GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY - Pdf 35

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO
ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thủ Tuyên
Lớp
: 09SGC
Giảng viên hướng dẫn: TS. Trần Ngọc Ánh

ĐÀ NẴNG, tháng 05/2013
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia văn hiến từ lâu đời. Lịch sử nước ta đã trải qua
hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Quá trình đó đã tôi luyện và hun đúc
nên những thế hệ con người Việt Nam với lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự
tôn, tự cường dân tộc, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, cần cù
1


sáng tạo…Những phẩm chất đó đã trở thành nét đẹp của đạo đức truyền thống
mà hàng ngàn đời nay những thế hệ con người Việt Nam luôn nâng niu và gìn
giữ. Những giá trị đó là linh hồn, là bản sắc văn hóa và là căn cước để nhận
diện bản sắc dân tộc Việt Nam trong vô số nền văn minh trên thế giới.
Sinh thời Bác Hồ luôn là tấm gương sáng trong việc nâng niu, gìn giữ
những gì mà cha ông để lại. Người từng nói: “ Nhân dân ta sẵn có truyền
thống tốt đẹp là lao động cần cù, sinh hoạt giản dị, lại có tinh thần yêu nước

vào lực lượng thanh niên và phụ thuộc vào việc bồi dưỡng, rèn luyện, đào tạo
các thế hệ trẻ. Công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một
trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Thế nhưng bên
cạnh những thành tựu đạt được đã nảy sinh những hạn chế nhất định do cơ
chế thị trường mang lại, đó là hiện tượng phản đạo đức, phi nhân tính của đời
sống xã hội. Tình hình thế hệ trẻ mắc vào tệ nạn xã hội, phạm tội không
ngừng gia tăng. Chính lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, thích hưởng
thụ, thói ích kỷ, buông thả, phai mờ lý tưởng, bất chấp đạo lý…..đang từng
ngày, từng giờ làm xói mòn, băng hoại những nét đẹp văn hóa, đặc biệt là
những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Mặc dù Đảng ta có nhiều
quan điểm đường lối nhằm kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền
thống trong việc xây dựng đạo đức mới cho mọi từng lớp nhân dân nói chung,
cho thanh niên nói riêng, thế nhưng việc cụ thể hóa các quan điểm, đường lối
ấy của Đảng ở một số nơi làm chưa tốt.
Nghệ An là một vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi nổi tiếng là một xứ văn
hóa với nhiều truyền thống đặc sắc, hiện nay tỉnh với gần 1 triệu thanh niên
chiếm 27% dân số và 47% lực lượng lao động tỉnh. Cơ cấu đa dạng và có nét
đặc thù: thanh niên trên địa bàn dân cư chiếm trên 70%; than niên là học sinh,
sinh viên chiếm gần 25%; thanh niên CNVC và lực lượng vũ trang chiếm 5%;
trong đó thanh niên dân tộc ít người chiếm 15%; thanh niên tôn giáo chiếm
9,5%; nữ thanh niên chiếm 50,3%, trong những năm qua mặc dù các chủ thể
giáo dục đã cố gắng trong quá trình giáo dục các giá trị đạo đức cho thanh
niên, thế nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm cho hiệu quả giáo
dục chưa cao, thậm chí ở một số nơi cấp ủy Đảng, chính quyền và tổ chức
Đoàn còn xem nhẹ hoặc chưa thấy rõ tầm quan trọng của việc giáo dục đạo
đức cho thanh niên.
Trước thực trạng ấy, việc giáo dục đạo đức mới cho thanh niên nói
chung, cho thanh niên Nghệ An nói riêng trên cơ sở kế thừa và phát huy

3

hành Trung ương khóa VIII (1998) với nội dung: “Xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”; “Giá trị truyền thống –
nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc” của tác
4


