1
MỞ ĐẦU
1. T nh c p thiết của v n đề nghiên cứu
Thế giới chuyển động phức tạp, khó lƣờng, từ đơn cực, sang xu thế đa cực.
Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ… các nƣớc lớn vừa là hợp tác, vừa cạnh tranh vừa
kiềm chế nhau, sẵn sàng thoả hiệp lợi ích trên các nƣớc nhỏ. Chiến tranh Thế giới
khó xảy ra nhƣng xung đột cục bộ đang là nguy cơ thƣờng trực. Asean là một khối
nhƣng các nƣớc đều đặt lợi ích Quốc gia lên trên, do đó đối ngoại hiện nay giữ vai
trò chiến lƣợc quan trọng. Việt Nam đã và đang kiên cƣờng bảo vệ độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, chủ quyền lãnh thổ.
Việt Nam là đất nƣớc có vị trí chiến lƣợc quan trọng, cửa ngõ của khu vực
ấn độ Dƣơng và Thái Bình Dƣơng. Nhiều nƣớc trong đó có Mỹ muốn Việt Nam là
đồng minh quan trọng nhƣ “Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan…” liên minh quân sự với
Việt Nam để kiềm chế Trung Quốc. Trung Quốc ngày càng có những động thái
cứng r n tuyên bố chủ quyền đƣờng chiếu đoạn ở Biển Đông thuộc khu vực đặc
quyền kinh tế, trên thềm lục địa của Việt Nam gây căng thẳng giữa hai nƣớc.
Bảo vệ Tổ quốc luôn là nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia, thực tế cho
thấy các thế lực thù địch luôn dùng mọi âm mƣu, thủ đoạn để chống phá sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc CNXH ở mỗi nƣớc. Thực tế, vào những năm giữa thế
kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không dễ gì dùng bạo lực vũ trang
để tiêu diệt CNXH ở mỗi nƣớc hay trên phạm vi toàn thế giới. Vì vậy, chúng phải
thay đổi bằng chiến lƣợc, cùng với thủ đoạn dùng sức mạnh quân sự để răn đe, đã
chú trọng sử dụng biện pháp “hoà bình” nhằm chống phá và lật đổ các nƣớc xã hội
chủ nghĩa (XHCN).
Giáo dục quốc phòng và an ninh đã trở thành một trong những nhiệm vụ
quan trọng của toàn Đảng, toàn dân nhằm tăng cƣờng giáo dục ý thức quốc phòng,
an ninh và kỹ năng quân sự cần thiết để sẵn sàng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lƣợc,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Triển khai thực hiện các
văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nƣớc, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đƣa giáo dục
QP&AN trở thành môn học chính khoá từ cấp trung học phổ thông đến đại học. Tuy
Để nâng cao chất lƣợng giảng dạy môn học giáo dục QP&AN thực sự góp
phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu cơ bản của giáo dục nhƣ Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ƣơng khoá VIII đã đặt ra là “xây dựng
những con ngƣời và thế hệ thiết tha g n bó với lý tƣởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cƣờng xây dựng và bảo vệ Tổ
3
quốc” [28], thì phải xác định đúng các giải pháp quản lý bồi dƣỡng NVSP cho đội
ngũ giảng viên giáo dục QP&AN để họ có đủ trình độ, năng lực sƣ phạm đáp ứng
yêu cầu nâng cao chất lƣợng giảng dạy quốc phòng và an ninh tại các trƣờng đại
học trong điều kiện mới.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Quản lý bồi dưỡng
nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên Giáo dục Quốc phòng và an ninh các trư ng
đại học" làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng quản lý bồi
dƣỡng NVSP cho giảng viên giáo dục QP&AN các trƣờng đại học trong giai đoạn
hiện nay.
