Đo lường chỉ số CLCS SK ở bệnh nhân đợt cấp giãn phế quản điều trị tại khoa hô hấp bệnh viện bạch mai bằng bộ câu hỏi st georges phiên bản tiếng việt - Pdf 19

đặt vấn đề
Giãn phế quản (Bronchiectasis- GPQ) là tình trạng giãn bất thường
và không hồi phục của cây phế quản. GPQ có thể khu trú ở một vùng hoặc
lan toả nhiều nơi. Bệnh cảnh lâm sàng của GPQ được Laennec mô tả đầu
tiên từ năm 1819 với đặc điểm lâm sàng ho khạc nhiều đờm, ho khạc máu
đỏ tươi [3], [23].
Ho khạc nhiều đờm mạn tính do tăng tiết dịch phế quản, ứ đọng chất
tiết tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn và chính yếu tố nhiễm khuẩn làm cho
bệnh giãn phế quản ngày càng trầm trọng và gây ra nhiều biến chứng nguy
hiểm khiến bệnh nhân GPQ phải nhập viện điều trị [22].
Theo Carolin và CS, trong giai đoạn bùng phát của bệnh, chất lượng
cuộc sống của bệnh nhân bị sụt giảm nghiêm trọng, khi bệnh ổn định, chất
lượng cuộc sống của bệnh nhân GPQ tuy có cải thiện hơn nhưng vẫn bị
ảnh hưởng bởi các triệu chứng ho, khạc đờm nhiều, khó thở mạn tính và
hạn chế hoạt động thể lực [30].
Trên thế giới trong hai thập niên trở lại đây, nhiều tác giả Anh, Pháp
và Hoa Kỳ đã xây dựng một số bộ câu hỏi về hô hấp tương ứng với thang
điểm đo CLCS - SK của bệnh nhân bị bệnh lý đường hô hấp. Tuy nhiên,
các thang đo này thường chỉ được sử dụng trong nghiên cứu, chưa được áp
dụng nhiều trên thực tế lâm sàng [12], [16], [20].
Carolin và CS đã nghiên cứu, áp dụng bộ câu hỏi St. George
,
s
Respiratory Questionannaire (SGRQ) để đánh giá CLCS - SK của bệnh
nhân giãn phÕ quản thấy có hiệu quả tốt. Sau đó, tác giả Shelley L Chang đã
dịch bộ câu hỏi sang tiếng Trung và áp dụng đối các bệnh nhân GPQ tại Trung
1
Quốc và thấy rằng bộ câu hỏi vẫn giữ nguyên giá trị lượng giá. Garcia và CS
nghiên cứu áp dụng bộ câu hỏi SGRQ phiên bản tiếng Tây Ban Nha đối với
bệnh nhân giãn phế quản giai đoạn ổn định cũng đưa ra nhận xét tương tự [30].
Tại Việt Nam, bộ câu hỏi SGRQ đã được dịch sang tiếng Việt và

phân giải cao còn cho biết thêm cả tổn thương ở phế nang kèm theo và
các tổn thương ở tổ chức kẽ cũng như tổn thương ở mạch máu phổi [2],
[9], [28].
Hiện nay giãn phế quản chiếm 6% của các bệnh
phổi, nam bị nhiều hơn nữ [2].
1.1.2. Định nghĩa
3
Giãn phế quản là tăng khẩu kính của phế quản liên tục, vĩnh viễn không
hồi phục của một hoặc nhiều phế quản có đường kính trên 2mm do sù phá
huỷ lớp cơ chun, lớp sụn của thành phế quản. Định nghĩa này loại trừ
những trường hợp giãn phế quản giả (có hồi phục) [2].
1.1.3. Giải phẫu - chức năng của bộ máy hô hấp
Đường dẫn khí gồm: mũi hoặc miệng, hầu (họng), thanh quản, khí
quản, phế quản, tiểu phế quản tận và các phế nang. Đường dẫn khí có chức
năng dẫn khí từ ngoài vào đến các phế nang và từ phế nang ra ngoài.
Đường hô hấp trên:
- Mòi: là cơ quan đầu tiên của hệ hô hấp, có nhiệm vụ dẫn không
khí, sưởi Êm, làm Èm và lọc
sạch luồng không khí đi qua
mũi. Mũi còn là cơ quan khứu
giác để ngửi.
- Hầu (họng): là ngã ba nối mũi,
miệng với thực quản và thanh
quản, được chia làm hai nhánh,
nhánh đi phía sau là thực quản, nhánh đi phía trước dẫn đến thanh
quản để xuống khí quản. Vì hầu là ngã ba của đường tiêu hoá và
đường hô hấp nên trong một số trường hợp bị rối loạn phản xạ
nuốt hoặc rối loạn đóng mở thanh quản đều có thể gây sặc thức ăn
vào đường dẫn khí. Trong thực tế, nhiều trường hợp bị sặc hoặc
rơi các dị vật to vào thanh, khí quản mà không được cấp cứu kịp

