tiểu luận môn học phân tích tài chính phân tích dòng tiền - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÂN TÍCH DÒNG TIỀN GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
Thực hiện: Nguyễn Hữu Nhân
Nguyễn Hoàng Nhật Tân
Nguyễn Hoàng Thụy Bích Trâm
Đỗ Thành Nhân
Nguyễn Thị Thùy
Lê Đặng Huỳnh Như
Nguyễn Quang Sơn
Phan Thị Mỹ Hiền
Lê Bùi Hồng Khanh
Nguyễn Thị Hải Đăng Tp.Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2013 2
MỤC LỤC

1.Dòng tiền 4
3
3.5.3 Tỷ số dòng tiền hoạt động/Doanh thu thuần - Operating Cash Flow/Sales Ratio
16
3.5.4 Tỷ số dòng tiền tự do/ dòng tiền hoạt động - Free Cash Flow/Operating Cash
Flow Ratio 17
3.5.5 Các tỷ số đảm bảo khả năng thanh toán và thanh khoản của dòng tiền – Cash
Flow Coverage Ratios 17
3.5.6 Các tỷ số đảm bảo khả năng thanh toán nợ vay và lãi vay 17
3.6 Tiến trình phân tích 18
4. Ví dụ minh họa: Phân tích dòng tiền Công ty cổ phần sữa Việt Nam (VINAMILK) 20
4.1 Đôi nét về công ty cổ phần sữa Việt Nam 20
4.2 Minh họa cách lập BCLCTT theo phương pháp gián tiếp 23
4.3 Minh họa các phương pháp phân tích dòng tiền 23
4.3.1 Phân tích theo tỷ trọng 23
4.3.2 Phân tích so sánh 24
4.3.3 Phân tích tỷ số 26
4.3.4 Khuyến nghị 28
4.4 Minh họa dự báo dòng tiền tự do vốn cổ phần (FCFE) 29
4
1.Dòng tiền
1.1 Khái niệm
Dòng tiền là sự lưu chuyển của tiền (dòng tiền vào và dòng tiền ra) trong một
thời kỳ. Dòng tiền gắn liền với quá trình hoạt động của doanh nghiệp, do đó phân tích
dòng tiền của doanh nghiệp rất quan trọng đối với người quản lý doanh nghiệp cũng
như các đối tượng bên ngoài quan tâm đến doanh nghiệp.

quyền, phí hoa hồng )
- Thu được do hoàn thuế.
- Thu được do khách hàng vi phạm
hợp đồng.
-

Tiền thanh toán cho nhà cung cấp.
- Tiền trả cho người lao động ( lương, trả
hộ bảo hiểm )
- Tiền trả chi phí lãi vay
- Tiền chi nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp.
- Tiền chi trả do doanh nghiệp vi phạm
hợp đồng. 5
+ Dòng tiền đầu tư:
Là dòng tiền liên quan đến việc mua sắm, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn ,
hoặc các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền (dưới 3 tháng).
DÒNG THU DÒNG CHI
-

Thu được từ việc nhượng bán, thanh
lý TSCĐ và các khoản tài sản dài hạn
khác.
- Tiền thu hồi cho vay từ các bên khác,
trừ ngân hàng và các tổ chức tín dụng
khác.
- Tiền thu do bán lại công cụ nợ của

+ Dòng tiền tài trợ:
Là dòng tiền liên quan đến các nghiệp vụ tiền tệ liên quan đến chủ sở hữu và chủ
nợ của doanh nghiệp.
DÒNG THU DÒNG CHI
-

Tiền thu từ phát hành cổ phiếu,
nhận vốn góp từ chủ sở hữu.
- Tiền thu từ các khoản đi vay
ngắn hạn, dài hạn.
-

Tiền chi trả vốn góp của chủ sở hữu,
mua lại cổ phiếu của chính doanh
nghiệp phát hành.
- Tiền chi trả các khoản nợ gốc đã vay.
- Tiền chi trả nợ thuê tài chính.
- Cổ tức, lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu.