2. Mục đ ch nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực tiễn quản lý bồi dƣỡng NVSP cho
đội ngũ giảng viên giáo dục QP&AN, đề tài đề xuất các giải pháp quản lý bồi
dƣỡng NVSP nhằm nâng cao trình độ NVSP, kỹ năng sƣ phạm cho đội ngũ giảng
giáo dục QP&AN trong các trƣờng đại học.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động bồi dƣỡng NVSP cho giảng viên giáo dục QP&AN các
trƣờng Đại học.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Giải pháp quản lý bồi dƣỡng NVSP cho giảng viên giáo dục QP&AN tại
QP&AN cụ thể:
+ Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2;
+ Trƣờng Đại học Sƣ phạm TP Hồ Chí Minh;
+ Đại học Trà Vinh;
+ Đại học Cần Thơ;
+ Đại học Quốc Gia Hà Nội;
+ Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.
- Đối tƣợng khảo sát điều tra: các giảng viên, CBQL của Khoa và Trung tâm
giáo dục QP&AN của các trƣờng Đại học có Khoa, Trung tâm giáo dục QP&AN.
7. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phƣơng pháp luận nghiên cứu
* Tiếp cận biện chứng: Vận dụng cơ sở lý luận và quan điểm của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu xem xét các vấn đề giáo
dục nói chung và giáo dục QP&AN nói riêng trong quá trình vận động và phát triển
trên cơ sở những điều kiện về nội dung chƣơng trình, đội ngũ giảng viên, trang thiết bị
giảng dạy.
5
* Tiếp cận hệ thống: Môn học giáo dục QP&AN có mối quan hệ với các
môn học khác trong các chƣơng trình đào tạo tại các cấp học CĐ, ĐH, có mối quan
hệ mang tính cấu trúc ràng buộc với các môn học khác trong hệ thống chƣơng trình
đào tạo và có mối quan hệ chặt chẽ với các yêu cầu về đào tạo nói chung và phát
triển lòng yêu nƣớc, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc của các thế hệ con ngƣời Việt Nam
nói riêng.
* Tiếp cận chuẩn hóa: Việc quản lý bồi dƣỡng NVSP cho giảng viên giáo
dục QP&AN nằm trong xu thế vận động chung và yêu cầu của đổi mới, nâng cao
chất lƣợng giáo dục, đặc biệt yêu cầu chuẩn hóa ngƣời giảng viên đại học, trong đó
có và giảng viên giáo dục QP&AN các trƣờng đại học.
- Sự dụng toán thống kê để xử lý số liệu khảo sát điều tra thực trạng và kết
quả thực nghiệm.
- Dùng sơ đồ, biểu đồ minh họa tóm t t một số kết quả trong quá trình
nghiên cứu.
8. Những luận điểm bảo vệ
- Đội ngũ giảng viên trong các trƣờng đại học nói chung và giảng viên giáo
dục QP&AN nói riêng là nhân tố có vai trò quan trọng, quyết định đến việc nâng
cao chất lƣợng đào tạo của các nhà trƣờng.
- Chất lƣợng giảng dạy, giáo dục QP&AN phụ thuộc vào trình độ chuyên
môn, năng lực sƣ phạm và trình độ NVSP của đội ngũ giảng viên. Trình độ NVSP
của giảng viên chỉ đƣợc hình thành thông qua quá trình đào tạo, bồi dƣỡng và tự rèn
luyện của mỗi giảng viên.
- Việc tìm ra các giải pháp quản lý bồi dƣỡng NVSP cho giảng viên giáo
dục QP&AN tại các trƣờng đại học trong giai đoạn hiện nay có vai trò quan trọng
trong việc nâng cao chất lƣợng giáo dục QP&AN tại các trƣờng đại học trong giai
đoạn hiện nay.
9. Đóng góp mới của luận án
- Đã hệ thống hóa, đƣợc những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động bồi
dƣỡng NVSP của đội ngũ giảng viên giáo dục QP&AN các trƣờng đại học.
- Trên cơ sở những kết quả khảo sát, đã phân tích làm sáng tỏ thực trạng quản lý
hoạt động bồi dƣỡng NVSP của đội ngũ giảng viên giáo dục QP&AN các trƣờng đại học
của nƣớc ta, đồng thời xác định các nguyên nhân của ƣu điểm, hạn chế.