giả Nguyễn Văn Huyên (Tạp chí Triết học, số 4, 1998); “Tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục, rèn luyện trong nền kinh tế thị trường” của
Hoàng Trung ( Tạp chí triết học, số 5, 1998);…
Một số chuyên khảo tiêu biểu đi sâu nghiên cứu nhằm xác định các giá
trị đạo đức truyền thống làm cơ sở cho việc xây dựng đời sống văn hóa đặc
biệt là đời sống văn hóa và con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: “Giáo
dục đạo đức với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay” của Trần Sĩ Phán (luận án Tiến sĩ, 1999); “Quan
hệ kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ hiện nay
ở Việt Nam” của Nguyễn Đình Quế ( luận văn thạc sĩ, 2000); “Giá trị đạo đức
và biểu hiện của nó trong đời sống xã hội” của Mai xuân Lợi ( Tạp chí Triết
học, số 3, 2001); “Vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt
Nam hiện nay” của Doãn Thị Chín ( luận văn Thạc sĩ, 2004); “Đạo đức mới –
đạo đức cách mạng từ các cách tiếp cận khác nhau” của Trịnh Duy Huy
( Tạp chí Triết học, số 1, 2006); “Toàn cầu hóa “nguy cơ tha hóa” và vấn đề
định hướng giá trị văn hóa tinh thần” của Đặng Hữu Toàn (Tạp chí Triết học,
số 5, 2006); “Về việc tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong xây dựng nền đạo
đức mới ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Văn Phúc ( Tạp chí Triết học, số 11,
2006); “ Nhân ái – một truyền thống cần kế thừa và phát huy trong việc xây
dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay” của Võ Văn Thắng (Tạp chí Triết học, số
7, 2007); “Một số giá trị đạo đức Việt Nam từ truyền thống đến Hồ Chí
Minh” (Sách học tập đạo đức Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2007); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí của thanh niên đối với sự
nghiệp cách mạng” của Đào Thị Tùng (Thông tin công tác trường chính trị số

đức truyền thống trong việc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên tỉnh Nghệ
An hiện nay.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn tập trung:
- Làm rõ vai trò của giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây dựng đạo đức
mới cho thanh niên Việt Nam hiện nay.
- Nghiên cứu làm rõ giá trị đạo đức truyền thống với việc xây dựng đạo đức
mới cho thanh niên Nghệ An hiện nay thực trạng và giải pháp
c. Phạm vi nghiên cứu
Đạo đức truyền thống của con người Việt Nam bao gồm cả tính tích cực
và hạn chế, trong luận văn này tác giả tập trung nhiều hơn đến mặt tích cực
cần được kế thừa và phát huy trong việc xây dựng đạo đức mới cho thanh
niên tỉnh Nghệ An hiện nay.
6


4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
a. Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn này dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, các
quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức thanh niên,
đồng thời kế thừa và chọn lọc những thành tựu của các công trình nghiên cứu
khoa học có liên quan đến đề tài.
b. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp giữa phương pháp lịch sử và
logic, phân tích và tổng hợp. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp so
sánh, phân tích, thống kê…để thực hiện mục đích đề tài nghiên cứu đề ra.
5. Nét mới của đề tài
- Phân tích và làm rõ thực trạng phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong
việc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên tỉnh Nghệ An hiện nay.

“ Giá trị” là một trong những phạm trù cơ bản có liên quan đến đời
sống con người, đến thực tiễn xã hội:
“ Giá trị là phạm trù người. Chỉ trong con người xã hội mới có cái gọi
là giá trị. Trong quá trình “chiếm hữu” để trưởng thành và để tự vượt lên
8


mình giữa con người với ngoại giới, giữa con người với con người, trong xã
hội xuất hiện khái niệm giá trị”. Giá trị được đề cập và nghiên cứu trong rất
nhiều lĩnh vực khoa học: Đạo đức học, tâm lý học, xã hội học, chính trị học,
kinh tế học, triết học. Tuy nhiên trong mỗi lĩnh vực khác nhau, khái niệm về
giá trị có thể mang những nội dung khác nhau.
Ngay từ thời cổ đại, gắn liền với triết học, con người đã có những hiểu
biết ban đầu sơ khai về “ giá trị”, “giá trị học”. Mãi đến cuối thế kỷ XIX giá
trị học mới tách riêng thành một lĩnh vực khoa học độc lập và từ đó thuật ngữ
giá trị được dùng để chỉ một khái niệm khoa học.
Trong lĩnh vực kinh tế học, phạm trù giá trị gắn liền giá trị hàng hóa,
giá cả và sản xuất hàng hóa và phía sau nó là sức lao động, giá trị lao động
của người làm ra hàng hóa. Theo quan điểm kinh tế, giá trị kinh tế là sức
mạnh của sản phẩm này khống chế những sản phẩm khác thông qua trao đổi,
giá trị của một vật phẩm thể hiện ở tính có ích của nó, nghĩa là vật phẩm đó
có khả năng đáp ứng thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Do vậy, trong
phân tích kinh tế thì giá trị là vị trí tương đối của hàng hóa trong trật tự ưu
tiên, vị trí của nó càng cao thì giá trị của nó càng lớn.
Trong lĩnh vực triết học, khi đề cập đến phạm trù giá trị thì có nhiều
quan điểm khác nhau. Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan như
Kant, M.SheLer…coi giá trị là sự tồn tại của những bản chất tiên nghiệm,
những chuẩn mực lý tưởng tồn tại bên ngoài sự vật không phụ thuộc vào nhu
cầu và ham muốn của con người. Trái lại, chủ nghĩa duy tâm chủ quan coi giá
trị là hiện tượng của ý thức, là biểu tượng của thái độ chủ quan của con người