6
2. Báo cáo dòng tiền
2.1 Khái niệm
Báo cáo dòng tiền là một bảng báo cáo thể hiện số thu, chi bằng tiền mặt từ các
hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài trợ - là những hoạt động chủ
yếu của một công ty. Báo cáo dòng tiền cho thấy một báo cáo tài chính tóm lược sự
luân chuyển của tiền trong một thời kỳ.
2.2 Báo cáo dòng tiền cung cấp thông tin gì

Các chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh theo phương pháp
gián tiếp được tính toán theo công thức sau:
+ Lợi nhuận trước thuế = Doanh thu - chi phí tạo ra doanh thu 7
= (Tiền + Nợ phải thu)-(Tiền + Hàng tồn kho + Chi phí trả trước phân bổ + Nợ
phải trả + Khấu hao + Dự phòng + Chi phí lãi vay).
= Tiền (lưu chuyển) + Nợ phải thu - Hàng tồn kho - Chi phí trả trước phân bổ -
Nợ phải trả - Khấu hao - Dự phòng - Chi phí lãi vay.
+ Lưu chuyển tiền = Lợi nhuận trước thuế + Khấu hao + Dự phòng+ chi phí lãi vay +
Hàng tồn kho - Nợ phải thu + Nợ phải trả + Chi phí trả trước phân bổ.
Qua công thức này thấy rằng, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh nếu được xác định
bắt đầu từ lợi nhuận trước thuế thì các chỉ tiêu điều chỉnh bao gồm: Khấu hao (điều
chỉnh tăng), Dự phòng (điều chỉnh tăng), Chi phí lãi vay (điều chỉnh tăng), còn
các chỉ tiêu: Hàng tồn kho, Nợ phải thu, Nợ phải trả và Chi phí trả trước thì việc
điều chỉnh tăng, giảm phụ thuộc vào số dư cuối kỳ và số dư đầu kỳ của các tài
khoản nằm trong các chỉ tiêu này:
+ Đối với hàng tồn kho:
* Nếu SDCK > SDĐK tức là SDCK – SDĐK > 0: Điều chỉnh giảm (chứng tỏ có
một bộ phận tiền được chuyển thành hàng tồn kho).
* Nếu SDCK < SDĐK tức là SDCK – SDĐK < 0: Điều chỉnh tăng (chứng tỏ có
một bộ phận hàng tồn kho được chuyển thành tiền).
+ Đối với nợ phải thu:
* Nếu SDCK > SDĐK tức là SDCK – SDĐK > 0: Điều chỉnh giảm (chứng tỏ có
một bộ phận tiền được chuyển thành nợ phải thu).
* Nếu SDCK < SDĐK tức là SDCK – SDĐK < 0: Điều chỉnh tăng (chứng tỏ có
một bộ phận nợ phải thu được chuyển thành tiền).
+ Đối với chi phí trả trước
* Nếu SDCK > SDĐK tức là SDCK – SDĐK > 0: Điều chỉnh giảm (chứng tỏ có

phương pháp trực tiếp. Việc xác lập như vậy cũng tỏ ra phù hợp bởi mục tiêu của
phương pháp này là xác lập mối liên hệ giữa lợi nhuận với lưu dòng tiền để giúp
người nhận thông tin thấy rằng không phải doanh nghiệp có lãi là có tiền nhiều,
doanh nghiệp bị lỗ thì có tiền ít hoặc không có tiền. Vấn đề là tiền nằm ở đâu, ở đâu
ra và dùng cho mục đích gì, mà đã đặt trong mối liên hệ với lợi nhuận thì hầu hết lợi
nhuận lại phải được tạo ra từ hoạt động kinh doanh.
Ví dụ: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ- gián tiếp công ty Vinamilk (Đơn vị tính: triệu
đồng)
12/31/2009 12/31/2010 12/31/2011 12/31/2012
LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH

Lợi nhuận trước thuế 2,732,564 4,231,550 4,932,509 6,887,345
Đi
ều chỉnh cho các khoản: Khấu hao tài sản cố định 217,355 261,449 361,326 468,009
(Hoàn nhập các khoản dự phòng)/dự phòng 64,269 30,017 131,970 (26,888)
L
ỗ chênh lệch tỷ giá hối
đoái chưa th
ực hiện

3,485

(42,641)

Chi phí lãi vay 6,604 6,004 13,933 3,115
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước
những thay đổi vốn lưu động
2,729,837 3,876,027 4,939,427 7,032,835
Tăng các kho
ản phải thu