- Đề xuất các giải pháp quản lý bồi dƣỡng NVSP cho giảng viên giáo dục
QP&AN các trƣờng đại học và tiến hành thực nghiệm khẳng định tính cần thiết, khả
thi của các giải pháp.
7
10. C u trúc của luận án
một đội ngũ công chức chuyên nghiệp và có chất lƣợng cao. Nội dung đào tạo, bồi
dƣỡng công chức của Trung Quốc tập trung vào: lý luận xây dựng CNXH mang đặc
s c Trung Quốc và chiến lƣợc phát triển; quản lý hành chính nhà nƣớc trong nền
kinh tế thị trƣờng; quản lý vĩ mô nhà nƣớc với những nội dung cụ thể nhƣ thể chế
hành chính, quyết sách hành chính, đào tạo và phát triển nhân tài. Tất cả các khóa
đào tạo đều phải học chủ nghĩa Mác - Lênin và lý luận Đặng Tiểu Bình [98].
1.1.1.2. Nghiên cứu về bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm
"N.M Iacốplep trong cuốn: "Phương pháp và kỹ thuật lên lớp trong trường
phổ thông" đã phân tích quá trình nhận thức của học sinh và quá trình dạy học
tƣơng đối chi tiết. Tác giả đã nêu rất cụ thể việc giảng viên cần phải làm là gì?
Những yêu cầu đối với giảng viên ra sao? tác giả đã dẫn ra những ví dụ về thành
công cũng nhƣ những thất bại trong nghề dạy học nhằm làm sáng tỏ vấn đề nâng
9
cao chất lƣợng giảng dạy trong nhà trƣờng. Có thể nói, cuốn sách mang tính ứng
dụng cao, rất bổ ích cho giảng viên nhất là đối với giảng viên trẻ khi mới bƣớc vào
nghề [58].
F.N Gônôbôlin trong cuốn "Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên"
đã phân tích hoạt động dạy học ở hai lĩnh vực: Công tác dạy học và công tác giáo
dục của ngƣời giáo viên. Tác giả phân tích: Đối với công tác dạy học ngƣời giảng
viên cần có những phẩm chất tâm lý gì và đối với công tác giáo dục ngƣời giảng
viên phải có những phẩm chất tâm lý nhƣ thế nào thì mới đạt đƣợc hiệu quả trong
giáo dục và dạy học. Đây chính là những yêu cầu cơ bản đòi hỏi ngƣời giảng viên
phải có và phải thƣờng xuyên rèn luyện [ 34].
Michel Develay trong cuốn "Một số vấn đề về đào tạo giáo viên" đã đƣa ra
những vấn đề hết sức cơ bản về việc dạy và học. Đặc biệt tác giả đã đƣa ra mô hình
ngƣời giảng viên và khẳng định: "Không còn nghi ngờ gì nữa, dạy học là một nghề
đích thực cùng với sự đãi ngộ thích đáng dành cho nó"; "Nghề dạy học luôn thuộc
Luận án: “Bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự
theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh”, tác giả đã xác định yêu cầu
và đề xuất 4 biện pháp bồi dƣỡng phƣơng pháp học tập cho học viên ở đại học quân
sự theo tƣ tƣởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh, bao gồm: Giáo dục và xây
dựng động cơ, thái độ học tập cho học viên; bồi dƣỡng phƣơng pháp học tập “lấy tự
học làm cốt” thông qua các hình thức tổ chức dạy học; xây dựng quy trình bồi
dƣỡng phƣơng pháp học tập theo tƣ tƣởng “lấy tự học làm cốt” cho học viên; tăng
cƣờng hoạt động theo nhóm để bồi dƣỡng và tự bồi dƣỡng phƣơng pháp học tập
theo tƣ tƣởng “lấy tự học làm cốt” cho học viên. Các biện pháp là một chỉnh thể
thống nhất nhằm bồi dƣỡng phƣơng pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự
theo tƣ tƣởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh.[74].