hiện sự lựa chọn và đánh giá của chủ thể.
Tóm lại, “ nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt
chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng,
cái tốt, cái hay, cái đẹp; là nói đến khả năng thôi thúc con người ta hành động
và nỗ lực vươn tới” [ 3, tr. 16 -19].
Để phân loại giá trị, tùy theo mục đích tiếp cận mà các tác giả nêu lên
những căn cứ phân loại khác nhau về giá trị. Thế nhưng thông thường cách
phân loại khá phổ biến là chia giá trị thành hai loại: giá trị vật chất và giá trị
tinh thần. Giá trị vật chất thể hiện rõ nhất trong đời sống kinh tế - nơi gắn bó
trực tiếp với tồn tại xã hội, quyết định sự tồn tại của xã hội loài người, vì vậy
giá trị vật chất cũng liên quan mật thiết với các lĩnh vực chính trị, pháp quyền,
thiết chế xã hội,…còn giá trị tinh thần “ vượt thoát” hiện thực nhưng không
phải xa rời hiện thực mà là nhằm vươn tới một xã hội nhân văn, xã hội mà
nhân loại tiến bộ đang mong tới.

10


Trong các giá trị vật chất, người ta thường đề cập đến giá trị sử dụng và
giá trị kinh tế.
Trong các giá trị tinh thần, người ta thường đề cập đến các loại giá trị
như: giá trị khoa học (giá trị nhận thức, cái chân lý), giá trị chính trị (cái chính
nghĩa, cái cách mạng), giá trị tôn giáo (sự thiêng liêng, sự thánh thiện), giá trị
đạo đức ( cái thiện, cái ác)…tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính tương
đối. Trong phạm vi luận văn tác giả xin góp phần làm rõ thế nào là “ giá trị
đạo đức”?
Trong hệ thống các giá trị tinh thần của đời sống xã hội thì giá trị đạo
đức là một yếu tố vô cùng quan trọng, nó là những chuẩn mực, những khuôn
mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hóa hành vi
của con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác. Vì vậy, giá trị đạo đức được đánh

của cả cộng đồng người.
Thứ ba, truyền thống được hình thành trong lịch sử do tác động của
môi trường tự nhiên và điều kiện địa lý, do tác động của quá trình lao động
sản xuất và kết cấu kinh tế xã hội, sự tác động thường xuyên của lịch sử, tác
động của môi trường văn hoá khu vực và thế giới.
Thứ tư, truyền thống có tính kế tục từ lớp người trước sang lớp người
sau, nó ăn sâu vào tâm lý, vào phong tục, tập quán, nếp nghĩ...của con người.
Như vậy, truyền thống có tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưu
truyền. Những đặc trưng đó của truyền thống có tính độc lập tương đối, khi
những cơ sở, điều kiện hình thành nên truyền thống đã thay đổi thì sớm muộn
nội dung của truyền thống cũng dần biến đổi theo cho phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh lịch sử mới. Truyền thống không phải là một phạm trù khép kín mà
là hệ thống mở. Cho nên, những giá trị được tạo ra hôm nay và ngày mai nếu
trở thành phổ biến và ăn sâu vào đời sống tâm lý, lối sống của cộng đồng thì
sẽ tạo ra truyền thống mới.
Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam là một bộ phận của hệ giá trị
tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, nó là nhân lõi, là sức sống bên
trong của dân tộc. Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là sự kết tinh toàn bộ
tinh hoa của dân tộc, được xác định là các giá trị nhân văn mang tính cộng, là
những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử giữa
con người với con người, giữa con người với tự nhiên.
12


