B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
***
H TH HOA
THựC TRạNG CHĂM SóC GIảM NHẹ TRÊN BệNH NHÂN
UNG THƯ
ĐƯợC ĐIềU TRị HóA CHấT TạI KHOA CHĂM SóC TRIệU
CHứNG
Và ĐIềU TRị ĐAU, BệNH VIệN K, CƠ Sở II
Chuyờn ngnh: iu dng
KHểA LUN TT NGHIP C NHN Y KHOA
Khúa 2008-2012
H Ni 2012
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
***
H TH HOA
THựC TRạNG CHĂM SóC GIảM NHẹ TRÊN BệNH NHÂN
UNG THƯ
ĐƯợC ĐIềU TRị HóA CHấT TạI KHOA CHĂM SóC TRIệU
CHứNG
Và ĐIềU TRị ĐAU, BệNH VIệN K, CƠ Sở II
Chuyờn ngnh: iu dng
KHểA LUN TT NGHIP C NHN Y KHOA
Khúa 2008-2012
Ngi hng dn: Thc s Bựi V Bỡnh
H Ni 2012
Lời cảm ơn
Nhân dịp hoàn thành luận văn, lời đầu tiên tôi xin trân trọng cảm ơn
Ban giám hiệu, phòng đào tạo đại học Trường Đại học Y Hà Nội, Đảng ủy,
Ban giám đốc Bệnh viện K, cơ sở II đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
chất
tại khoa Chăm sóc triệu chứng và Điều trị đau, Bệnh viện K, cơ sở II”
Thưa các bác, cháu tin rằng các bác và gia đình đã dành rất nhiều thời
gian tìm hiểu rất kĩ về căn bệnh của mình, để có được quyết tâm điều trị bệnh.
Chính vì vậy, những câu trả lời và ý kiến chia sẻ của các bác sẽ giúp ích rất
nhiều người đọc nghiên cứu này, tiết kiệm được nhiều thời gian trong việc tìm
hiểu về bệnh viện, việc chăm sóc giảm nhẹ trên bệnh nhân ung thư; đặc biệt là
giúp ích cho cháu trong quá trình hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp của mình.
Cuộc phỏng vấn sẽ kéo dài khoảng 15 phút. Những thông tin mà các
bác cung cấp được tuyệt đối giữ bí mật và chỉ nhằm phục vụ cho mục đích
nghiên cứu. Cháu rất mong được các bác chia sẻ câu trả lời trong tất cả các
câu hỏi, song có những câu hỏi mang tính chất riêng tư, các bác có thể từ chối
không trả lời. Các bác cũng có thể dừng cuộc phỏng vấn nếu không muốn tiếp
tục trả lời.
Năm mới đang đến gần, một lần nữa xin được chúc các bác và gia đình
một năm mới an khang – thịnh vượng!
Kính thư!
Hồ Thị Hoa,
Sinh viên điều dưỡng 4, Trường Đại học Y Hà Nội.
Email:[email protected]; Điện thoại: 0946666254
MỤC LỤC
Trang
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 4
1.1. Ung thư 3
1.2. Điều trị hóa chất trên bệnh nhân ung thư 4
1.3. Chăm sóc giảm nhẹ 6
1.4.Triệu chứng trên bệnh nhân ung thư điều trị hóa chất 9
1.4.1.2.Nguyên nhân 9
1.4.2.1.Định nghĩa: Tình trạng người bệnh cảm thấy không thoải mái, dễ dàng
trong động tác hô hấp 11
toàn thế giới. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính rằng 7.6 triệu người chết
vì ung thư năm 2005, và 84 triệu người sẽ chết trong vòng 10 năm kế tiếp nếu
như không có những biện pháp thích hợp. Hơn 70% số người chết vì ung thư
nằm ở các nước kém phát triển và đang phát triển, nơi mà việc phòng ngừa,
chẩn đoán và điều trị ung thư đang hạn chế hoặc không được biết đến.
Theo ước tính mỗi năm có khoảng 150.000 người mới mắc bệnh ung
thư tại Việt nam, nhưng chỉ 5% số đó nhận được điều trị kịp thời. Theo Hội
ung thư Việt Nam, có một số rào cản khiến những người bệnh không nhận
được điều trị kịp thời như sự thiếu hụt thông tin, hiểu biết của người dân về
bệnh tật chưa cao, hay họ không đi khám khi không có triệu chứng, và một số
người cho rằng ung thư có thể chữa khỏi bằng thuốc bắc vì vậy việc đi viện là
không cần thiết.