Luận án tiến sĩ “Quản lý bồi dưỡng nghiệp vụ hành chính cho cán bộ chính
quyền cấp xã trong bối cảnh hiện nay” của Đỗ Thị Ngọc Oanh, luận án làm rõ nội
hàm của một số khái niệm: năng lực, năng lực thực hiện, cán bộ chính quyền cấp
xã; xác định các nội dung của quản lý bồi dƣỡng nghiệp vụ hành chính cho cán bộ
chính quyền cấp xã theo quan điểm tăng cƣờng năng lực thực hiện. Luận án chỉ ra
những yêu cầu khách quan phải đổi mới quản lý bồi dƣỡng nghiệp vụ hành chính
theo quan điểm tăng cƣờng năng lực thực hiện cho cán bộ chính quyền cấp xã.
Thông qua các phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn, luận án đã đánh giá thực trạng
các nội dung quản lý bồi dƣỡng nghiệp vụ hành chính cho cán bộ chính quyền cấp
xã; xác định những yếu kém, nguyên nhân những yếu kém đó trong quản lý bồi
dƣỡng nghiệp vụ hành chính cho cán bộ chính quyền cấp xã trong bối cảnh hiện
nay. Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn luận án đề xuất các giải pháp quản lý bồi
12
dƣỡng nghiệp vụ hành chính cho cán bộ chính quyền cấp xã trong bối cảnh hiện nay
theo quan điểm tăng cƣờng năng lực thực hiện [69].
1.1.2.2. Nghiên cứu về bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm
trình độ sƣ phạm cho giảng viên các trƣờng cao đẳng kỹ thuật; phân tích thực trạng
về đội ngũ giảng viên các trƣờng cao đẳng kỹ thuật để tìm ra phƣơng pháp bồi
dƣỡng; đề xuất nội dung và biện pháp bồi dƣỡng trình độ sƣ phạm phù hợp cho
giảng viên các trƣờng cao đẳng kỹ thuật.
1.1.2.3. Những nghiên cứu về quản lý bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm giảng viên
Trong bài "Quản lý công tác bồi dưỡng giảng viên của hiệu trưởng trường
trung học phổ thông nhằm nâng cao chất lượng dạy học" [37], Hai tác giả Lê Thị
Hoa, Đoàn Thị Bẩy sau khi đã phân tích thực trạng, chỉ ra những điểm còn bất cập
của việc quản lý công tác bồi dƣỡng giảng viên của hiệu trƣởng trung học phổ thông
thành phố Cà Mau, các tác giả đã đƣa ra 6 giải pháp chủ yếu của hiệu trƣởng nhằm
tăng cƣờng quản lý hoạt động này: 1. Hiệu trƣởng thƣờng xuyên tổ chức kiểm tra
bằng các hình thức khác nhau; 2. Hiệu trƣởng phải lập kế hoạch phát triển đội ngũ
trên cơ sở phát triển nhà trƣờng mang tính chiến lƣợc và ng n hạn; 3. Hiệu trƣởng
phải tạo điều kiện cho giảng viên đƣợc bồi dƣỡng theo chu kỳ và bồi dƣỡng thƣờng
xuyên; 4. Hiệu trƣởng phải tổ chức và chỉ đạo cho giảng viên tham gia nghiên cứu
khoa học và tổng kết sáng kiến kinh nghiệm dạy học; 5. Hiệu trƣởng tổ chức xây
dựng đội ngũ giảng viên đạt chuẩn cấp tỉnh, cấp quốc gia để có đội ngũ giảng viên
đầu đàn làm nòng cốt cho nhà trƣờng ở từng bộ môn; v.v..