Xét trong mối tương quan với khu vực và thế giới, đặc biệt với các dân
tộc ở phương Đông, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta có những
nét tương đồng với nhiều dân tộc khác vì các dân tộc trong quá trình hình
thành và phát triển của mình đều phải giải quyết những vấn đề chung như,
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, ổn định và phát triển xã hội...Mặt khác, sự giao
lưu quốc tế và sự giao thoa giữa các nền văn hoá diễn ra thường xuyên ở mức

cảnh địa lý, môi trường tự nhiên, lịch sử xã hội.
Việt Nam là một nước có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời, đời sống
người nông dân quanh năm gặp nhiều khó khăn, vất vả, phần lớn phụ thuộc
vào thiên nhiên. Mặt khác, do nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Bắc
và Đông Nam nên điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt, mưa nắng thất
thường, điều đó đã gây ra nhiều thiên tai, hạn hán, dẫn đến mất mùa. Chính
trong điều kiện khó khăn đó đã hình thành ở con người Việt Nam những giá
trị quý báu như: sự gắn bó cộng đồng chặt chẽ, yêu thương đùm bọc, giúp đỡ
nhau,…từ đó hình thành thói quen cần cù, tiết kiệm.
Việt Nam là đất nước có nhiều tài nguyên thiên nhiên quý báu “ rừng vàng,
biển bạc, đất phì nhiêu”; mặt khác, lại nằm ở đầu mối giao thông quốc tế, cho
nên Việt Nam thường xuyên là mục tiêu của các thế lực ngoại xâm và trong
điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, sự đe dọa của ngoại xâm, để tồn tại và phát
triển, người Việt Nam phải “ chung lưng đấu cật”, “sát cánh bên nhau” trong
sản xuất và chiến đấu. Việc gắn đời sống của cá nhân với cộng đồng cũng là
để bảo vệ cuộc sống của mình. Do đó, trong nấc thang giá trị xã hội thì giá trị
cộng đồng là được đánh giá cao, hay nói cách khác đề cao các giá trị đạo đức
là đặc điểm nổi bật trong đời sống của dân tộc Việt Nam.
Trong các chủ trương, đường lối của Đảng ta và nhiều công trình nghiên cứu
của các nhà khoa học Việt Nam đã thể hiện quan điểm của mình về các giá trị
đạo đức truyền thống của dân tộc. Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng: giá trị đạo đức
của dân tộc Việt Nam bao gồm “ lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao
động cần cù và sáng tạo, tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng
con người”[17, tr.74], còn theo Giáo sư Trần Văn Giàu, thì giá trị đạo đức
truyền thống của dân tộc Việt Nam bao gồm: “ yêu nước, cần cù, anh hùng,
sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa” [10, tr. 94]. Trong các văn kiện
của Đảng ta, đặc biệt là Nghị quyết của Bộ chính trị về một số định hướng lớn
trong công tác tư tưởng đã xác định: “ Những giá trị văn hóa truyền thống bền
vững của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu
14

người có nhiều khác biệt, nhưng yêu nước là giá trị hàng đầu của mỗi người
Việt Nam, là “ tiêu điểm của mỗi tiêu điểm”, là “ giá trị trên các giá trị”. Giáo
sư Trần Văn Giàu cho rằng: “ yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch
sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại” [10, tr.94].
15