(77,481)

(298,838)

(1,066,841)

(215,061)

Tăng hàng t
ồn kho

470,272

(997,327)

(916,348)

(171,030)

Tăng các khoản phải trả 408,931 398,191 782,980 360,547
Tăng các chi phí trả trước 12,850 (13,661) (23,173) (15,388)
Tiền lãi vay đã trả (6,891) (4,866) (14,786) (3,115)
Thu

Tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh (146,954) (309,955) (329,809) (519,124)
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh
doanh
3,117,136 2,167,402 2,582,737 5,402,791
LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ
Ti
ền chi
đ
ể mua sắm tài sản cố
đ
ịnh và xây
dựng cơ bản
(650,078) (1,421,429) (1,704,854) (3,014,662)
Tiền thu từ thanh lý, nhượng bán tài sản cố
định
62,885 720,844 50,148 72,674
Tiến chi để mua công cụ nợ (200,000) (500,000) - -
Tiền chi cho công ty liên kết vay - - (18,000) -
Tiền chi cho bên thứ ba vay - - - (30,000)
(Tăng)/gi
ảm tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn

(2,123,387)


(262,700)

(254,566)

Ti
ền thu lãi cho vay, cổ tứ
c và l
ợi nhuận
được chia
70,657 272,093 471,824 370,876
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu

(2,495,196) (1,162,911) (192,012) (5,054,463)
LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HOẠT ĐỘNG
TÀI CHÍNH

Ti
ền thu từ phát hành cổ phiếu

3,646

18,068

1,454,528

-

Tiền chi trả mua lại cổ phiếu doanh nghiệp đã
phát hành

2.4 Ưu điểm- hạn chế của báo cáo dòng tiền
2.4.1 Đối với phương pháp trực tiếp:
Ưu điểm: Trình bày cụ thể các luồng tiền thu và chi theo từng nội dung thu, chi
phí, phù hợp với báo cáo kết quả kinh doanh. Đặc điểm của phương pháp này là cung
cấp thông tin trực tiếp về luồng tiền thu, chi từ hoạt động kinh doanh.
Hạn chế:
o Không cho thấy được mối liên hệ giữa kết quả hoạt động kinh doanh với kết
quả lưu chuyển tiền từ hoạt động này.
o Các số liệu trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ khó kiểm tra đối chiếu với các số
liệu trong các báo cáo khác.
2.4.2 Đối với phương pháp gián tiếp:
Ưu điểm:
o Phương pháp này cho phép tính toán, xác định luồng tiền từ hoạt động kinh
doanh trên cơ sở lấy tổng lợi nhuận trước thuế và điều chỉnh cho các khoản thu, chi
không phải bằng tiền, các thay đổi trong vốn lưu động và các khoản tiền lưu chuyển
không phải từ hoạt động kinh doanh.
o Khắc phục được nhược điểm của phương pháp trực tiếp, tức cho thấy cụ thể
mối liên hệ giữa kết quả hoạt động kinh doanh với kết quả lưu chuyển tiền từ hoạt
động này
o Tính toán đơn giản, dễ kiểm tra, đối chiếu với các số liệu trong các báo cáo tài
chính khác.
3. Phân tích dòng tiền (PTDT)
3.1 Khái niệm
Phân tích dòng tiền là nghiên cứu về dòng luân chuyển tiền mặt trong quá trình
hoạt động của doanh nghiệp, nghiên cứu về chu kỳ dòng tiền vào và dòng tiền ra,qua
đó cho thấy được nguồn gốc dòng tiền, khả năng tạo tiền, khả năng thanh toán và chất
lượng thu nhập của doanh nghiệp, đồng thời đánh giá và dự báo dòng tiền trong tương
lai, kiểm tra lại các đánh giá, dự đoán trước đây về dòng tiền.
Phân tích dòng tiền liên quan đến việc kiểm tra các thành phần ảnh hưởng đến
dòng tiền, chẳng hạn như các khoản phải thu, hàng tồn kho, các khoản phải trả, và các