GPQ. Thành PQ bị tổn thương do ảnh hưởng trực tiếp của vi khuẩn và do
viêm mãn tính, 2 quá trình này tạo thành vòng xoắn bệnh lý đưa đến tổn
5
thương hệ thống thanh lọc nhầy của nhung mao, dẫn đến tổn thương thành
PQ không hồi phục, gây suy yếu và hậu quả cuối cùng là GPQ [22], [37].
6
Vũng xon bnh lý gia nhim khun mn tớnh v bnh gión ph qun
* ng vo: Nhng tỏc nhõn gõy viờm phi cú th theo nhng ng
vo sau õy [2].
- Hớt phi vi khun mụi trng bờn ngoi, trong khụng khớ.
- Hớt phi vi khun t cỏc nhim khun ca ng hụ hp trờn.
- Vi khun theo ng mỏu t nhng nhim khun xa.
- Nhim khun do ng tip cn ca phi.
* C ch chng ca phi
Khi cú vt l vo phi, np thanh qun úng li theo phn x. T
thanh qun n tiu ph qun tn cựng cng cú lp niờm mc bao ph bi
7
Vi khuẩn tồn tại lâu ở
xoang, phế quản
Vi khuẩn từ môi tr%ờng
bên ngoài
Độc tố vi khuẩn ức chế
hoạt động của lông
chuyển, tổn th%ơng
niêm mạc phế quản
Sự tác động bên ngoài
làm tăng khả năng dễ
mắc bệnh di truyền của
ng%ời bệnh
Rối loạn cơ chế

8
Hình 1.1. Sự phân chia cây phế quản và vị trí hay gặp giãn phế quản
(phế quản thế hệ 3 - 8)
Vi thể:
Lớp liên bào phế quản có xen lẫn những đám tế bào loạn sản kiểu tế
bào Malpighi, niêm mạc phế quản bị loét, viêm nhiễm quanh tuyến phế
quản - vách phế quản bị dầy lên hoặc rất mỏng, phía trong chứa những
nang họp bởi các tân cầu xung quanh có các sợi cơ, sợi chun bị thoái hoá.
Whitewell gọi là giãn phế quản nang, đôi khi nang này đứng một mình
không có sợi cơ, sợi chun và tuyến giống như giãn phế nang hơi.
Trường hợp giãn phế quản do viêm phế quản: phế quản bị tắc do chất
tiết và phù nề, tuyến phế quản, lớp sụn bị tổn thương gây lỗ rò giữa
phế quản này với phế quản khác. Nhu mô phổi bị xẹp hoặc phế nang bị
giãn, trong nhu mô phổi có những hang chứa đầy mủ, lòng phế quản
chứa nhiều chất tiết và mủ.
9
Tuần hoàn phổi bị rối loạn, động mạch phế quản phình ra có nhiều
chỗ nối với động mạch phổi, hoặc nối với tĩnh mạch phế quản tạo nên
Shunt trái - phải hoặc trái - trái. Do áp lực cao của hệ thống đại tuần hoàn
(động mạch phế quản) làm vỡ những chỗ nối - là cơ chế ho ra máu trong
bệnh giãn phế quản [2].
1.2. Nguyên nhân và phân loại giãn phế quản
1.2.1. Nguyên nhân
* Nhiễm khuẩn được coi là căn
nguyên quan trọng gây giãn phế quản
(GPQ) đặc biệt là bệnh nhiễm khuẩn phổi
- phế quản tái diễn, kể cả viêm xoang ở
trẻ em. Hiện tượng nhiễm khuẩn nhiều
lần ở trẻ em có thể gây hậu quả giãn phế
quản khi trưởng thành.

