hai nhà ga chính:
Sóng Thần và Sài Gịn. Bên cạnh đó cịn có một số nhà ga nhỏ như Dĩ An, Thủ Đức,
Bình Triệu, Gị Vấp. Do mạng lưới đường sắt không được nối trực tiếp với các cảng,
cơ sở đã cũ kỹ nên giao thơng đường sắt Thành phố Hồ Chí Minh khơng phát triển, chỉ
chiếm khoảng 6% khối lượng hàng hóa và 0,6% khối lượng hành khách.
Giao thơng đường bộ, thành phố có 6 bến xe khách liên tỉnh được phân bố ở các
cửa ngõ ra vào: Miền Đông, Văn Thánh, Miền Tây, Chợ Lớn, Tân Bình – Tây Ninh,
Ký Thủ Ơn. Mạng lưới khả năng tiếp nhận trên 1.200 xe/ngày, vận chuyển gần 41.000
khách/ngày đi các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông
Cửu Long. Cũng theo số liệu từ 1994, tổng lượng hành khách liên tỉnh qua thành phố
khoảng 106,4 triệu lượt người/năm, nhiều nhất qua quốc lộ 1A.
Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có bốn cảng biển chính: Sài Gịn, Bến Nghé,
Với hệ thống 11 bảo tàng, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có số bảo tàng nhiều nhất so
với các tỉnh, thành trong cả nước. Nội dung trưng bày của các bảo tàng khá phong phú,
và không chỉ về lịch sử và văn hóa địa phương, mà của cả Nam bộ, quốc gia và khu
vực Đông Nam Á, cung cấp nhiều kiến thức lý thú.
Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, thành phố Hồ Chí Minh có nhiều cơng trình
kiến trúc cổ như Nhà Rồng, đền Quốc Tổ, dinh Xã Tây, Nhà hát lớn, Bưu điện, hệ
thống các ngôi chùa cổ (chùa Giác Lâm, chùa Bà Thiên Hậu, chùa Tổ Đình Giác
Viên...), hệ thống các nhà thờ cổ (Đức Bà, Huyện Sỹ, Thông Tây Hội, Thủ Đức...).
13
Nhìn chung, một trong những đặc trưng văn hố của 300 năm lịch sử đất Sài Gòn - Gia
Định, nơi hội tụ nhiều dịng chảy văn hố, là "cơ cấu kiến trúc" Việt - Hoa - châu Âu.
Một nền văn hố kết hợp hài hồ giữa truyền thống dân tộc của người Việt với những
nét đặc sắc của văn hoá phương Bắc và phương Tây.
Hình I.3 : Khu du lịch Vàm Sát - Cần Giờ
Bên cạnh đó, thành phố cũng có những khu di lịch sinh thái thú vị như Khu Du
Lịch Sinh Thái Rừng Ngập Mặn Vàm Sát mang trong mình những khoảng rừng đẹp
nhất của khu dự trữ sinh quyển thế giới rừng ngập mặn Cần Giờ, thuộc huyện Cần
Giờ, TP.HCM; Vườn Cò Thủ Đức là nơi trú ngụ của khoảng 2000 con cị với những
hình ảnh ấn tượng; Khu Du lịch Suối Mơ, Làng du lịch Bình Quới, khu du lịch Thanh
Đa với khung cảnh gần gũi thiên nhiên; các khu vui chơi giải trí như Đầm Sen, Suối
Tiên … đã thu hút và hấp dẫn nhiều du khách trong và ngồi nước. Ngồi ra, với khí
hậu ổn định, vị trí địa lý thuận lợi TP.HCM dễ dàng kết nối tour du lịch với các địa
phương lân cận cũng như các nước trong khu vực như phát triển du lịch rừng sơng
(Cần Giờ, sơng Sài Gịn, Đồng Nai, du lịch sơng Mekơng với Campuchia…)
Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 641 khách sạn với 17.646 phịng. Hệ thống
khách sạn bao gồm từ những khách sạn cao cấp do các tập đoàn quốc tế hàng đầu như
Accor, Furama, Mariot hay Shareton quản lý, các khách sạn đã có quá trình hoạt động
Để đa dạng hóa các sản phẩm du lịch cần khuyến khích mở các điểm trưng bày
và bán các sản phẩm hội họa, điêu khắc, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng lưu niệm có
chất lượng cao, giá cả hợp lý trên địa bàn thành phố.
Tuy nhiên du lịch TP.Hồ Chí Minh vẫn chưa phát triển bền vững vì cịn nhiều
việc chúng ta vẫn chưa thực hiện tốt. Chẳng hạn các hoạt động vui chơi chủ yếu là ăn
uống chứ chưa tạo được khơng khí, màu sắc văn hóa địa phương. Chưa có sự đầu tư
đúng mức để tạo ra những sản phẩm hấp dẫn, như là những chương trình biểu diễn
nghệ thuật dân tộc chuyên dành cho du khách nước ngồi, các chương trình du lịch
sinh thái gần gũi với thiên nhiên như du lịch sơng nước.