có sử dụng nguồn tức sử dụng tiền hợp lý, hiệu quả hay không, có cân đối giữa thu và
chi hay có đáp ứng được các hoạt động của doanh nghiệp hay không. Trong việc đánh
giá nguồn và sử dụng nguồn, các nhà phân tích tập trung giải đáp các câu hỏi:
- Thay thế tài sản nên được tài trợ bằng nguồn vốn bên trong hay bên ngoài?
- Các dự án mở rộng hoặc mua lại nên tài trợ bằng nguồn vốn nào?
- Công ty có phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài không?
- Công ty có các cơ hội đầu tư và nhu cầu đầu tư nào?
- Các yêu cầu và các loại tài trợ gì?
- Các chính sách quản trị có mang tính nhạy cảm cao với dòng tiền không?
Ngoài ra việc phân tích dòng tiền cũng có thể dùng đáp ứng những mục tiên khác như
- Nắm bắt khả năng thanh toán của doanh nghiệp thông qua dự báo dòng tiền.
- Nhận biết khả năng doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn tài chính, kiệt
quệ tài chính và nguy cơ phá sản.
- Đánh giá chính sách tín dụng của doanh nghiệp và nhận diện các khoản nợ xấu.
- Kịp thời phát hiện đầu tư lệch lạc, những hoạt động kém hiệu quả ảnh hưởng
đến tình hình tài chính của doanh nghiệp để có biện pháp cải thiện kịp.
3.3. Các phương pháp phân tích dòng tiền
a. Phương pháp so sánh:
Phương pháp xem xét những thay đổi số dư của từng khoản mục cần so sánh giữa năm
này với năm khác, hoặc so sánh khoản mục nào đó trong nhiều năm để có thể nhận
biết được xu hướng, tốc độ biến động của dòng tiền. 12

Các cá nhân sử dụng phương pháp so sánh trong phân tích tài chính thông qua
việc xem lại các bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập, hay báo cáo luân chuyển tiền
tệ liên tục qua các thời kì. Phương pháp này thường liên quan đến việc xem xét những
thay đổi trong số dư từng khoản mục riêng lẻ năm này so với năm khác hoặc so sánh
nhiều năm với nhau. Thông tin quan trọng nhất thường được nêu lên từ phương pháp

kì kế tiếp, mức giảm là 100%.
Phân tích tài chính so sánh thương trình bày cả tổng số tích lũy qua thời kì và số
trung bình (hay trung vị) của thời kì. So sánh giá trị hàng năm với số trung bình, hay
trung vị của một thời kì sẽ giúp làm nổi bật những biến động bất thường.
Phân tích chỉ số xu hướng.
Việc sử dụng phân tích qua từng năm dể so sánh các báo cáo tài chính trong từ
hơn 2 đễ 3 kì đôi khi trở nên cồng kềnh. Một công cụ thường được sủ dụng để so
sánh xu hướng dài hạn là phân tích chỉ số xu hướng. Phân tích dữ liệu sử dụng phân
tích chỉ số xu hướng đòi hỏi phải lựa chọn kì gốc đối với tất cả các khoản mục với chỉ
số thường được chọn trước là 100. Bởi vì kì gốc là một cái khung cho tất cả các so
sánh, tốt nhát là chọn một năm bình thường liên quan đến các điều kiện kinh doanh. 13

Cũng như khi tính toán tỉ lệ biến động qua từng năm, một vài biến động nào đó, từ giá
trị âm đến giá trị dượng, không thể được thể hiện bằng chỉ số.
Đối với phân tích chỉ số xu hướng, chúng ta không cần phân tích tất cả các khoản
mục trong báo cáo tài chính. Thay vào đó, chúng ta muốn hướng tới các khoản mục
quan trọng. Chúng ta cũng phải thực hiện một cách cẩn thận việc sử dụng chỉ số xu
hướng trong so sánh khi mà những biến động có thể là do các nhân tố kinh tế hay các
nhân tố chung của ngành. Hơn nữa, việc diễn giải tỷ lệ phần trăm biến động bao gốm
việc sử dụng một loạt các chỉ số xu hướng phải được diễn giải với một nhận thức về
những mâu thuẫn tiềm tàng trong việc áp dụng các nguyên tắc kế toán theo thời gian.
Khi có thể chúng ta sẽ điều chỉnh những điểm không đồng nhât này. Thời kì so sánh
càng dài thì kết quả càng dễ bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của giá cả. Một kết luận rút
ra từ từ phân tích xu hướng là khả năng để chuyển tải các động lực, triết lý và chính
sách cho nhà quản lý. Thời kì phân tích càng đa dạng nhà quản lý sẽ đối phó với các
khó khăn và nắm bắt các cơ hội càng dễ dàng hơn.
b. Phương pháp phân tích theo tỷ trọng:

là quan trọng. Ngược lại, rõ ràng chẳng có mối quan hệ nào giữa chi phí vận chuyển
và số dư chứng khoán thị trường. 14

