BỘ CÔNG THƯƠNG
TỔNG CÔNG TY CP ĐIỆN TỬ VÀ TIN HỌC VIỆT NAM
TRƯỜNG CAO ÐẲNG CÔNG NGHỆ VIETTRONICS
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM KHAI THÁC
CÁC LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở THÁI BÌNH
CHO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA THÀNH PHỐ
Giáo viên hướng dẫn
Đơn vị
Sinh viên
Lớp
Ngành
: Nguyễn Thị Huệ
: Khoa quản trị kinh doanh
: Nguyễn Thị Kim Ngân
: 2VH9
: Văn hóa du lịch
Hải Phòng, tháng 05 năm 2014
1
LỜI CẢM ƠN
Bài kháo luận tốt nghiệp được hoàn thành, ngoài sự lỗ lực của bản thân còn
có sự động viên giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu trường Cao đẳng công
nghệ Viettronics, đặc biệt là cô giáo bộ môn chuyên ngành Nguyễn Thị Huệ đã
tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian viết bản khóa luận này. Cuối cùng em
cấp nhiều sản phẩm cho xã hội. Hiện nay, nước ta có khoảng gần 2000 làng
nghề thủ công thuộc 11 nhóm nghành nghề chính như: sơn mài, thêu ren, mây
tre đan, cói, bánh kẹo, gỗ đá, đúc đồng…
Cùng với sự phát triển làng nghề truyền thống cảu cả nước, làng nghề của
tỉnh Thái Bình cũng được chính quyền địa phương quan tâm, tạo điều kiện để
phát triển, mở rộng quy mô và đa dạng nghành nghề. Nhiều làng nghề như: làm
Bánh Cáy, chiếu cói, mây tre đan, trạm bạc, dệt khăn dệt vải, sản xuất gạch
ngói…Thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn làng nghề
được mở rộng quy mô, đã sử dụng máy móc, công nghệ thay thế cho lao động
thủ công. Hiện nay, làng nghề cần được sắp xếp, quy hoạch thành những cụm
làng nghề liên kết nhau để có thể tiếp nhận đầu tư nước ngoài, đầu tư công nghệ
hiện đại nâng cao sản xuất lao động, bảo vệ môi trường tự nhiên, xây dưng môi
trường xã hội văn minh hiện đại. Có như vậy làng nghề mới có thể tăng trưởng
theo hướng bền vững và phát triển làng nghề gắn với du lịch. Để giải quyết vấn
đề đó, tôi chọn đề tài: "Một số biện pháp nhằm khai thác các làng nghề truyền
thống ở Thái Bình cho hoạt động du lịch của thành phố".
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.
Mục đích nghiên cứu đề tài.
Mục đích của luận văn khi thực hiện là góp phần phát triển các làng nghề
truyền thống tỉnh Thái Bình cũng như góp phần bảo tồn di sản văn hóa trong
kinh doanh du lịch của tỉnh.
Nhiệm vụ của đề tài.
Phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển làng nghề truyền thống trên
địa bàn tỉnh Thái Bình.
4
Nêu lên quan điểm và đề xuất các giải pháp phát triển các làng nghề truyền
thống cho hoạt động du lịch của thành phố.
hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mĩ nghệ, đã trở thành những sản
phẩm hàng hóa.
Kỷ yếu hội thảo quốc tế” bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt
Nam” tháng 8/1996. Định nghĩa này hàm ý về các làng nghề truyền thống, đó là
làng nghề nổi tiếng hàng nghìn năm.
1.1.2. Đặc điểm về làng nghề truyền thống ở Việt Nam.
Làng nghề truyền thống Viêt Nam có những đặc điểm chính sau:
Hoạt động làng nghề truyền thống gắn liền với làng nghề và sản xuất nông
nghiệp.
Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, các nghề thủ công truyền thống
dần dần xuất hiện với tư cách là nghề phụ, việc phụ trong các gia đình nông dân
và nhanh chóng phát triển ở nhiều làng nghề. Năng suất lao động thấp đã không
đảm bảo thu nhập đủ cho nông dân. Vì vậy, nhu cầu tạo việc làm để có thêm thu
nhập ngoài sản xuất nông nghiệp là cần thiết. Đồng thời, do tính thời vụ của sản
xuất nông nghiệp đã tạo ra một sự dư thừa lao động trong một thời gian nhất
định, trong khi đó, ngay trên thị trường địa phương có nhu cầu về sản phẩm tiểu
thủ công nghiệp để phục vụ cho tiêu dùng, sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp,.. Tất
cả những điều đó đã tác động thúc đẩy các hoạt động tiểu thủ công nghiệp, ban
đầu phục vụ nhu cầu của gia đình mang tính tự sản, tự tiêu, phát triển thành hoạt
động có quy mô nhiều gia đình cùng tham gia và như vậy làng nghề truyền
thống hình thành và phát triển.
6
Có truyền thống lâu đời.
Đặc trưng của làng nghề Việt Nam là có truyền thống lâu đời. Theo các tư
liệu lịch sử, thời Phùng Nguyên khoảng 3000 trước công nguyên, người Việt đã
phát minh và sang chế ra hầu hết các kỹ thuật chế tác một số công cụ như đồ đa,
đồ gốm…Năm 258 người Việt phát minh ra công thức luyện đồng thau, và đúc
Làng nghề truyền thống luôn gắn với tên làng( thương hiệu) và có khả năng tồn
tại và phát triển lâu dài.
Mỗi làng nghề truyền thống thường gắn liền với địa danh của làng đó để đặt
tên cho làng nghề truyền thống của làng mình như làng tranh Đông Hồ, làng
gốm Bát Tràng, tơ lụa Tân Châu, làng mộc Kim Đồng… Đây chính là đặc điểm
tiêu biếu để phân biệt các đặc điểm riêng của mỗi làng nghề truyền thống.
1.1.3. Vai trò của làng nghề truyền thống.
Phát triển các làng nghề truyền thống có vai trò chủ yếu sau:
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, đa dạng hóa kinh
tế nông thôn.
Quá trình phát triển các làng nghề truyền thống đã có vai trò tích cực góp
phần tăng tỉ trọng sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ,
chuyển lao động từ sản xuất có thu nhập còn rất thấp sang nghành nghề phi nông
nghiệp có thu nhập cao hơn. Như vậy khi nghành nghề thủ công hình thành và
phát triển thì kinh tế nông thôn không chỉ có nghành nông nghiệp thuần nhất mà
bên cạnh các nghành nghề thủ công tồn tại và phát triển.
Giải quyết viêc làm ở nông thôn, tăng thu nhập cho người lao động.
Yêu cầu phát triển toàn diện kinh tế- xã hội ở nông thôn, tạo việc làm nâng
cao đời sống cho dân cư ở nông thôn là vấn đề quan trọng hiện nay ở nước ta.
Các làng nghề truyền thống ra đời đã giải quyết được phần nào công ăn việc làm
cho người dân, nâng cao đời sống.
Cung cấp một khối lượng hàng hóa cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế.
Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn sẽ tạo điều kiện
huy động một cách tối đa mọi nguồn lực sẵn có ở nông thôn như nguồn lực tự
nhiên, nguồn lực cơ sở vật chất kĩ thuật, tiềm năng vốn có nguyên liệu sẵn có
của địa phương… phục vụ vào sản xuất. Do đó, sản xuất được đẩy mạnh và tạo
ra được nhiều hàng hóa có chất lượng cao, đa dạng phục vụ cho nhu cầu sản
xuất và đời sống. Mặt khác, sản xuất trong các làng nghề truyền thống thường
chính…
Thứ hai, phát triển làng nghề truyền thống gắn với lợi ích, đời sống thiết
thực của nông dân. Xuất phát từ lợi ích lợi nhuận mà bản thân làng nghề truyền
thống nó tự phát triển. Mặt khác, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị
trường, Đảng và nhà nước đã quan tâm nhiều đến sự phát triển nông nghiệp,
nông thôn trong đó có làng nghề truyền thống nhằm mục tiêu nhanh chóng nâng
cao đời sống người dân, giảm khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành
thị.