Bên cạnh đó, q trình đơ thị hóa phát triển rất nhanh trong khi công tác quản lý
quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội còn quá nhiều bất cập. nhiều cơng
trình, dự án thi cơng chậm trễ kéo dài, chất lượng kém làm phát sinh những vấn đề xã
15
hội bức xúc như nạn kẹt xe, ngập lụt vào mùa mưa, đường sá dơ bẩn, sản xuất gây ô
nhiễm môi trường ngày càng tăng … gây tác động xấu đến du lịch, làm sức hấp dẫn
của thành phố bị giảm sút.
Số liệu so sánh lượng khách quốc tế của ngành Du lịch cho thấy: Lượng du
khách quốc tế dừng chân tại TP HCM luôn chiếm tỷ lệ từ gần 54 đến 66% tổng số
khách nước ngoài đến Việt Nam trong vịng 5 năm trở lại đây. Chính vì vậy, khi lượng
khách quốc tế đến TP HCM giảm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu trong
lĩnh vực du lịch của thành phố mà còn đồng nghĩa với việc giảm doanh thu của ngành
Du lịch cả nước.
Ảnh hưởng của suy thối kinh tế tồn cầu, thu nhập giảm, chi tiêu cho việc du
lịch cũng được tiết kiệm, cạnh tranh về thị phần du lịch trong khu vực và quốc tế ngày
càng gay gắt, tình hình dịch bệnh… đã khiến một thị trường trọng điểm của du khách
quốc tế là TP HCM bị sút giảm mạnh.
Nếu như tốc độ tăng trưởng lượng khách nước ngoài đến thành phố trong các
năm từ 2004 – 2007 luôn đạt từ 14,8 – 27%/năm, thì năm 2008 vừa qua, con số này đã
lịng
Khơng hài lịng
16
Tạm hài lịng
29.3
27.9
24.1
Hài lịng
26.4
25
27.6
Hồn tồn hài lịng
28.8
28.4
25.1
5
5
Khơng đồng ý
5
9
Vừa đồng ý, vừa khơng đồng ý
16
25
Đồng ý
24
25
Hồn tồn không đồng ý
42
31
Không biết/ không ý kiến
Chương trình 1: Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch.
Chương trình có các mục tiêu chủ yếu là tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng giúp cho sản
phẩm du lịch đạt tiêu chuẩn chất lượng, khuyến khích đầu tư xây dựng điểm vui chơi,
giải trí, xã hội hội hoạt động du lịch và chú trọng đến các sản phẩm du lịch văn hóa,
lịch sử, sinh thái.
-
Chương trình 2: phát triển và đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Mục tiêu của chương
trình là từng bước tạo các sản phẩm du lịch mới, mang tính đặc trưng của thánh phố
cho loại hình tour hội nghị, hội họp, triển lãm, hội chợ., đáp ứng nhu cầu đa dạng của
du khách trong và ngoài nước như du lịch sinh thái, du lịch văn hóa như du lịch vườn,
sông nước, tổ chức tham quan các làng nghề…
-
Chương trình 3: Quảng bá và xúc tiến hoạt động du lịch. Mục tiêu chủ yếu của
chương trình là nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động quảng bá xúc tiến du
lịch, mở rộng khả năng thông tin đến du khách quốc tế thơng qua các chương trình
phát thanh, truyền hình, sách hướng dẫn du lịch TP.HCM, CD, Internet…
-
Chương trình 4: chương trình phát triển nguồn nhân lực du lịch với mục tiêu nhằm
đào tạo đội ngũ nhân viên ngành du lịch có chất lượng cao.
-
Chương trình 5: cải cách và hồn thiện cơng tác quản lý nhà nước về du lịch nhằm
phố phải luôn tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, thực hiện cam kết
bảo vệ môi trường trong hoạt động kinh doanh nhằm tránh gây tổn hại đến môi trường
xung quanh dẫn đến cảnh quan môi trường của thành phố bị ô nhiễm.
+ Xây dựng môi trường xã hội nhân văn, tạo thân thiện, đảm bảo an tồn cho du
khách.
Thành phố Hồ Chí Minh triển khai Kế hoạch phát triển du lịch nhằm thúc đẩy
tăng trưởng du lịch bền vững, xây dựng môi trường du lịch an tồn, thân thiện và văn
minh, giới thiệu hình ảnh một thành phố năng động, hấp dẫn và an tồn.
Trong đó có Chương trình mang tên “Thành phố Hồ Chí Minh - 100 điều thú
vị” nhằm chọn ra top 10 cho 10 lĩnh vực liên quan mật thiết đến du lịch như khách sạn
mang ấn tượng Việt Nam, nhà hàng Việt Nam đặc sắc, hãng vận chuyển uy tín, món
ăn Việt được ưa thích nhất, đặc sản được ưa chuộng nhất, điểm tham quan tiêu biểu,
điểm mua sắm được ưa thích, chương trình tour thú vị, điểm giải trí được ưa thích và
sự kiện tiêu biểu.
Bên cạnh những giải pháp thường xuyên như tăng cường quản lý nhà nước;
triển khai thực hiện các chương trình, đề án quy hoạch phát triển du lịch; công tác đào
tạo nguồn nhân lực, thành phố cũng đưa ra những giải pháp cấp bách như phát triển và
19