Chúng ta nên nhớ rằng các tỷ số là những công cụ để cung cấp cho chúng ta sự
thấu hiểu trong điều kiện cơ bản. Chúng là một trong những điểm khởi đầu của phân
tích, không phải là điểm kết thúc. Các tỷ số khi được diễn giải thích đáng sẽ nhận định
được những phạm vi đòi hỏi có phân tích sâu hơn. Phân tích một tỷ số có thể nêu lên
các mối quan hệ quan trọng và những nền tảng của việc so sánh trong những điều kiện
và xu hướng khó nhận thấy bằng việc xem xét kĩ lưỡng các thành phần riêng lẻ cấu
thành tỷ số. Cũng như các công cụ phân tích khác các tỷ số thường hữu ích nhất khi
chúng được định hướng cho tương lai. Điều này nghĩa là chúng ta thường điều chỉnh
các nhân tố tác động tiềm tàng đến các tỷ số trong tương lai. Do đó, tính hữu ích của
các tỷ số phụ thuộc vào kĩ năng áp dụng và diễn giải chúng, và đây là những khía cạnh
đầy thách thức củ phân tích tỷ số.
3.4.Các thước đo dùng trong PTDT
3.4.1 Dòng tiền hoạt động (hay còn gọi là Dòng tiền thô – Operating cash
flow – OCF)
Khi một nghiệp vụ kế toán phát sinh, kế toán viên được phép lựa chọn các
phương thức kế toán khác nhau, và do đó có những tác động khác nhau đến thu nhập
của doanh nghiệp, do đó các nhà phân tích sử dụng một thước đo thay thế cho thu
nhập ròng để đánh giá về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp – dòng tiền thô.
Khái niệm về dòng tiền thô:
Dòng tiền thô = Thu nhập ròng + (Khấu hao + Chi phí trừ dần)
Tương đương:
Dòng tiền thô = Dòng tiền thuần sau thuế của HĐKD + Các chi phí không
bằng tiền mặt
Các chi phí không bằng tiền mặt điển hình là: khấu hao và chi phí trích trước

nhau, do đó hiệu quả hoạt động của hai công ty là tương đồng.
3.4.2 Dòng tiền tự do (FCF - Free Cash Flow)
Một trong những công cụ hữu ích trong phân tích dòng tiền là dòng tiền tự do
Dòng tiền tự do = Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh – Chi tiêu vốn – Chi
cổ tức
Chi tiêu vốn: Chi tiêu vốn để duy trì khả năng sản xuất, không bao gồm chi đầu
tư thiết bị mới
Chi cổ tức: Cổ tức cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường
Dòng tiền tự do cho thấy khả năng tạo tiền của doanh nghiệp để duy trì hoạt
động hiện tại.
Ưu điểm: loại bỏ được những ảnh hưởng của việc sử dụng những hình thức kế
toán khác nhau trong việc đánh giá sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.
Hạn chế: do tồn tại nhiều khái niệm về chi tiêu vốn nên có thể phát sinh nhiều
kết quả đánh giá về FCF khác nhau. Để khắc phục hạn chế này, cần thiết phải giải
thích rõ quan điểm về Chi tiêu vốn (Capital Expenditure) khi tính toán dòng tiền tự
do.
Có hai phương pháp xác định dòng tiền tự do:
• Dòng tiền tự do của công ty (FCFF - Free Cash Flow For The Firm)
Dòng tiền tự do của công ty được tính bằng:

Ý nghĩa: Dòng tiền do hoạt động công ty tạo ra và sẳn sàng chi trả cho cả các nhà
cung cấp vốn cho công ty và cổ đông của công ty.
• Dòng tiền tự do vốn cổ phần (FCFE - Free Cash Flow To Equity)
Dòng tiền tự do vốn cổ phần được tính bằng:
Dòng tiền tự do của công ty = EBIT (1-t) + Chi phí khấu hao – Chi tiêu vốn – tăng
giảm trong vốn luân chuyển – sự thay đổi trong tài sản khác 16


Ratio
Mục đích: Tỷ số này cho biết tỷ lệ tiền mặt thu về trên một đồng doanh thu
thuần.
Tỷ số dòng tiền hoạt động trên doanh thu thuần =
Dòng tiền hoạt động
Doanh thu thuần

Dòng tiền tự do vốn cổ phần = EBIT + Chi phí khấu hao – Chi tiêu vốn – sự thay
đồi trong vốn luân chuyển – chi trả nợ gốc + nợ gốc mới 17

Tỷ số này cho phép đánh giá việc một công ty bán hàng thu được tiền về là cao
hay thấp. Từ đó, cho thấy được sức khỏe tài chính của công ty về khả năng thanh toán
các khoản nợ đến hạn.
Đánh giá tỷ số: tỷ số này càng cao càng tốt. Đối với các công ty đã phát triển ổn
định thì tỷ lệ này thông thường >25%.
3.5.4 Tỷ số dòng tiền tự do/ dòng tiền hoạt động - Free Cash Flow/Operating
Cash Flow Ratio
Mục đích: Tỷ số dòng tiền tự do/ dòng tiền hoạt động cho biết mối quan hệ giữa
hai dòng tiền này.
Tỷ số dòng tiền tự do trên dòng tiền hoạt động =
Dòng tiền tự do (Dòng tiền hoạt động - Chi tiêu vốn)
Dòng tiền hoạt động

Đánh giá tỷ số: Tỷ số này càng cao thể hiện sức mạnh tài chính của công ty càng
lớn.
3.5.5 Các tỷ số đảm bảo khả năng thanh toán và thanh khoản của dòng tiền –
Cash Flow Coverage Ratios

hạn trả + Cổ tức)
+ Thanh toán nợ:
Số năm thanh toán nợ = Tổng nợ phải trả lãi / Dòng tiền thuần HĐKD
+ Thanh toán nợ dài hạn:
Số năm thanh toán nợ dài hạn = Tổng nợ dài hạn phải trả lãi / Dòng tiền thuần
HĐKD
+ Tỷ số trả nợ và lãi vay:
Tỷ số trả nợ và lãi vay = Dòng tiền thuần HĐKD / (Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn
đến hạn phải trả + chi phí lãi vay)
3.6 Tiến trình phân tích
Vì điều kiện của mỗi công ty khác nhau nên không luôn luôn có khuôn mẫu cụ
thể nào để phân tích dòng tiền nhưng các bước cơ bản có thể
Bước 1: Phân tích tỷ trọng
- Tỷ trọng dòng tiền thuần của từng hoạt động trong tổng dòng tiền thuần trong
kỳ.
- Tỷ trọng dòng tiền vào, dòng tiền ra của từng hoạt động trong tổng dòng tiền
vào, ra của tất cả các hoạt động.
- Tỷ trọng của từng khoản mục là các khoản mục chủ yếu trong tổng dòng tiền
của từng hoạt động.
• Mục tiêu: bước 1 cho thấy cơ cấu các dòng tiền trên tổng nguồn tiền của doanh
nghiệp.
• Thực hiện:
- Nếu các dòng tiền của doanh nghiệp cùng dấu (cùng âm hoặc dương, cùng là
dòng tiền vào hoặc ra) thì ta lấy dòng tiền của từng hoạt động, hoặc các hoạt động chủ
yếu chia cho tổng dòng tiền để thấy được tỷ trọng cấu thành dòng tiền của mỗi hoạt
động.
- Nếu các dòng tiền của doanh nghiệp khác dấu (vừa có âm vừa có dương, vừa
có dòng vào vừa có dòng ra) thì ta tính tổng dòng tiền vào và ra của doanh nghiệp
bằng cách:
* Dòng tiền vào: lấy tổng các khoản mục có giá trị dương trên báo cáo lưu