Luận án tiến sĩ "Quản lý hoạt động tự bồi dưỡng NVSP của giảng viên
trường trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay" [60] của Lục Thị Nga đã làm rõ
những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động tự bồi dƣỡng, đánh giá thực trạng
công tác quản lý của hiệu trƣởng đối với hoạt động tự bồi dƣỡng NVSP của giảng
viên trung học cơ sở. Trên cơ sở đó, tác giả đã đƣa ra năm nhóm giải pháp về quản
lý của hiệu trƣởng trƣờng trung học cơ sở đối với hoạt động tự bồi dƣỡng NVSP
của giáo viên: 1. Đổi mới nhận thức, thái độ của giảng viên về vai trò của chủ thể
của họ trong hoạt động tự bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm; 2. Chuyển giảng viên từ
ngƣời bị quản lý trở thành ngƣời tự quản lý trong hoạt động tự bồi dƣỡng NVSP ; 3.
Đa dạng hóa hình thức, nội dung tổ chức tự bồi dƣỡng NVSP của giáo viên; 4. Xây
dựng điều kiện thuận lợi cho giảng viên tự bồi dƣỡng NVSP có hiệu quả; 5. Tổ
- Hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn
diện về quản lý bồi dưỡng NVSP cho giảng viên giáo dục QP&AN các trường đại
học trên phạm vi cả nước.
15
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Quản lý bồi dưỡng Nghiệp vụ sư phạm cho
giảng viên Giáo dục Quốc phòng và an ninh các trư ng đại học", nhằm hoàn
thiện và chuẩn hoá đội ngũ giảng viên góp phần nâng cao chất lƣợng đội ngũ giảng
viên giáo dục QP&AN các trƣờng đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại
học đã xác định trong Chiến lƣợc giáo dục 2011- 2020.
1.2. Một số khái niệm công cụ của đề tài.
1.2.1. Khái niệm giảng viên Giáo dục Quốc phòng và an ninh.
1.2.1.1. Giảng viên .
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam
quan niệm: “giảng viên là ngƣời giảng dạy ở đại học hay lớp huấn luyện cán bộ”.
Luật giáo dục sửa đổi bổ sung ngày 25/11/2009 quy định: Nhà giáo giảng
dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ
sơ cấp nghề (SCN), trung cấp nghề (TCN), TCCN gọi là giáo viên. Nhà giáo giảng
dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trƣờng CĐN gọi là giảng viên, nhƣ vậy giảng viên là
nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy giáo dục ở các trƣờng cao đẳng và đại học. Giảng
viên là viên chức thuộc ngành giáo dục đào tạo. Cần phân biệt khái niệm giảng viên
(nhà giáo) với khái niệm giảng viên theo tiêu chuẩn ngạch, bậc giảng viên, một
chức danh của cao đẳng và đại học [54].
Theo Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia: Giảng viên là công chức chuyên
môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một
chuyên ngành đào tạo của trƣờng đại học hoặc cao đẳng.
1.2.1.2. Giảng viên Giáo dục Quốc phòng và an ninh
túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo các
chuyên đề. Các hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho ngƣời lao động có cơ hội
củng cố và mở mang một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng, chuyên môn
nghiệp vụ sẵn có để lao động nghề nghiệp một cách có hiệu quả hơn và thƣờng
đƣợc xác định bằng một chứng chỉ.
Theo tác giả Mạc Văn Trang thì: Bồi dƣỡng, bồi bổ là làm tăng thêm trình
độ về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để làm tốt hơn việc đang làm.
Theo định nghĩa của UNESCO: Bồi dƣỡng với ý nghĩa nâng cao nghề
nghiệp quá trình chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức
hoặc kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân, nhằm đáp ứng nhu cầu lao động
nghề nghiệp.
Trong phạm vi luận án này chúng tôi quan niệm, bồi dưỡng là quá trình bổ
sung tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để nâng cao trình độ trong một lĩnh vực hoạt động
mà người lao động đã có trình độ chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo
nào đó. Bồi dưỡng là thêm vào, tăng cường các yếu tố để người lao động làm cho
17
tốt hơn, giỏi hơn những việc đang làm. Bồi dưỡng giúp con người nói chung, giảng
viên nói riêng được bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, mở
rộng tầm nhìn, tầm hiểu biết cho bản thân nhằm thực hiện tốt hơn việc giảng dạy.