Sự hình thành chủ nghĩa yêu nước gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước
của dân tộc Việt Nam. Tinh thần yêu nước Việt Nam không chỉ là tình cảm
mà còn là một tư tưởng thiêng liêng, cao quý nhất, được bắt nguồn từ những
tình cảm đơn sơ và bình dị của mỗi người dân. Tình cảm đó ban đầu bắt
nguồn từ sự yêu thương, quan tâm đến những người thân thương, ruột thịt, rồi
đến xóm làng, sau đó phát triển cao thành tình yêu Tổ quốc. Tình yêu tổ quốc
không chỉ gắn liền với quá trình dựng nước mà nó còn thể hiện rõ trong quá
trình bảo vệ đất nước. Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam được thể
hiện ở lòng dũng cảm, ý chí bất khuất, kiên cường; đó là tinh thần hết mực
yêu hòa bình, yêu tự do, nhưng khi đất nước có ngoại xâm thì “ thà hy sinh tất
cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Chính tinh thần yêu nước nồng nàn đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn,
chiến thắng mọi thế lực xâm lược. Qua những cuộc chiến tranh trường kỳ đầy
gian khổ đó, chủ nghĩa yêu nước đã trở thành dòng chủ lực của đời sống Việt
Nam, thành một triết lý xã hội và nhân sinh trong tâm hồn người Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “ Dân tộc Việt Nam có lòng nồng nàn
yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ
quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô
cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn
chìm tất cả bè lũ bán nước và cướp nước” [37, tr.171].
Tóm lại, chính lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường dân tộc đã tạo ra
sức mạnh vô cùng to lớn, giúp cho dân tộc Việt Nam vượt qua mọi gian nguy,
chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giữ vững độc lập, tự do cho Tổ quốc. Chính

bao thế hệ tinh thần dũng cảm, dám đối mặt với sự thật dù nó có khó khăn và
rất gian nan, không trốn tránh, là tinh thần luôn lạc quan để vượt qua bao sóng
gió của cuộc sống, là làm những việc mà người khác không dám làm, là dám
đương đầu với những khó khăn thử thách của bản thân, dám đối diện với
chính mình. Trong lịch sử nước nhà chúng ta đã có rất nhiều những tấm
gương dũng cảm, vì nước quên thân, luôn sẵn sàng đối mặt với kẻ thù, với
khó khăn gian khổ, thậm chí cả hy sinh mất mát. Đó là anh hùng trẻ tuổi Trần
Quốc Toản bóp nát quả cam và anh dũng đứng lên chống giặc Nguyên Mông
tàn bạo, là Lê Lai liều mình cứu chúa. Trong hai cuộc chiến tranh chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc lòng dũng cảm ấy là phẩm chất quan
trọng nhất của những người hùng trong cuộc kháng chiến. Đúng như Tố Hữu
đã viết : “Dân ta gan dạ anh hùng. Trẻ làm đuốc sống, già xông lửa đồn.
Chân toạc máu, chân dồn đuổi giặc. Tay chém thù tay sắc như gươm”. Họ đã
17


cùng toàn dân quyết tâm làm nên một chiến công Điện Biên Phủ “Chín năm
làm một Điện Biên; Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng” Những chiến sĩ Điện
Biên là những con người mang trong mình chất thép của lòng dũng cảm:
“Chiến sĩ Điện Biện, chiến sĩ anh hùng. Đầu nung lửa sắt, gan không núng,
chí không mòn…Những đồng chí thân chôn làm giá súng; đầu bịt lỗ châu
mai, băng mình qua núi thép gai, ào ào như vũ bão. Những đồng chí chèn
lưng cứu pháo, nát thân, nhắm mắt còn ôm”. Những hình ảnh những anh vệ
quốc quân, giải phóng quân đã trở thành những biểu tượng đẹp về lòng dũng
cảm như chị Võ Thị Sáu đứng trước họng súng quân địch mà vẫn cất cao
tiếng hát, anh Hai Thương bị địch bắt và tra tấn dã man, anh đã dũng cảm
chịu đựng khi bị địch cưa chân đến sáu lần với biết bao đau đớn nhưng anh
nhất quyết không khai một lời nào. Chú bé loắt choắt chạy như bay dưới làn
đạn quân thù để đưa thư cho được bức thư đề "thượng khẩn". Đó còn là cô
thanh niên xung phong ”Lấy thân mình hứng lấy luồng bom” (Thơ Lâm Thị