Bước 3: Đưa ra các nhận định, đánh giá, tìm hiểu nguyên nhân tác động
trong cơ cấu và xu hướng biến động dựa vào bước 1 và bước 2. Trong bước này các
nhà phân tích có thể kết hợp phân tích các tỷ số chuyên biệt, phân tích Dupont và phải
đáp ứng được các mục tiêu mà phân tích dòng tiền đưa ra.
• Mục tiêu: trả lời các câu hỏi:
- Doanh nghiệp có khả năng làm ra tiền hay không?
- Tiền mà doanh nghiệp tạo ra đến từ hoạt động nào? => Tiền doanh nghiệp tạo
ra có bền vững hay không?
- Doanh nghiệp có biết xài tiền hay không? Doanh nghiệp sử dụng tiền có hợp lý
không? Doanh nghiệp sử dụng tiền có đáp ứng các nhu cầu đầu tư, thanh toán hay
không?
- Nguồn tiền nào là nguồn tiền chính của doanh nghiệp, doanh nghiệp sử dụng
nguồn tiền này vào mục đích gì?
- Biến động nguồn và sử dụng nguồn qua các năm là như thế nào? Cả quy mô
lẫn tỷ trọng, khoản mục nào tạo ra biến động chủ yếu trong nguồn và sử dụng nguồn?
- Có những nghi vấn nào về tình hình sức khỏe của doanh nghiệp thông qua
những biến động dòng tiền không? (Doanh nghiệp có đang gặp khó khăn trong việc
tạo ra đủ tiền mặt để tái sản xuất không? Chất lượng thu nhập của doanh nghiệp có tốt
không? Áp lực trả nợ doanh nghiệp có không? Doanh nghiệp có khả năng tạo ra tiền
trả nợ không? )
• Ý nghĩa: giúp nhà phân tích đánh giá về độ bền vững của dòng tiền và những
triển vọng tương lai trong dòng tiền của doanh nghiệp, giúp nhà phân tích hệ thống 20

hóa các trọng tâm cần phân tích sâu và giải đáp các nguyên nhân biến động của dòng
tiền, đưa nhà phân tích đến những kết luận cuối cùng về thực trạng dòng tiền, nguy cơ
và rủi ro của doanh nghiệp.
Bước 4: Đưa ra những cảnh báo và khuyến nghị cho doanh nghiệp

các dòng sản phẩm. Thị trường nội địa thường chiếm tỷ trọng trên 80% tổng doanh
thu của Vinamilk.
- Thị trường xuất khẩu chính của Vinamilk là Trung Đông, Campuchia, Thái
Lan và Philippines. Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là sữa bột và sữa đặc. Trong năm 21

2012, doanh thu xuất khẩu của Vinamilk chiếm khoảng 14% tổng doanh thu của
Vinamilk.
Hệ thống phân phối:
Vinamilk chủ yếu bán hàng qua 2 kênh chính là kênh truyền thống và kênh hiện
đại
- Đối với kênh phân phối hiện đại thì Vinamilk bán hàng trực tiếp đến các siêu
thị trên toàn quốc.
- Đối với kênh phân phối truyền thống: Vinamilk thiết lập hệ thống gồm 250 nhà
phân phối độc quyền trên toàn quốc. Các Nhà phân phối này sẽ giao hàng đến các
điểm bán lẻ trong phạm vi phân phối của họ. Tại thời điểm 31/12/2012, Vinamilk đã
bao phủ được hơn 200.000 điểm bán lẻ, tăng hơn 22.000 điểm so với cuối năm 2011.
Cơ cấu vốn điều lệ:
Tính đến ngày 31.12.2012, vốn điều lệ của Công ty như sau:
- Vốn điều lệ của Công ty : 8.339.557.960.000 đồng. Trong đó, vốn điều lệ tăng
trong năm do phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu là 2.778.410.420.000 đồng.
- Khối lượng cổ phiếu niêm yết : 833.955.796 cổ phiếu
- Khối lượng cổ phiếu đang lưu hành : 833.525.676 cổ phiếu
- Cổ phiếu quỹ : 430.120 cổ phiếu
- Mệnh giá 1 cổ phiếu : 10.000 đồng
- Vốn hóa trên thị trường : 73.350 tỷ đồng, lớn nhất trên thị trường chứng khoán
Việt Nam.
Hình 4.1. Cơ cấu vốn đều lệ Vinamilk