Trên thế giới, nghiên cứu về chăm sóc toàn diện cho những bệnh nhân
mắc bệnh ung thư đã được tiến hành từ lâu. Tại nước ta, hướng dẫn chăm sóc
giảm nhẹ ở bệnh nhân ung thư mới được ban hành từ năm 2006. Việc phát
hiện, chẩn đoán đúng và điều trị các triệu chứng thực thể và tâm lý cũng như
hỗ trợ tâm linh ở những bệnh nhân bị đe dọa tính mạng không những giúp cho
việc tuân thủ điều trị trong phác đồ điều trị triệt căn, mà còn nâng cao chất
lượng cuộc sống cũng như kéo dài thời gian sống thêm cho họ. Việc điều trị,
chăm sóc, không chỉ nhắm đến người bệnh mà còn hỗ trợ nhằm giải quyết các
vấn đề tâm lý - xã hội và tâm linh mà gia đình người bệnh cũng phải chịu
đựng.
Tại nước ta, theo Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ đối với người bệnh
ung thư và AIDS của Bộ y tế ban hành năm 2006, việc chăm sóc giảm nhẹ nên
được áp dụng cho tất cả bệnh nhân ung thư. Hiện nay, nhiều bệnh viện đã
triển khai mô hình chăm sóc giảm nhẹ trên bệnh nhân mắc các bệnh đe dọa tới
tính mạng nói chung cũng như bệnh nhân ung thư nói riêng. Trong đó, khoa
Chăm sóc triệu chứng và Điều trị đau, bệnh viện K, cơ sở II là khoa đáp ứng
nhu cầu về chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân ung thư. Tuy nhiên, tôi chưa
tìm thấy nghiên cứu nào chỉ ra đầy đủ và cụ thể về ý kiến của bệnh nhân ung
- T T0: Chưa có dấu hiệu u nguyên phát.
Tis: Ung thư nội mạch: u chưa phá vỡ màng đáy.
T1: U ≤ 2 cm:
T1 mic: vi xâm lấn ≤ 0,1 cm
0,1 cm < T1a ≤ 0,5 cm
0,5 cm < T1b ≤ 1 cm
1 cm < T1c ≤ 2 cm
T2: U có kích thước từ hơn 2 cm tới 5 cm
T3: U lớn hơn 5 cm
T4: U mọi kích thước với sự xâm lấn.
T4a: xâm lấn vào thành ngực
T4b: xâm lấn vào da
T4c: xâm lấn vào cả da và thành ngực
T4d: ung thư vú thể viêm
- N N0: Chưa sờ thấy hạch nách cùng bên.
N1: Hạch nách cùng bên di động.
N2: Hạch nách cùng bên cố định.
N3 (a,b,c): Di căn hạch hạ đòn, vú trong, thượng đòn cùng bên.
- M M0: Chưa có di căn xa.
M1: Có di căn xa kể cả hạch thượng đòn.
1.1.2.2. Phân loại theo giai đoạn
Theo sự tiến triển của ung thư: tại chỗ, tại vùng, toàn thân.
Ví dụ: phân loại giai đoạn của Ann Arbor trong bệnh Hogkin (lách được coi
như một hạch).
- Giai đoạn I: Tổn thương một nhóm hạch đơn độc hoặc một vị trí đơn
độc ngoài hạch (IE).
- Giai đoạn II: Tổn thương hai hay nhiều nhóm hạch ở một phía cơ hoành
(II) với xâm lấn ngoài hạch: IIE.
- Giai đoạn III: Tổn thương nhiều nhóm hạch ở cả hai phía cơ hoành với
xâm lấn ngoài hạch: IIIE, tổn thương lách IIIs hoặc cả hai: IIIES.
- Phản ứng tức thời: Sốc phản vệ rất hiếm xảy ra. Một vài lọai thuốc như
paclitaxel hoặc các kháng thể đơn dòng như rituximab…có thể gây
phản ứng sốc phản vệ nên cần phải điều trị dự phòng trước và theo dõi
cẩn thận trong khi sử dụng.