Bồi dƣỡng NVSP cho giảng viên giáo dục QP&AN là quá trình bổ sung tri
thức và kỹ năng cần thiết, nhất là tri thức về kỹ năng, NVSP và tri thức về quân sự,
quốc phòng, an ninh và bản lĩnh chính trị nhằm bù đ p và tăng cƣờng năng lực và
phẩm chất của giảng viên giáo dục QP&AN đáp ứng mục tiêu, yêu cầu giảng dạy
giáo dục QP&AN trong thời kỳ mới.
1.2.3. Khái niệm nghiệp vụ sƣ phạm
Nghiệp vụ: Từ điển tiếng Việt thông dụng của Nguyễn Nhƣ Ý đã cho
rằng: “Nghiệp vụ là công việc chuyên môn của một nghề” [93].
niệm quản lý:
+ Theo FW. Taylor (Mỹ) ngƣời sáng lập ra trƣờng phái quản lý theo khoa
học cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm
cái đó thế nào bằng phƣơng pháp tốt nhất, rẻ nhất ” [13] ;
+ Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp
những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của nhóm. Với thời gian, tiền
bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất. Với tƣ cách thực hành thì quản lý là một nghệ
thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [99] ;
+ Henry Fayol là ngƣời đầu tiên chỉ ra chức năng và những yếu tố của quản
lý: “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và
kiểm tra”;
Các nhà nghiên cứu và chuyên gia về quản lý của Việt Nam cũng có các
quan niệm tƣơng tự :
+ Tiếp cận trên phƣơng diện hoạt động của một tổ chức, Nguyễn Ngọc
Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý
đến những ngƣời lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện đƣợc
những mục tiêu dự kiến” [72];
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lí nhà trƣờng (quản lí giáo dục nói
chung) là thực hiện đƣờng lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của
mình, tức là đƣa nhà trƣờng vận hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu
giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, thế hệ trẻ và từng học sinh”.
+ Phan Văn Kha cho rằng: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh
đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống, đơn vị và việc sử
dụng các nguồn lực phù hợp để đạt đƣợc mục đích đã định” [47].
19
+ Theo tác giả Trần Kiểm thì “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ
chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính
vƣợt trội (tính trồi) của hệ thống; sử dụng một cách tối ƣu các tiềm năng, các cơ hội
giảng viên đƣợc coi là yếu tố then chốt quyết định chất lƣợng giảng dạy cho học
20
phần này. Giảng viên là yếu tố quan trọng nhất cho chất lƣợng giảng dạy bởi vì
giảng viên đóng vai trò là ngƣời hƣớng dẫn, dẫn d t ngƣời học tiếp cận các tri thức,
kiến thức lý luận theo mục đích của chƣơng trình học. Do đó giảng viên phải trang
bị chuẩn về chuyên môn về lĩnh vực giáo dục QP&AN. Khi giảng viên chuẩn về
kiến thức chuyên môn tạo sự tự tin trong quá trình truyền thụ, tránh đƣợc sự phụ
thuộc vào giáo án, chủ động dẫn d t ngƣời học tiếp cận kiến thức theo mục đích của
mình.
Ngoài việc trang bị kiến thức chuyên môn, giảng viên cần phải có kinh
nghiệm thực tiễn và kiến thức thực tiễn đặc biệt là cập nhật kịp thời và chính xác
tình hình về quốc phòng, an ninh của đất nƣớc. Giàu kiến thức thực tiễn giúp giảng
viên làm sinh động bài giảng, g n kết giữa nội dung bài giảng với thực tiễn thông
qua những minh hoạ, ví dụ từ thực tiễn; từ đó ngƣời học dễ tiếp thu bài, dễ nhớ bài
và điều quan trọng là ngƣời học thấy nội dung bài giảng g n liền với cuộc sống chứ
không phải xa rời, khó hiểu.