hay gặp ở các nước Âu, Mỹ (có khi tới 50% các trường hợp giãn phế
quản ở một số nước này).
* Không rõ nguyên nhân: bên cạnh những trường hợp xác định
được căn nguyên, có khoảng 40-60% không xác định được căn nguyên
giãn phế quản. Người ta cho rằng loại giãn phế quản này có thể do rối
loạn thanh lọc phổi - phế quản nhưng dễ bị bỏ qua, thường gặp ở người
lớn vị trí giãn phế quản thường là ở thuỳ dưới.
11
Nhiều nghiên cứu cho thấy 80% bệnh nhân giãn phế quản
không liên quan đến hút thuốc lá (khác với bệnh phổi tắc nghẽn và
ung thư phổi) [2], [22], [28].
1.2.2. Phân loại giãn phế quản
Dựa vào lâm sàng và tổn thương giải phẫu bệnh lý
* Dựa vào triệu chứng lâm sàng:
- Giãn phế quản thể ướt: ho, khạc đờm mủ, số lượng nhiều, thường
gặp giãn phế quản thuỳ dưới.
- Giãn phế quản thể khô: bệnh nhân không khạc đêm mà chỉ ho ra
máu nhiều lần và kéo dài thường gặp giãn phế quản thuỳ trên.
* Dùa theo giải phẫu bệnh lý
- Giãn phế quản lan toả: tổn thương phế quản hơn một thuỳ phổi,
thường do bẩm sinh, cũng có thể do mắc phải nhưng Ýt gặp hơn.
- Giãn phế quản cục bộ: tổn thương chỉ ở phế quản của một thuỳ
phổi, nguyên nhân thường do nhiễm trùng: ho gà, sởi, viêm phổi,
lao phổi hoặc do chèn Ðp từ ngoài vào phế quản.
* Dựa vào căn nguyên:
- Giãn phế quản do viêm nhiễm: thành phế quản bị phá huỷ nhiều.
- Giãn phế quản do xơ hoá nhu mô phổi co kéo.
- Giãn phế quản bẩm sinh
- Giãn phế quản vô căn.
* Dựa vào hình ảnh chụp x.quang

trừ lao.
- Khó thở: khó thở xuất hiện thường là biểu hiện của suy hô
hấp, có thể có tím môi và đầu chi.
- Đau ngực: DÊu hiệu sớm của nhiễm khuẩn phổi ở vùng giãn
phế quản. Ngoài ra, tăng áp lực động mạch phổi cũng là nguyên
nhân quan trọng làm bệnh nhân đau ngực.
* Triệu chứng thực thể
- Khám phổi có thể không thấy gì hoặc nghe thấy ran Èm, ran nổ
khu trú ở vùng có giãn phế quản, thường là 2 đáy phổi.
- Giãn phế quản có thể kèm theo một vài bệnh sau: Viêm xoang,
viêm khớp dạng thấp, viêm đại tràng mạn tính, vô sinh.
1.2.3.2. Triệu chứng cận lâm sàng
* X quang phổi chuẩn thẳng và nghiêng
7% bệnh nhân giãn phế quản có xquang phổi bình thường. Các
hình ảnh Xquang thường gặp là:
14
- Thành phế quản tạo thành các đường song song (đường
ray).
- Hình ảnh ruột bánh mỳ xen lẫn giữa hình ảnh GPQ và vùng
nhu mô phổi xung quanh bị viêm, mủ trong lòng phế quản.
- Thể tích của thuỳ phổi có giãn phế quản nhỏ lại.
- Có thể thấy hình ảnh viêm phổi tái diễn nhiều lần tại vùng giãn
phế quản.
- Hội chứng hang Ýt gặp.
- Hình ảnh giống ngón tay đi găng [2], [21], [22], [28].
* Chụp cắt líp vi tính (Độ phân giải
cao lớp máng 1mm). Đây là kỹ thuật
hiện đại có thể phát hiện chính xác
giãn phế quản trên phim CLVT [2],
[3], [35], [38], [52].