- Các phản ứng sớm: Xảy ra trong vòng một vài ngày sau hóa trị như
buồn nôn và nôn; mệt mỏi, sốt, phản ứng giả cúm.
- Phản ứng muộn sau vài ngày đến vài tháng sau hóa trị như giảm sinh
tuỷ: giảm bạch cầu, thiếu máu, giảm tiểu cầu; rối loạn tiêu hóa: đau
bụng, chán ăn, tiêu chảy, táo bón; hệ lông tóc móng: rụng tóc, xạm da,
thay đổi màu sắc móng; hệ thần kinh: dị cảm đầu chi, giảm thính lực…;
hệ sinh dục: rối loạn kinh nguyệt, vô kinh, vô sinh…
- Các phản ứng muộn: thường sau nhiều năm như vô sinh, đột biến di
truyền, sinh ung thư thứ hai, suy tim, xơ phổi…
Ngoài các tác dụng phụ thường gặp như buồn nôn, nôn, rụng tóc, suy
tuỷ…mỗi thuốc hóa trị có thể có các tác dụng phụ chuyên biệt nên cần phải
chú ý khi phối hợp các thuốc với nhau. Thường người ta thường tránh phối
hợp các thuốc có cùng độc tính và tránh sử dụng các thuốc vượt quá liều tích
lũy tối đa cho phép để tránh các độc tính nặng không hồi phục được.
1.3. Chăm sóc giảm nhẹ
1.3.1. Định nghĩa và các nguyên tắc chung
Theo WHO (2009): Chăm sóc giảm nhẹ (Palliative care) là các biện
pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình người
bệnh, những người đang đối mặt với những vấn đề liên quan tới ốm đau đe
dọa tính mạng, thông qua sự ngăn ngừa và làm giảm gánh nặng họ chịu đựng
bằng cách nhận biết sớm, đánh giá toàn diện và điều trị đau và các vấn đề
khác, thể lực, tâm lý xã hội và tinh thần. Chăm sóc giảm nhẹ:
∗ Cung cấp các biện pháp giảm đau và giảm các triệu chứng khác.
∗ Khẳng định cuộc sống và cái chết là hai tiến trình bình thường.
∗ Không có ý định đẩy nhanh hay trì hoãn cái chết.
∗ Kết hợp cả khía cạnh tâm lý và tinh thần trong chăm sóc bệnh nhân.
∗ Xây dựng mô hình chăm sóc giảm nhẹ theo hình thức “ Nhóm chăm
sóc đa thành phần”, trong đó người bệnh là trung tâm, có sự tham gia
của nhân viên y tế, gia đình người bệnh, nhân viên xã hội, người tình
nguyện
∗ Thực hiện tại các cơ sở y tế, gia đình và cộng đồng.
1.3.2. Lịch sử nghiên cứu
1.3.2.1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về chăm sóc giảm nhẹ trên thế giới được bắt đầu từ những
năm 50 của thế kỷ trước. Năm 1957, một bệnh viện ở Ohio, Hoa Kỳ đưa chăm
sóc giảm nhẹ đến với những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, trải qua hai
thập kỷ, với những nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu ung thư Cleverland,
Ohio, người ta nhận thấy rằng chăm sóc giảm nhẹ có thể kéo dài cuộc sống
của những bệnh nhân này. Ở Anh, chăm sóc giảm nhẹ được công nhận là một
lĩnh vực trong y tế năm 1987. Ở Australia và New Zealand, chăm sóc giảm
nhẹ được biết đến từ những năm 1960, cả hai nước này đều có những bước
tiến quan trọng trong lĩnh vực chăm sóc giảm nhẹ và đến năm 1990, trung tâm
chăm sóc giảm nhẹ đầu tiên đã được thành lập. Ở Châu Âu, chăm sóc giảm
nhẹ đã xuất hiện ở nhiều nước, các trung tâm đầu tiên được xây dựng tại Na
Uy năm 2009, kết quả của sự phối hợp nhiều bệnh viện và tổ chức nghiên cứu
trên khắp Châu Âu.
1.3.2.2. Lịch sử nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, những năm gần đây cũng đạt được nhiều bước tiến quan
trọng trong đường lối phát triển hệ thống chăm sóc giảm nhẹ.