Thứ ba, gắn liền với việc gìn giữ thương hiệu sản phẩm, gìn giữ bản sắc văn
hóa dân tộc, “ Mỗi làng nghề là một địa chỉ văn hóa nó phản ánh nét văn hóa
độc đáo của từng địa phương, từng vùng”. Làng nghề truyền thống thể hiện
9
những nét văn hóa độc đáo qua từng sản phẩm, qua các lễ hội và phong tục tập
quan ứng xử làng nghề. Bởi làng nghề truyền thống với những sản phẩm làm
bằng tay, chất liệu, hoa văn Việt Nam là biểu tượng cho di sản văn hóa Việt
Nam, những chất liệu, kiểu dáng và từng chi tiết khéo léo tinh xảo trên các sản
phẩm thủ công chính là nơi truyền tải các sắc thái văn hóa địa phương và góp
phần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc.
1.2. Các nhân tố tác động đến sự phát triển làng nghề truyền thống.
1.2.1. Tác động của quản lý nhà nước.
Định hướng và khuyến khích phát triển làng nghề truyền thống.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn làng nghề luôn giữ
một vị trí quan trọng, luôn được đảng và nhà nước quan tâm như:
Xây dựng các cụm côg nghiệp tiểu thủ công nghiệp tập trung.
Hỗ trợ quản lý môi trường, tiếp cận tín dụng.
Chương trình bảo tồn phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch.
Tổ chức các lớp, khóa đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, truyền nghề, tổ chức,
dùng các sản phẩm công nghiệp của người dân. Vì vậy, mọi người dân phải
nhận thức được và có năng lực tự điều chỉnh và kiểm soát môi trường. Điều đó,
đòi hỏi các cấp chính quyền địa phương phải tăng cương giáo dục cho người dân
nông thôn nhận thức được ý thức trách nhiệm trước cộng đồng. Đồng thời, phải
tăng cường quản lý, kiểm tra, kiểm soát môi trường.
11
Tiểu kết chương 1.
Hàng trăm làng nghề truyền thống ở Thái Bình tồn tại lâu đời không chỉ là
nguồn kinh tế chính của cư dân nơi đây, mà còn góp phần tạo nên bản sắc văn
hóa cho mỗi vùng quê. Để bảo tồn và phát triển làng nghề, Tỉnh ủy Thái Bình đã
ra Nghị quyết về bảo tồn và phát triển làng nghề. Từ 53 làng nghề hoạt động
cầm chừng, nay Thái Bình đã có 290 làng nghề, tạo việc làm cho hàng chục
nghìn lao động mỗi năm.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay các làng nghề có vị trí đặc biệt
quan trọng chúng là một bộ phận cơ bản của công nghệp nông thôn. Các làng
nghề có khả năng thu hút nhiều lao động góp phần tích cực vào việc giải quyết
tình trạng thất nghiệp tăng thu nhập cho người lao động nhất là ở vùng nông
thôn. Thái Bình là một tỉnh thuần nông với 94% dân số sống ở nông thôn là nơi
có số lượng làng nghề tập trung đông, nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng.
Các làng nghề đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế
chung của toàn tỉnh.
Việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống cũng như các làng
nghề mới có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ về mặt kinh tế mà về mặt ổn
định chính trị xã hội. Để góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà cụ thể là phát triển các làng nghề ở Thái
Bình.
Về tăng trưởng kinh tế.
Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp mặc dù có trình độ thâm canh lúa nước
khá cao song nề kinh tế vẫn chưa được cao, cơ cấu GDP nông nghiệp vẫn giữ
vai trò chủ yếu.
13
Công nghiệp chiếm tỉ trọng quá nhỏ bé đây là một khó khăn đối với việc
phát triển nghành nghề ở nông thôn. Ở các nước công nghiệp phát triển thì các
cơ sở ngành nghề nông thôn tồn tại với tư cách như là những vệ tinh cho công
nghiệp đô thị.
Thu nhập bình quân của toàn tỉnh còn quá thấp công nghiệp phát triển
chậm, các dự án đầu tư nước ngoài dường như không đáng kể, nguồn thu chủ
yếu của tỉnh hiện nay vẫn dựa vào nông nghiệp.
Trong cơ cấu tổng thu nhập của hộ gia đình toàn tỉnh nói chung thu nhập từ
nông lâm thủy sản chiếm tới 77,5% công nghiệp 3,5% dịch vụ 19%. Tỷ lệ người
nghèo ở Thái Bình năm 2012 là 8,2%. Trong nguồn thu từ nông nghiệp thu từ
trồng lúa luôn chiếm vị trí ban đầu.
Điều kiện văn hóa xã hội.