Việc phân tích so sánh cho ta biết được xu hướng theo thời gian của các dòng
tiền theo chiều ngang còn phân tích theo tỷ trong cho ta thấy được xu hướng theo hang
dọc. Có nhiều cách phân tích theo tỷ trọng khác nhau nhưng ở đây chúng tôi chọn
phân tích tỷ trong theo dòng tiền vào và ra để thấy rõ hơn biến động theo chiều dọc
của dòng tiền, mức độ đóng góp của từng khoản mục trong báo cáo dòng tiền vào sự
thăng dư hay thậm hụt của dòng tiển đó trên phương diện toàn bộ báo cáo lưu chuyển
tiền tệ.
Đối với dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, chúng ta thấy rằng các khoản mục
có đóng góp quan trong vào dòng tiền vào là lợi nhuận trước thuế, khấu hao tài sản do
giá trị tài sản của Vinamilk lớn, gia tăng trong các khoản phải trả do mua sắm TSCĐ,
XDCB và mua hàng tồn kho để đáp ứng nhu cầu sản xuất gia tăng. Dòng tiền ra trong
hoạt động kinh doanh chủ yếu là do lỗ thanh lý tài sản cố định do Vinamilk thực hiện
chương trình thanh lý xe tải cho các nhà phân phối với giá rẻ và các sự tăng lên của
các khoản phải thu và hàng tồn kho do doanh thu và nhu cầu sản xuất gia tăng mạnh.
Tuy nhiên, chúng ta nhận thấy rằng dòng tiền ra trong hoạt động kinh doanh là quá
nhỏ so với dòng tiền vào nên dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh chiếm từ 25%
đến 69% trong tổng dòng tiền vào của doanh nghiệp.
Đối với dòng tiền từ hoạt động đầu tư thì dòng tiền vào lớn nhất là liên quan
đến tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được chia từ việc cho vay hay đầu tư vào 24

các cộng ty con và công ty liên kết. Tuy nhiên, khoản tiền vào này lại quá nhỏ so với
khoản tiền ra từ chi mua sắm TSCĐ, XDCB và sự tăng lên trong các khoản tiền gửi kỳ
hạn ngân hàng với lý do đã được giải thích ở phần phân tích so sánh ở trên. Xét về
tổng thể thì dòng tiền ra từ hoạt động đầu tư chiếm từ 16% đến 56% trong tổng dòng
tiền ra của doanh nghiệp. Riêng cá biệt vào năm 2011, dòng tiền từ hoạt động đầu tư
lại đóng góp 2% vào dòng tiền vào cùa Vinamilk do suy giảm hơn 1500 tỷ đổng tiền
gửi kỳ hạn tại ngận hàng để thanh toán nợ vay ngân hàng và chuyễn một phần thành

năm.
Bảng 4.2 Tổng hợp doanh thu, lợi nhuận trước và sau thuế của Vinamilk
qua các năm

Trong những năm gần đây, do mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nên
Vinamilk đã chi xây dựng thêm nhà máy và mua sắm máy móc thiết bị. Như chúng ta
thấy trong bảng 4.3, Tổng chi mua sắm TSCĐ và Xây dưng cơ bản đến năm 2016 lên
đến hơn 10 nghìn tỷ đồng. Trong đó, đã giải ngân từ năm 2012 trở về trước là trên 7
nghìn tỷ đồng. Chính việc đầu tư nhiều vào tài sản cố định là nguyên nhân chính làm
cho dòng tiền hoạt động bi âm trong suốt những năm vừa qua. Hơn nữa, cùng với
những biến động lãi suất trong những năm vừa qua làm Vinamilk thay đổi liên tục kỳ
hạn các khoản tiền gửi của mình từ đầu tư tài chính sang các khoản tương đượng tiền
(tiền gửi từ 3 tháng trở xuống) và ngược lại cũng làm cho dòng tiền từ hoạt dộng đầu
tư biến động và có xu hướng đi xuống do sự tăng lên của các khoản tiền gửi có kỳ hạn
trong 4 năm chúng ta khảo sát.
Bảng 4.3 Tổng chi mua sắm TSCĐ và Xây dưng cơ bản đến năm 2016


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status