Tháng 6/2005, Bộ Y Tế có nghiên cứu đánh giá nhanh thực trạng chăm
sóc giảm nhẹ tại 5 tỉnh cho thấy rằng: 79,48% bệnh nhân ung thư đã từng phải
chịu đựng các cơn đau, 97,43% đã từng phải chịu đựng những triệu chứng khó
chịu về thể xác và 87% người bệnh ung thư trả lời rằng họ thấy không vui
hoặc rất buồn.
Tháng 9/2006, Bộ Y tế ban hành “Hướng dẫn quốc gia về chăm sóc
giảm nhẹ đối với người bệnh ung thư và AIDS”.
10. Kế hoạch can thiệp.
1.4. Triệu chứng trên bệnh nhân ung thư điều trị hóa chất
1.4.1. Đau
1.4.1.1. Định nghĩa
Theo IASP, đau là cảm giác khó chịu và sự trải qua những cảm xúc có
liên quan đến tổn thương mô học thực thể và tiềm tàng, hoặc được mô tả về
phương diện tổn thương mô học.
1.4.1.2. Nguyên nhân
Tổn thương mô thực sự do nhiễm trùng, phản ứng viêm, khối u, thiếu máu
cục bộ, chấn thương, các thủ thuật y học can thiệp, độc tính của thuốc…
Tổn thương mô học tiềm tàng do các bệnh thực thể đã được nhận biết mà
những tổn thương mô học không được biểu lộ, ví dụ như bệnh đau sợi cơ.
Các yếu tố tâm lý:
• Các rối loạn tâm thần như trầm cảm hoặc trạng thái lo lắng có thể gây
đau hoặc làm cho đau thực thể nặng hơn, và đau thực thể mạn tính có
thể gây ra các rối loạn tâm thần như trầm cảm và lo lắng.
• Các hội chứng tâm lý khác dẫn đến đau mạn tính bao gồm đau tâm lý
kéo dài dẫn đến đau thực thể hoá, rối loạn chuyển hoá, rối loạn do chấn
động tâm lý sau chấn thương, bệnh hoang tưởng, và các rối loạn cảm
giác đau do bệnh tâm thần.
• Các hội chứng tâm lý dẫn đến hoặc làm cho đau nặng thêm có những
định nghĩa cụ thể nhưng rất khó chẩn đoán bởi vì hầu như các thầy
thuốc không biết rõ chúng và bởi vì bệnh nhân sợ mang tiếng xấu bị
chẩn đoán là mắc bệnh tâm thần.
• Trong một số trường hợp, đau không thể giảm đi nếu các trạng thái
trầm cảm, lo lắng hoặc các vấn đề tâm lý khác không được chẩn đoán
và điều trị một cách đúng đắn.Những căng thẳng về cảm xúc nặng cũng
có thể làm cho đau trở nên trầm trọng hơn. Gia đình, bạn bè, những
thầy thuốc lâm sàng và những người giúp đỡ đồng đẳng cũng như công
việc và niềm tin có thể giúp bệnh nhân điều khiển được sự căng thẳng,
1.4.2.1. Định nghĩa: Tình trạng người bệnh cảm thấy không thoải mái, dễ
dàng trong động tác hô hấp.
1.4.2.2. Cơ chế của bệnh khó thở
Vai trò của kích thích các trung tâm hô hấp:
∗ Nguồn gốc thần kinh
- Tại vỏ não: Sự hồi hộp,ý muốn, có thể làm thay đổi tần số và độ
sâu của thở.
- Do phản xạ: phản xạ Hering – Breuer. Sự căng dãn phế nang
bình thường có thể làm ngừng hít vào và bắt đầu thở. Việc giảm
căg phế nang gây hít vào. Nếu giảm độ đàn hồi phổi sẽ lãm tăng
quá mức các phản xạ đó, gây thở ngắn và nông. Các phản xạ
khác : tăng áp suất trong mao mạch phổi (phản xạ Chu-chill -
Cope), trạng thái căng tĩnh mạch chủ (phản xạ Herrison) cũng
như các phản xạ xuất phát từ các khớp xương, các cơ cử động và
da, có thể kích thích các trung tâm hô hấp.
∗ Nguồn gốc hóa học
Thiếu oxy máu: các cảm thụ hóa học ở động mạch cảnh và động mạch
chủ dễ nhạy cảm với nồng độ oxy hòa tan trong huyết tương nhưng
không nhạy cảm với độ bão hòa hemoglobin.