Thái Bình là một tỉnh đông dân theo thống kê 2010 Thái Bình có khoảng
1.787,903 người, mật độ 1.163 người/km2 trong đó lao động nông nghiệp chiếm
83%, dân số sống nông thôn chiếm 94%. Diện tích đất nông nghiệp bình quân
đầu người thấp chỉ khoảng 0,06ha/người. Tình trạng thất nhiệp khá trầm trọng
nhất là vào thời gian nông nhàn, từng đoàn người kéo ra thành phố lớn để tìm
việc kéo theo sự di cư tự do đó là hàng loạt những vấn đề mà các thành phố lớn
phải giải quyết.
Theo số liệu điều tra của tỉnh Thái Bình thì trình độ chuyên môn nghiệp vụ
là:
Không bằng cấp chiếm
Làng nghề trạm bạc Đồng Xuân hiện thờ vị tổ nghề Nguyễn Kim Lâu, ông
vốn làm nghề vàng bạc ở Cao Bằng, khoảng năm 1689 ông tới xứ Đông Xâm và
lập ra 12 phường để truyền nghề. Buổi đầu là nghề hàn đồng, gõ thùng chậu,
chữa khóa…. Đây là một làng nghề tiêu biểu cho nhóm nghề thủ công mỹ nghệ
truyền thống không chỉ của Thái Bình mà là cả nước. Bởi những giá trị độc đáo
của sản phẩm, cả những quy định chặt chẽ về truyền nghề, giữ bí mật nghề. Đến
nay mỹ thuật của nghề chạm bạc không còn là độc quyền của thợ Đồng Xuân
nữa nhưng một số thủ pháp nghệ thuật tinh xảo vẫn giữ bí truyền.
Trải qua hàng trăm năm tồn tại các làng nghề Thái Bình đã trải qua nhiều
giai đoạn phát triển, suy thoái có giai đoạn ngành nghề thịnh vượng nhung cũng
có giai đoạn người thợ phải bỏ nghề thậm chí bỏ làng ra đi tìm con đường sống.
Giai đoạn 2007 – 2012 các làng nghề cả nước nói chung và ở Thái Bình nói
riêng đã đạt đến đỉnh cao của sự phát triển, kim nhạch xuất khẩu đạt hàng triệu
đo la, thị trường lúc này chủ yếu là các nước Đông Âu, Liên Bang Nga nơi có
nhu cầu rất lớn về hàng thủ công mỹ nghệ.
Từ 2012 lại đây đã bắt đầu hồi phục và khởi sắc do chuyển hướng được thị
trường sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan…
Số làng nghề tăng lên từ 40 làng
Sau gần mười năm triển khai, đến nay cả tỉnh có khoảng 290 làng nghề
được cấp bằng công nhận, 100% số xã, phường không nơi nào "trắng nghề".
Mỗi năm, các làng nghề giải quyết việc làm cho từ 15 nghìn đến 20 nghìn lao
động với thu nhập từ 600 nghìn đến hai triệu đồng/người/tháng. Sản phẩm của
làng nghề chiếm khoảng 30% giá trị sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh. Các
làng nghề phát triển ổn định, trở thành những thương hiệu làng nghề nổi tiếng
15
như thêu Minh Lãng, dệt đũi Nam Cao, chạm bạc Đồng Xâm, đúc đồng An
Lộc... Nhiều nơi dần trở thành vùng nghề như dệt chiếu Quỳnh Phụ, Hưng Hà,
bạc Ðồng Xâm đã tồn tại gần 400 năm nay. Buổi đầu là nghề hàn đồng, gò
16
thùng chậu, đánh dao kéo, chữa khoá, làm quai và vòi ấm tích, điếu bát...về sau
mới làm đồ kim hoàn, chuyên sâu về chạm bạc.
Cũng như nhiều nghề thủ công cao cấp khác, như đúc đồng, luyện kim...
nghề kim hoàn mang lại thu nhập cao cho người thợ, kỹ thuật lại hết sức phức
tạp, nên suốt mấy trăm năm người Ðồng Xâm luôn giữ bí mật nghề. Ðến nay, kỹ
thuật này không còn là độc quyền của thợ Ðồng Xâm nữa, nhưng một số thủ
pháp kỹ thuật và nghệ thuật tinh xảo nhất vẫn được giữ bí truyền. Phường chạm
bạc xưa đã qui định chặt chẽ trong hương ước của làng rằng: người nào đem bí
quyết nghề truyền dạy cho nơi khác, cho người làng khác, hay làm đồ giả để lừa
người khác, gây sự bất tín thì phải phạt thật nặng hoặc đem đánh đòn trước nhà
thờ Tổ, hoặc phải xoá tên trong phường.