Nhân được hiểu là lòng thương người, yêu người, yêu quý kính trọng con
người.
Nghĩa được hiểu là điều hợp lẽ phải, làm theo lẽ phải, đối xử với con
người theo lẽ phải.
Nhân nghĩa là lòng thương người, đối xử với người theo lẽ phải. Nhân
nghĩa là bản chất ở mỗi con người Việt Nam, đó là tình thương yêu, lòng
nhân ái, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạn nạn, khó khăn: “Nhiễu điều phủ lấy giá
gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”. Sự thương yêu đùm
bọc lẫn nhau đã đi vào lịch sử, ca dao, tục ngữ, thơ văn,…Nó đã trở thành
quan niệm sống của mỗi con người Việt Nam: “ Bầu ơi thương lấy bí cùng,
tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “ Lá lành đùm lá rách”, “ máu
cháy ruột mềm”. Cha ông ta đã dạy đạo lý làm người cho con cháu “ Muốn
người ta yêu mình thì mình phải yêu người trước”. Đạo lý nhường nhịn, đùm
bọc thương yêu nhau là tình cảm gắn bó người Việt lại với nhau trong tình
làng nghĩa xóm. Nó trở thành lối ứng xử hàng ngày của mỗi người Việt Nam
qua các thế hệ. Nhân nghĩa còn thể hiện ở sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau
trong lao động , trong cuộc sống hàng ngày với mong muốn mọi người đều có
cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Tinh thần nhân nghĩa của người Việt Nam thể hiện sâu sắc ở lòng vị tha
và sự cao thượng, không cố chấp với người có lỗi lầm, biết hối cải, họ đối xử
khoan hồng ngay cả với tù binh, hàng binh trong chiến tranh “ Đánh kẻ chạy
đi, không ai đánh kẻ chạy lại”. Bác Hồ đã từng dạy: “ Năm ngón tay cũng có
19


ngón ngắn, ngón dài, nhưng ngắn, dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong
mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác,
đều là dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ…ta phải
lấy tình nhân ái để cảm hóa họ”. Lòng nhân ái của dân tộc ta không chỉ dành
riêng cho người Việt Nam mà còn mở rộng ra là tình yêu thương nhân loại.

thương đồng bào, thương các dân tộc bị áp bức trên thế giới cũng chính là nét
nổi bật trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Một nét nổi bật nữa của truyền thống nhân nghĩa của dân tộc là các thế
hệ sau luôn ghi lòng tạc dạ công lao của các vị anh hùng dân tộc, các thế hệ đi
trước, những người đã ngã xuống trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, những người có công khai sáng nền văn hóa dân tộc, có công với làng
xóm, dòng họ. Hầu hết nơi nào trên đất nước Việt Nam cũng có đền thờ các vị
anh hùng, đền thờ thành hoàng làng, dòng họ, tổ tiên, ví dụ như đền thờ các vị
anh hùng: Tản Viên, Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,
Lê Lợi, Quang Trung, rồi đến thờ các dòng họ, các ông tổ của nghề, Thành
hoàng làng…Hàng năm, nhân dân ta thường mở lễ hội để tưởng nhớ những
người có công với đất nước. Mỗi con người Việt, dù họ sống ở đâu, làm nghề
gì thì cũng đều nhớ ngày giỗ Tổ. Ngày giỗ Tổ là ngày hội lớn nhất của dân
tộc: “ Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng Ba”.
Truyền thống nhân nghĩa trong thời đại ngày nay được thể hiện ở
đường lối đối ngoại của Đảng với phương châm: “ Khép lại quá khứ hướng
đến tương lai”, “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” nhằm xây
dựng nước Việt Nam giàu đẹp, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, bảo vệ hòa
bình và an ninh quốc gia.
“Truyền thống nhân nghĩa còn thể hiện ở niềm tin vào con người, tin
vào tiền đồ phát triển của đất nước với quan niệm “ Hậu sinh khả úy”, “ Con
hơn cha là nhà có phúc” [11, tr.87]. Điều này được chứng minh qua mỗi thế
hệ con người Việt Nam đều ham học hỏi, kính trọng, biết ơn công lao của
những người đi trước. Trong mỗi gia đình đó là sự hy sinh của cha mẹ dành
cho con cái, là sự hiếu thảo của con cháu dành cho ông bà, cha mẹ đã dạy dỗ
nuôi nấng thành người.
Phát huy truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, ngày nay chúng ta đang
khơi dậy các phong trào “ Uống nước nhớ nguồn”, “ Đền ơn đáp nghĩa”, thăm
hỏi, tặng quà cho các gia đình có công với cách mạng, gia đình bà mẹ Việt
Nam anh hùng, gia đình thương binh liệt sĩ, giúp đỡ đồng bào lũ lụt, đồng bào

nhất và quý nhất khi gặp khó khăn, hoạn nạn. Khi đói rét thì “nhường cơm sẻ
áo” khi gặp hoạn nạn, khó khăn thì “Chị ngã em nâng”…
Một câu hỏi được đặt ra, vậy truyền thống đoàn kết bắt nguồn từ đâu? Truyền
thống đoàn kết trước hết bắt nguồn từ gia đình, làng xã “ Thuận vợ thuận
chồng, tát bể đông cũng cạn”, “ Anh em như thể tay chân”, “ Máu chảy ruột
mềm”,…từ tinh thần đoàn kết trong gia đình đã phát triển thành tình đoàn kết