cần tìm trực khuẩn kháng cồn, kháng toan (AFB) nhiều lần
(ít nhất 3 lần liên tiếp) để loại trừ lao [3].
- Khám tai mũi họng: chụp phim xoang để phát hiện hội
chứng xoang - phế quản.
- Làm điện tâm đồ sớm để phát hiện sớm tâm phế mạn.
1.2.3.3. Chẩn đoán bệnh giãn phế quản
* Cần hướng tới chẩn đoán giãn phế quản khi có các triệu chứng sau:
- Tiền sử: Ho và khạc đờm kéo dài, ho ra máu tái phát, kéo
dài nhiều năm.
16
- Khám phổi có thể không thấy gì hoặc nghe thấy ran Èm,
ran nổ khu trú ở vùng có giãn phế quản, thường là 2 đáy
phổi [2].
- Chụp Xq phổi thẳng gợi ý hình ảnh GPQ.
- Chụp cắt lớp vi tính.
17
* Chẩn đoán xác định bệnh giãn phế quản
Dựa vào chụp CLVT ngực lớp mỏng độ phân giải cao hoặc chụp
phế quản cản quang (trước kia).
1.3. Tổng quan về các phương pháp đánh giá khó thở ở bệnh giãn phế
quản
Khó thở là cảm giác chủ quan của người bệnh do nhu cầu oxy của
cơ thể không được đáp ứng đầy đủ. Khó thở là triệu chứng thường gặp
trong các đợt tiến triển cấp hoặc diễn biến mạn tính mà bệnh nhân bị giãn
phế quản có thể cảm thấy.
Khó thở là triệu chứng có thể gặp ở bệnh nhân giãn phế quản. Có
rất nhiều cách để đánh giá khó thở: Thang đo được sử dụng để đo lường
mức độ khó thở trong các hoạt động hàng ngày của Hội đồng nghiên cứu
Y khoa Medical Research Council (MRC) [36], Oxygen Cost Diagram
(OCD) [40]. Các thang đo được sử dụng để đo lường khó thở cấp khi

Theo Nagpal [66] : “Chất lượng cuộc sống” được xem như một phức
hợp đo lường thể chất, tinh thần và xã hội. Đó là nhận thức tốt nhất của mỗi
cá nhân và sự thoả mãn, sự tự hài lòng trong những lĩnh vực như sức khoẻ,
hôn nhân, gia đình, nghề nghiệp, tài chính, cơ hội học tập, sự quan trọng của
bản thân, nhận thức về nguồn gốc và độ tin cậy của người đó với những
người khác.
Còn theo Oleson M [32], [54]: Chất lượng cuộc sống là mức độ hài
lòng, thoả mãn của con người trong những lĩnh vực mà họ cho là quan trọng
nhất trong cuộc sống. Đây là một khái niệm rộng và bị ảnh hưởng bởi nhiều
19
yếu tố như: Tình trạng kinh tế, chỗ ở, việc làm, tôn giáo, chính sách trợ cấp
xã hội và tình trạng sức khoẻ Tuỳ theo lĩnh vực nào của cuộc sống được
xem là quan trọng nhất và mức độ hài lòng, thoả mãn của một người với
lĩnh vực đó sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của họ. Vì vậy, khi một
người không hài lòng về một lĩnh vực không được họ xem là quan trọng thì
chất lượng cuộc sống của người đó gần như không bị ảnh hưởng.
Mặc dù khái niệm về chất lượng cuộc sống còn rất trừu tượng, nhưng
qua mét số định nghĩa vừa nêu, có thể thấy rằng chất lượng cuộc sống là
một khái niệm chủ quan, theo từng cá nhân và môi trường sống của họ. Đó
là cách sống, cách cảm nhận, đánh giá cuộc sống hay nói cách khác, định
cho cuộc sống một giá trị nào đó. Nhìn chung, chất lượng cuộc sống là
một tình trạng tinh thần hơn là sức khoẻ thể chất đơn thuần, phản ánh sự
thoải mái, sảng khoái và những phản ứng chủ quan đối với sức khoẻ,
phản ánh mối quan hệ gia đình, hoạt động xã hội, nghề nghiệp, đời sống
tinh thần, sự sáng tạo, niềm hy vọng, sự thành đạt.
“Chất lượng cuộc sống” là một khái niệm rộng và liên quan đến rất
nhiều lĩnh vực. Do đó, khi xem xét trên khía cạnh chăm sóc sức khoẻ,
người ta thường có khuynh hướng giới hạn những ghi nhận về chất lượng
cuộc sống trên các khía cạnh thể chất, tinh thần và xã hội. Chính vì thế,
các nhà y học thấy cần phải tách riêng khái niệm chất lượng cuộc sống