Hàng chạm bạc Ðồng Xâm khác hẳn và nổi trội so với hàng bạc của các nơi
khác ở các kiểu thức lạ về hình khối, dáng vẻ sản phẩm, ở các đồ án trang trí
tinh vi mà cân đối, lộng lẫy mà nổi rõ chủ đề chính, ở thủ pháp xử lý sáng-tối
nhờ tận dụng đặc tính phản quang của chất liệu bạc. Ðặc trưng của sản phẩm
Ðồng Xâm là sự điêu luyện tế nhị và hoàn hảo tới mức tối đa. Có thể nói rằng tài
năng và tính cẩn trọng của nghệ nhân bạc Ðồng Xâm đã và đang có thể đáp ứng
được mọi yêu cầu sử dụng đồ chạm bạc của những khách hàng khó tính và am
tường nghệ thuật nhất.
Suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), nghề chạm
bạc đình đốn. Mãi đến sau ngày hoà bình lập lại, từ năm 1955 trở lại đây, sản
xuất đồ vàng bạc được phục hồi và phát triển. Nhưng các sản phẩm của những
năm làm ăn tập thể nhìn chung ít sáng tạo, nhỏ lẻ và khá đơn điệu. Phải đợi đến
thời kỳ đổi mới, mấy năm nay, người thợ chạm bạc mới thực sự "vẫy vùng mặc
sức" trong cơ chế thị trường, được tự làm, tự bán theo kiểu các doanh nghiệp
Đến quê hương Lai Triều, ta sẽ dễ dàng bắt gặp những hình ảnh cả gia đình
cùng làm hương, đủ mọi độ tuổi: từ người già, trung niên tới trẻ nhỏ. Nhưng
công việc không vì thế mà trở nên dễ dàng. Chỉ khi tham gia, ta mới thấy được
những khó khăn, vất vả của nghề. Bởi người làm hương luôn ở trong một không
gian đầy những bụi hương, rất dễ làm đầu óc căng thẳng, đòi hỏi người làm phải
thật chuyên tâm. Riêng công đoạn pha chế nguyên liệu thì chỉ những người có
kinh nghiệm mới có thể làm được. Đây là một công đoạn vô cùng quan trọng
bởi nó cách pha chế nguyên liệu tạo nên hương vị của nén hương. Tuỳ vào mỗi
gia đình mà có những tỉ lệ pha trộn khác nhau. Trong nghề luôn có những bí
quyết pha trộn riêng và chỉ truyền lại cho con trai và con dâu chứ không truyền
nghề cho con gái bởi con gái khi đi lấy chồng sẽ có thể mang nghề truyền thống
sang làng khác. Sản phẩm hương Lai Triều thường là hương nén và hương sào.
Hương sào cao khoảng 50- 60 phân, đường kính khoảng 1cm với giá thành từ
20- 30 nghìn/nén. Hương nén thì nhỏ và rẻ hơn. Có loại 30 phân, có loại 40- 50
18
phân, đường kính khoảng 0.4mm. Hương nén được bó và bán theo từng trăm.
Giá thành khoảng 15- 30 nghìn/ trăm hương
Cho đến nay, nghề làm hương đã trở thành một nghề chính, tồn tại cùng với
sản xuất nông nghiệp. Trước đây, làng có 120 hộ thì có tới gần 100 hộ làm
hương. Ngày nay, số hộ làm hương tuy đã giảm nhưng nhiều gia đình đã chuyển
từ sản xuất nhỏ sang sản xuất theo quy mô lớn hơn, thu hút được nhiều lao động.