Một yêu cầu không thể thiếu đối với mỗi giảng viên, đó là giảng viên còn phải
có kỹ năng sƣ phạm. Kỹ năng sƣ phạm là một yếu tố góp phần quan trọng cho giờ
giảng thành công hay thất bại. Kỹ năng sƣ phạm giúp giảng viên có phƣơng pháp
truyền thụ tốt, linh hoạt trong việc phối hợp các phƣơng pháp, phƣơng tiện giảng
dạy, n m b t đƣợc tâm lý ngƣời học một cách nhanh chóng từ đó thu hút đƣợc
ngƣời học một cách có hiệu quả. Trong giảng dạy có nhiều phƣơng pháp truyền thụ
kiến thức, phần lớn giảng viên thƣờng sử dụng phƣơng pháp thuyết trình, vì phƣơng
pháp này có nhiều ƣu điểm, ngƣời dạy chủ động quá trình giảng dạy cả về tri thức
và thời gian. Tuy nhiên, phƣơng pháp này cũng dễ dẫn tới sự tiếp thu thụ động,
buồn chán cho ngƣời học. Do đó, trong quá trình giảng dạy, đòi hỏi phải có sự lựa
chọn, phối hợp sử dụng các phƣơng pháp giảng dạy phù hợp với từng nội dung kiến
thức, từng đặc điểm của lớp học.
- Biên soạn giáo trình, sách chuyên khảo và tài liệu tham khảo phục vụ công
tác đào tạo, bồi dƣỡng. Tham gia xây dựng các cơ sở thí nghiệm và thực hành.
* Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ:
- Nghiên cứu khoa học và công nghệ để phục vụ xây dựng chƣơng trình đào
tạo, bồi dƣỡng, biên soạn giáo trình, sách chuyên khảo, tài liệu tham khảo, đổi mới
phƣơng pháp giảng dạy và kiểm tra, đánh giá môn học.
* Nhiệm vụ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
22
- Học tập, bồi dƣỡng để nâng cao trình độ chuẩn đã đƣợc đào tạo theo quy
định đối với giảng viên, phù hợp với ngành đào tạo và trình độ đào tạo đƣợc phân
công đảm nhiệm.
- Học tập, bồi dƣỡng theo tiêu chuẩn nghiệp vụ của giảng viên và theo chƣơng
trình quy định cho từng đối tƣợng khi nâng ngạch, chuyển ngạch, bổ nhiệm vào các
chức danh của giảng viên trong các cơ sở giáo dục đại học.
- Học tập, bồi dƣỡng để nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ ngoại ngữ
và tin học. Học tập, bồi dƣỡng, cập nhật thƣờng xuyên kiến thức chuyên môn,
nghiệp vụ, phƣơng pháp giảng dạy và nâng cao hiểu biết.
1.3.1.2. Đặc trƣng nghề nghiệp của đội ngũ giảng viên Giáo dục Quốc phòng và
an ninh trong các trƣờng đại học
Giảng viên giáo dục QP&AN các trƣờng đại học là những ngƣời vừa là
giảng viên, vừa là quân nhân, có những đặc điểm nổi bật nhƣ sau:
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhạy bén, có phẩm chất đạo đức tốt, có
ý thức cao về tình yêu quê hƣơng đất nƣớc, ý thức về quốc phòng, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Có kiến thức về quốc phòng, an ninh và những kiến thức kỹ thuật, chiến
thuật quân sự theo chuyên ngành giảng dạy.
- Có sức khỏe tốt, nhanh nhẹn, đáp ứng yêu cầu giảng dạy thực hành quân sự.