Xã hôị
Thể chất
Tinh thần
Cảm nhận chủ quan (X)
Thấp Cao
Thấp Cao
Tình trạng sức khoẻ (Y)
có độ tin cậy cao để đo lường CLCS-SK. Từ những năm 60, trong y văn thế
giới đã từng có nhiều thang đo ghi nhận các chỉ số về các lĩnh vực của
CLCS-SK [43], [44], [45]. Các thang đo về CLCS-SK ngày càng được
nghiên cứu và phát triển. Tuy nhiên, có thể do sự đòi hỏi quá nhiều về
nguồn lực, công sức, thời gian, kinh phí, để xây dựng một thang đo nên
khuynh hướng phổ biến hiện nay là nghiên cứu sử dụng rộng rãi một số
thang đo hiện có từ các tác giả Anh, Hoa Kỳ và dịch ra thành nhiều thứ
tiếng khác nhau. Điều này vừa kinh tế vừa giúp có thể so sánh giữa các
nước với nhau. Sự lựa chọn thang đo tuỳ thuộc vào mục tiêu, đối tượng
nghiên cứu, cũng như những tính chất và giá trị của thang đo. Có nhiều cách
phân loại thang đo, nhưng hiện nay các tác giả thường chia ra hai loại thang
đo CLCS-SK chủ yếu là thang đo tổng quát và thang đo chuyên biệt [41],
[46].
1.4.1. Thang đo tổng quát
Thang đo tổng quát đo lường những lĩnh vực của CLCS-SK mà
những lĩnh vực này thích hợp với nhiều tình trạng sức khoẻ khác nhau
như: khoẻ mạnh, bệnh lý cấp tính, bệnh lý mãn tính (BPTNMT, giãn phế
quản). Thang đo tổng quát giúp đánh giá gánh nặng bệnh tật trên dân số
những người mắc một bệnh nào đó so với dân số bệnh nhân mắc bệnh
khác hoặc so với dân số chung [46].
1.4.2. Thang đo chuyên biệt
Thang đo chuyên biệt khảo sát các lĩnh vực của CLCS-SK mà các
lĩnh vực này chuyên biệt cho một bệnh nào đó. Do các lĩnh vực được

Điểm được tính riêng cho từng lĩnh vực và tổng điểm chung (total)
cho cả ba lĩnh vực. Điểm của mỗi lĩnh vực thay đổi từ 0 đến 100. Điểm
càng cao cho thấy tình trạng sức khoẻ càng kém. Số liệu được thu thập
bằng cách cho bệnh nhân tự điền vào bảng câu hỏi soạn sẵn.
Mặc dù CLCS-SK ngày càng được quan tâm trên toàn thế giới, tại
Việt Nam, từ những nghiên cứu tham khảo đã khẳng định sự cần thiết của
việc đo lường CLCS - SK ở bệnh giãn phế quản. Đây là một lĩnh vực đã
thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhưng vẫn còn một
số vấn đề liên quan đến CLCS - SK ở bệnh giãn phế quản vẫn chưa được
thống nhất và chưa có nghiên cứu nào đề cập tới vấn đề này. Vì vậy, việc
nghiên cứu về CLCS - SK ở bệnh nhân giãn phế quản là cần thiết. Với
mục đích đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đo lường CLCS - SK ở
những bệnh nhân giãn phế quản tại khoa Hô hấp bệnh viện Bạch Mai.
24
Chương 2
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán là giãn phế quản được điều trị
nội trú tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 01/2009 đến tháng
8/2009
2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Bệnh nhân trên 16 tuổi được điều trị tại khoa hô hấp Bệnh viện
Bạch Mai.
- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định giãn phế quản
Dựa vào tiền sử bị bệnh, triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và đặc
biệt là dựa vào hình ảnh giãn phế quản trên phim chụp cắt líp vi tính độ
phân giải cao: Bệnh nhân có Ýt nhất một trong các tiêu chuẩn sau: [2], [3]
+ Đường kính trong của phế quản lớn hơn động mạch đi kèm
+ Các phế quản không nhỏ dần trên đoạn dài 2 cm có chia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status