Có những gia đình thu nhập hàng tháng lên tới 15- 20 triệu đồng. Sản phẩm của
nghề không chỉ được người trong tỉnh ưa chuộng mà còn tiêu thụ và đặt thương
hiệu vững chắc trên cả nước
Mỗi làng mỗi nghề. Đối với người dân Lai Triều, làm hương không chỉ là
một nghề làm lúc nông nhàn mà còn tăng thêm thu nhập, tạo công ăn việc làm
cho mọi người. Tháng 8/ 2004, người dân Lai Triều vui mừng đón nhận bằng
Nam còn ghi lại giai thoại cô gái bán chiếu gon bên Hồ Tây ở kinh đô hồi thế kỷ
XV. Đó là cuộc gặp gỡ tài tử, giai nhân giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ,
với những câu thơ đối đáp trữ tình giữa nhà thơ lớn với cô bán chiếu tài sắc:
Nàng ở đâu đi bán chiếu gon
Phải chăng chiếu bán hết hay còn
Xuân canh chừng độ bao nhiêu tuổi
Đã có chồng chưa, được mấy con?
Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon
Hỏi chi chiếu bán hết hay còn ?
Xuân canh chừng độ trăng tròn lẻ
Chồng còn chưa có, hỏi chi con?
Mãi đến thời nhà Nguyễn, chiếu Hới vẫn là loại chiếu tốt nhất, chưa có
loại chiếu nào khác trong vùng cạnh tranh nổi. Nhân dân quanh vùng có câu
phương ngôn: "Ăn cơm hom, nằm giường hòm, đắp chiếu Hới". Bởi chiếu Hới
không chỉ đẹp, bền mà còn có thể dùng đắp thay chăn, cũng rất ấm. Làng Hới
dệt chiếu nhưng chỉ trồng đay mà không trồng cói. Đó là nét đặc biệt của làng
chiếu này, khác hẳn các làng và trung tâm nghề dệt chiếu khác ở miền Bắc nước
ta - dệt chiếu gắn liền với trồng cói là nguyên liệu. Làng Hới xưa nay trồng khá
nhiều đay, đủ đáp ứng nhu cầu se sợi dệt chiếu, ít mua đay sợi của các nơi khác.
Kỹ thuật vê đay (se sợi đay), cải tiến khung dệt, kỹ thuật chế biến cói và dệt các
loại chiếu của thợ thủ công làng Hới vừa cao vừa độc đáo, đã tạo ra những sản
phẩm đặc sắc.
Khác với nhiều làng nghề Việt Nam, ở Hới chưa có gia đình nào thoát ly hẳn
sản xuất nông nghiệp. Người ta chỉ dệt chiếu trong 8 tháng mỗi năm, còn 4
tháng thì làm ruộng. Chiếu Hới bây giờ vẫn được ưa chuộng ở nhiều nơi. Địa
phương đã cố gắng tìm thị trường quốc tế, tìm đối tác kinh doanh, đang xuất
sang Trung Quốc những lô hàng lớn. Những người thợ tài hoa làng Hới còn cải
20
truyền thống lâu năm với món bánh độc đáo này, mới thấy hết được cái tâm
người ta dành cho món ăn quê hương. Bánh Cáy làng Nguyễn được làm hoàn
toàn bằng nông sản quê hương: nếp cái hoa vàng tròn mẩy, gấc chín đỏ, lạc,
vừng rang vàng giòn rụm, mỡ phần, cơm dừa xắt lát ướp đường, mứt bí dẻo
21
thơm, mạch nha, hương bưởi dịu thơm cho món bánh thêm hấp dẫn.
Bánh Cáy làng Nguyễn chính hiệu phải làm cầu kì chứ không đơn giản. Nếp cái
hoa vàng ngâm nước, trộn gấc đỏ đồ xôi, rồi ép dẻo, xắt hạt lựu lại đem phơi
khô (người làng Nguyễn gọi đây là “con cáy”). Thóc tẻ bung trong nồi gang, cho
xòe cánh thành một thức gọi là “nẻ”. Mỡ phần loại ngon, cơm dừa bào sợi, cho
ướp đường nửa tháng. Chiên vàng nẻ, “con cáy”, trong dầu ăn. Mạch nha được ủ
công phu từ mầm lúa gạo đem nấu già trên bếp than đỏ hồng, đảo thật khéo, thật
đều tay cáy con, nẻ, mỡ phần, cơm dừa, mứt bí, gừng sợi, thêm hương hoa bưởi
đến độ kết dính thích hợp. Xong xuôi, bánh cáy cho vào khay ép phẳng, tranh
thủ lúc bánh còn nóng rắc một lớp vừng lạc cho thơm. Một anh thợ lành nghề
tay thước, tay dao cắt bánh nhanh thoăn thoắt. Từng vuông bánh khi ấy đem
đóng hộp, dãn nhãn, sẵn sàng mang đến những thực khách đang nóng lòng
thưởng thức.