1.3.2. Bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm cho giảng viên Giáo dục Quốc phòng và an
ninh
1.3.2.1. Mục tiêu, yêu cầu và vai trò của bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm
* Mục tiêu bồi dưỡng
Bồi dƣỡng NVSP là nhằm trang bị kiến thức và kĩ năng NVSP cơ bản về
giảng dạy giáo dục QP&AN cho giảng viên các trƣờng đại học theo hƣớng chuẩn
hoá, hiện đại hoá, nhằm bổ sung nguồn nhân lực và nâng cao năng lực sƣ phạm cho
đội ngũ giảng viên, đáp ứng yêu cầu giảng dạy giáo dục QP&AN trong sự nghiệp
giáo dục trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc và hội nhập quốc tế.
* Yêu cầu bồi dưỡng
- Tuân thủ quy định của Nhà nƣớc, Bộ Giáo dục và Đào tạo về bồi dƣỡng
NVSP cho giảng viên đại học.
24
- Bồi dƣỡng phải g n với hoạt động nghề nghiệp của giảng viên. Đặc điểm
này thể hiện tính mục đích nghề nghiệp rõ rệt. Nó đòi hỏi các hình thức, phƣơng
pháp bồi dƣỡng thƣờng xuyên phải hƣớng vào mục tiêu nâng cao chuyên môn
nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên các cơ sở.
- Bồi dƣỡng phải g n với thực tiễn của nền kinh tế- xã hội, của thị trƣờng,
đặc điểm này thể hiện mối liên hệ có tính qui luật của thị trƣờng với thực tiễn cuộc
sống. Nó đòi hỏi giảng viên trong quá trình bồi dƣỡng phải luôn luôn bám sát yêu
cầu của thực tế, để đáp ứng kịp thời của thị trƣờng lao động, giúp các học viên là
giảng viên các Trung tâm, Khoa GDQP n m b t kịp thời những tri thức, kỹ năng
mới . Hiện nay, giảng viên nói chung và giảng viên các Trung tâm, Khoa GDQP nói
riêng rất cần các kiến thức và kỹ năng mới, cho nên các lớp tập huấn bồi dƣỡng phải
có nội dung bồi dƣỡng cụ thể, để học viên n m đƣợc các kỹ năng mới chủ yếu, để
giúp họ ứng dụng ngay vào công việc hàng ngày.
- Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy trong bồi dƣỡng tập huấn, phấn đấu trở
sinh viên điều này thể hiện ở chỗ, nếu một giảng viên có trình độ NVSP uyên thâm
thì họ sẽ giảng dạy tốt hơn, từ đó uy tín, trình độ của giảng viên đƣợc sinh viên
đánh giá cao và là tấm gƣơng để sinh viên học tập và rèn luyện theo. Ngƣợc lại một
giảng viên với trình độ NVSP yếu kém sẽ không đem lại lòng tin và uy tín trƣớc
sinh viên.
Nhƣ vậy, khi có trình độ NVSP theo các quy định chuẩn sẽ tạo ra động lực
cho giảng viên trong hoạt động giảng dạy và giáo dục.
1.3.2.2. Nội dung bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm
Bồi dƣỡng NVSP cho giảng viên giáo dục QP&AN các trƣờng đại học là yêu
cầu khách quan và cấp thiết trong tình hình hiện nay. Bồi dƣỡng NVSP cho giảng
viên giáo dục QP&AN giữ vai trò quan trọng nhằm bổ sung trình độ, kỹ năng sƣ
phạm và kiến thức quốc phòng, an ninh cần thiết giúp ngƣời giảng viên có đủ phẩm
chất, năng lực cần thiết trong giảng dạy, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo
bậc đại học trong tình hình mới hiện nay.
Ngoài nội dung dƣỡng NVSP cho giảng viên đại học theo Thông tƣ số
12/2013/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 04 năm 2013 về việc Ban hành chƣơng trình
Bồi dƣỡng NVSP cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học, thì đối với giảng
viên giáo dục QP&AN cần tập trung bổ sung một số nội dung mang tính đặc thù
cho ngành nghề nhƣ sau:
- Bồi dưỡng tri thức văn hóa xã hội