22


làng xóm “ Bán anh em xa mua láng giềng gần” hay “ Tối lửa tắt đèn có
nhau”.
Có thể nói rằng, ít quốc gia, dân tộc nào trên thế giới, tinh thần đoàn
kết lại thể hiện phong phú đa dạng như ở Việt Nam. Tinh thần đoàn kết được
thể hiện ở ba không gian nhà – làng – nước.
Từ đoàn kết gia đình, làng xã mở rộng ra đó là đoàn kết toàn dân tộc.
Lịch sử qua hàng ngàn năm cho thấy “ Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng tinh thần đoàn kết là một
yếu tố vô cùng quan trọng, cái đảm bảo chắc chắn cho thắng lợi của dân tộc,
là điểm tựa tinh thần vững chắc, một động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp giải
phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp cách mạng XHCN.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở: Dễ trăm lần
không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong, “Việc gì khó cho mấy,
quyết tâm làm thì làm chắc được, ít người làm không nổi, nhiều người đồng
tâm hiệp lực mà làm thì phải nổi” [67, tr.258]. Người còn khẳng định: Đoàn
kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công. Trước lúc
đi xa, Người còn căn dặn các cán bộ, đảng viên: “Đoàn kết là một truyền
thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương
cho đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn
con ngươi của mắt mình (Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công bố

Hiếu học có cơ sở bền vững từ trong mỗi gia đình, mỗi quê hương của người
Việt Nam. Dù ở bất cứ lúc nào, ở đâu trên đất nước Việt Nam chúng ta vẫn
bắt gặp những tấm gương hiếu học đáng trân trọng. Các bậc cha mẹ ở các thế
hệ nối tiếp nhau từ xưa đến nay đều có mơ ước con mình học giỏi để thành
người hữu dụng. Trong lịch sử của dân tộc, mặc dù có những hoàn cảnh khó
khăn, thậm chí đói nghèo nhưng vẫn có những bậc cha mẹ đã quan tâm đến
việc học hành của con cái, tạo được gai đình khoa bảng nhiều đời sử sách lưu
danh đến ngày nay. Họ đã cống hiến cho đất nước những danh nhân văn hóa,
những nhân tài đáng trân trọng – đó là những tấm gương hiếu học sáng ngời
như: Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn,…Mặc dù những gương hiếu
học đó có những điều kiện hoàn cảnh cụ thể khác nhau, nhưng điểm chung
của họ là tuy sống trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nhưng với tinh thần
hiếu học, kiên trì, vượt khó họ đã vươn lên trở thành những danh nhân đất
Việt.
Do hiếu học, nên dân tộc Việt Nam sớm có truyền thống “tôn sư trọng đạo”,
“Tiên học lễ, hậu học văn”, học trước hết là để làm người sau đó để làm việc.
Cho nên để trở thành người tốt, làm việc tốt thì phải học. Người có học thức
24


cao luôn được xã hội suy tôn. Vì vậy “tôn sư trọng đạo” trở thành một truyền
thống vô cùng cao đẹp của dân tộc ta, nó góp phần định hướng giá trị trong
quá trình phát triển xã hội. Trong tác phẩm “ Bàn về khoan dung trong văn
hóa” của Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Khái Vinh và Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tuấn
đã nhận định rằng: “Giá trị hiếu học, coi trọng học vấn và tôn sư trọng đạo là
truyền thống lâu bền và là một hàm nghĩa của văn hiến Việt Nam” [63,
tr.316]. Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu thì cho rằng: “Hiếu học là truyền thống quý
báu từ ngàn xưa của dân tộc ta. Truyền thống ấy cần được gìn giữ và phát huy
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bất chấp những “sóng
gió” của kinh tế thị trường” [ 2, tr. 4].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status