Công nghệ có hiện đại, máy móc giúp cho người làm bánh đỡ cực trong
việc nhào trộn nguyên liệu, chiên, ép bánh, nhưng người làm bánh làng Nguyễn
có tâm vẫn ngày đêm trăn trở tìm ra một công thức trộn nha thế nào để bánh
không quá ngọt, không quá nhạt, nấu sao cho bánh vừa chín dẻo, mà không
cháy, không khô cứng.
Miếng bánh Cáy ngon phải có độ dẻo, ngọt vừa phải, gạo nếp, lạc vừng dậy
mùi. Cắn miếng bánh thấy cái lạ miệng khi trong đó có mứt bí, cơm dừa sần sật,
cay cay nồng nồng của mùi vị gừng tươi, nhấp chén nước trà đăng đắng thấy
hương vị hòa quyện.
Chia theo nhóm nghề ta có như sau:
Nghề dệt may ươm tơ
11 làng
Cơ khí
5 làng
Chế biến lương thực thực phẩm
10 làng
Dệt chiếu cói
10 làng
Chạm bạc
5 làng
Mây tre đan
13 làng
Nghề sản suất đồ gỗ
2 làng
Nghề khác
26 làng
Một số nghề trong thời gian gần đây phát triển mạnh như: thêu, dệt, ươm tơ.
Bảng 1: Số hộ, cơ sở chuyên ngành nghề chia theo nhóm ngành toàn tỉnh
Tổng
số
1.Số hộ chuyên
ngành nghề (hộ)
2. Cơ sở chuyên
Chế biến
Tổng
%
CN, TTCN, XD
23
tới 62% số hộ thuần nông. Phần lớn số hộ nghèo đều nằm trong số hộ thuần
nông này.
2.2.3. Tổ chức sản xuất kinh doanh.
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, các làng nghề truyền thống tồn tại
dưới hình thức hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, lúc đó sản xuất nông nghiệp là
chính còn nghề thủ công có phát triển nhưng chỉ được côi là nghề phụ, bổ trợ
cho nông nghiệp. Khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng chủ
nghĩa xã hội. Đảng và nhà nước có chủ trương chính sách phát triển kinh tế
nhiều thành phần, các làng nghề truyền thống dần dần được khôi phục. Đồng
thời, các làng nghề mới được xây dựng và phát triển, tổ chức sản xuất theo hình
thức cá thể, hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn
tham gia hoạt động theo pháp luật, tạo ra sản phẩm phục vụ thị trường trong
nước và xuất khẩu.
Bên cạnh loại hình sản xuất theo hộ gia đình, trong làng nghề truyền thống
còn có loại hình sản xuất hợp tác xã được tổ chức theo hình thức tập trung đảm
bảo việc cung cấp nguyên liệu và tiêu throng làng thụ sản phẩm trong làng nghề
truyền thống. Tuy nhiên, loại hình sản xuất hợp tác xã hiện nay trong các làng
nghề truyền thống có phát triển song chưa nhiều chiếm tỉ trọng rất nhỏ.
2.2.4. Vốn và nguồn vốn trong các làng nghề.
So với các làng nghề trong cả nước ở Thái Bình mức vốn đầu tư bình quân
không lớn lắm. Ngoài một số nghề vốn có đầu tư lớn như nghề gốm sứ, chạm
bạc, cơ khí còn lại chủ yếu là các nghề có mức đầu tư không lớn như: Nghề mây
tre đan, dệt chiếu, đan nón, thêu dệt….
Tỷ lệ hộ/cở sở phải đi vay vốn chiếm từ 50 – 70% trong đó đối với cơ sở
chuyên nghề tỷ lệ vay vốn chiếm tỷ lệ cao 76,9% so với 20,5% hộ chuyên và
6.Mộc
5,8
Trong đó
thiết bị
Nguyên
liệu
0,2
0,8
1,5
0,12
1
4
0,3
0,4
3
0,08
0,5
1,8
Số lao động
VĐT ban
đầu/ LĐ
1
1