Tăng anhydrit carbonic máu: các trung tâm hô hấp rất nhạy cảm với
mức độ tăng của cacbonic máu, hay gặp trong giãn phế nang và các
bệnh phế quản – phổi mạn tính hay cấp tính.
Trạng thái toan: trạng thái toan mạnh, gặp trong hôn mê đái tháo đường
và tăng urê máu, rất hay gây khó thở loại đặc biệt.
Vai trò của các yếu tố tại phổi: Khó thở xuất hiện khi công hô hấp (tức là
thông khí phút) có xu hướng đạt gần tới thông khí tối đa. Tình trạng tăng
thông khí phút gặp trong sử dụng không đủ oxy, giảm khuếch tán oxy,hay
tăng nhu cầu oxy. Giảm thông khí tối đa gặp khi có tình trạng giảm lòng phế
quản, yếu các cơ hô hấp hay tăng khí cặn.
1.4.3. Nôn/ buồn nôn
1.4.4. Táo bón/ tiêu chảy
1.4.4.1. Táo bón: Táo bón là sự chậm vận chuyển phân thể hiện bởi 2 ngày trở
lên mới đi ngoài một lần, thành phần nước trong phân ít dưới 75% thể hiện
phân khô hoặc cứng lổn nhổn như sỏi, lượng phân cũng ít, thường dưới 35g.
Tiêu chuẩn Rome: Có 2 hoặc nhiều hơn các tiêu chuẩn sau thì được coi
là táo bón:
Gắng sức ít nhất 25% thời gian.
Phân cứng ít nhất 25% thời gian.
Đi ngoài không hết phân ít nhất 25% thời gian.
≤ 3 lần đi ngoài/tuần.
1.4.4.2. Tiêu chảy: Ỉa chảy được đặc trưng bởi số lần đi ngoài nhiều hơn và
lượng nước nhiều hơn trong phân.
Phân bình thường chứa một lượng nước bằng 80% trọng lượng phân,
80-85 %là phân nhão, chứa trên 85% là phân lỏng, chứa dưới 75% là phân
táo. Lượng phân thường mỗi ngày là khoảng 200-300g.
Hệ thống TKTƯ
Hệ thống tiền đình
Vùng kích hoạt thụ
thể hóa học(CTZ)
Não thất 4
Vùng CTZ
Trung
tâm nôn
Hành tủy
Hoạt động TK phó giao cảm
và TK vận động ly tâm
Dạ dày, ruột và tim
Trung tâm nôn
1.4.5. Triệu chứng toàn thân
Các triệu chứng toàn thân là nguyên nhân phố biến của sự khó chịu và chất
1.4.6.2. Lo âu: Cảm giác sợ hãi và linh tính về điềm gở kèm theo các triệu
chứng thực vật ( chủ yếu là giao cảm)
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Địa điểm: khoa Chăm sóc triệu chứng và Điều trị đau, Bệnh viện K, cơ
sở II.
Thời gian thu thập số liệu: 01/02/2012 đến 01/4/2012.
Thời gian phân tích số liệu và viết báo cáo: từ tháng 4 đến tháng 5 năm
2012.
2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
- Bệnh nhân đang được điều trị hóa chất tại Khoa Chăm sóc triệu chứng và
Điều trị đau, Bệnh viện K, cơ sở II.
- Hiện đang được điều trị hóa chất lần thứ 2 trở đi.
Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân và gia đình từ chối tham gia nghiên cứu.
2.1.3. Phương pháp chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu này là phương pháp chọn mẫu
toàn bộ. Tất cả các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn vào của nghiên cứu đều
được mời tham gia nghiên cứu.
2.1.4. Cỡ mẫu
Trong thời gian thu thập số liệu, có tổng số 180 bệnh nhân đủ tiêu
chuẩn được mời tham gia nghiên cứu bằng văn bản (thư mời tham gia nghiên
cứu), trong số đó có 89 người đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.2.2. Công cụ nghiên cứu
Sử dụng bộ câu hỏi nghiên cứu được thiết kế riêng, bao gồm 2 phần cơ
bản: phần 1: thông tin chung về bệnh nhân (gồm 10 câu hỏi); phần 2: thông