Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống đậu xanh tại trường đại học nông lâm thái nguyên vụ thu đông năm 2014 - Pdf 39

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG MỸ DUYÊN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU XANH TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI
NGUYÊN VỤ THU ĐÔNG NĂM 2014

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên nghành

: Trồng trọt

Lớp

: K43 – TT - N02

Khoa

: Nông học

Khóa học

: 2011 -2015

Giảng viên hƣớng dẫn: ThS. Vũ Thị Nguyên

Khóa học

: 2011 -2015

Giảng viên hƣớng dẫn: ThS. Vũ Thị Nguyên

Thái Nguyên, năm 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Trong xuốt quá trình học tập của mỗi sinh viên ở các trường Đại Học, thực
tập tốt nghiệp là thời gian không thể thiếu được. Đây chính là thời gian để mỗi sinh
viên có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học được trên lý thuyết vận dụng
vào trong thực tiễn. Đồng thời đây cũng là thời gian sinh viên củng cố lại những
kiến thức đã học để khi ra trường trở thành một kĩ sư có chuyên môn, có đầy đủ
năng lực góp phần vào sự ngiệp phát triển nông thôn nói riêng và nền kinh tế của
nước ta nói chung.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, sự đồng ý của nhà trường và Ban
chủ nhiệm khoa Nông Học, tôi đã tiến hành thực tập tại trường Đại Học Nông Lâm
Thái Nguyên với tên đề tài là:
“Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống đậu xanh tại
Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên vụ thu đông năm 2014”.
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu
Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Các thầy cô giáo trong khoa Nông Học, đặc
biệt là sự hướng dẫn tận tình của cô giáo: Th.S Vũ Thị Nguyên.
Do khả năng chuyên môn còn hạn hẹp nên đề tài tốt nghiệp này chắc chắn sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong sự góp ý của các thầy, cô
giáo và các bạn sinh viên để bản báo cáo này được đầy đủ và hoàn thiện hơn.

Bảng 4.5. Chỉ số diện tích lá của một số giống đậu xanh ....................................41
Bảng 4.6. Khả năng tích lũy chất khô của thân, lá qua một số giai đoạn sinh
trưởng của các giống đậu xanh.............................................................................42
Bảng 4.7. Tiềm năng năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu
xanh ......................................................................................................................43
Bảng 4.8. So sánh xếp hạng năng suất thực thu của các giống đậu xanh thí
nghiệm ..................................................................................................................44
Bảng 4.9. Mức độ nhiễm sâu hại của các giống đậu xanh thí nghiệm ........................45
Bảng 4.10. Khả năng chống đổ của các giống đậu xanh .....................................46


iii

CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
AVRDC

:

Trung tâm Nghiên cứu Rau màu Châu Á

BNNPTNT

:

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Đ/c

:


Năng suất thực thu

P1000 hạt

:

Khối lượng 1000 hạt

QCVN

:

Quy chuẩn Việt Nam

TT

:

Thứ tự

WHO

:

Tổ chức Y Tế Thế giới


iv

MỤC LỤC

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu .................................................................29
3.3. Nội dung nghiên cứu .....................................................................................30
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi.........................................30
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm..................................................................30
3.4.2. Quy trình kỹ thuật áp dụng cho thí nghiệm ...............................................30
3.4.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi .....................................31
3.5. Phương pháp xử lý số liệu .............................................................................34
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................35
4.1. Các giai đoạn sinh trưởng của cây đậu xanh.................................................35
4.2. Chiều cao cây các giống đậu xanh ................................................................37
4.3. Một số đặc điểm hình thái cơ bản của các giống đậu xanh ..........................39
4.3.1. Đặc điểm hình thái về màu sắc lá, hoa quả, hạt của các giống đậu xanh .........39
4.3.2. Đặc điểm hình thái của quả, sự phân cành của cây đậu xanh ....................40
4.4. Chỉ số diện tích lá của một số giống đậu xanh .............................................41
4.5. Khả năng tích lũy chất khô qua một số giai đoạn sinh trưởng của đậu
xanh ......................................................................................................................42
4.6. Tiềm năng năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất đậu xanh ...............42
4.7. Tình hình sâu bệnh hại của các giống đậu xanh ...........................................45
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ................................................................47
5.1. Kết luận .........................................................................................................47
5.2. Đề nghị ..........................................................................................................48
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................49

PHỤ LỤC


1

Phần 1
MỞ ĐẦU

Philippin, Ấn Độ, Thái Lan...và nhất là nước ta. Đối với khu vực Duyên Hải
Nam Trung Bộ, diện tích cây đậu hàng năm khoảng 10.000 ha. Mặc dù, diện
tích sản xuất cây đậu xanh ở các tỉnh Duyên Hải miền Trung và Tây Nguyên
không thể so sánh với cây lạc và đậu tương, tuy nhiên đậu xanh cũng là cây
thực phẩm đem lại hiệu quả kinh tế cao. Năng suất đậu xanh bình quân toàn
vùng đạt khoảng 12 - 13 tạ/ha. Do nhiều công dụng và dễ sử dụng nên đậu
xanh được trồng rộng rãi trong nhân dân.
Ở Việt Nam, đậu xanh đã được trồng từ rất lâu đời và có mặt khắp nơi
trong cả nước. Việc tập trung sản xuất cây lương thực vẫn còn là tập quán của
nhiều vùng, cây đậu xanh vẫn bị xem là cây trồng phụ tận dụng đất đai, lao
động… và thường được trồng trên đất xấu, điều kiện canh tác không đảm bảo,
giống đậu xanh được sử dụng chủ yếu là giống cũ của địa phương không
được chọn lọc nên cho năng suất thấp.
Để đáp ứng được nhu cầu sản xuất và xuất khẩu, lựa chọn những
giống đậu xanh có năng xuất cao, ổn định, chất lượng tốt, chín tập trung, thời
gian sinh trưởng ngắn, thích nghi với điều kiện ngoại cảnh. Đây không những
là vấn đề các nhà khoa học rất quan tâm mà còn là vấn đề chung của xã hội
trên lĩnh vực nông nghiệp.
Xuất phát từ lý do trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống đậu xanh tại trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên vụ thu đông năm 2014”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm ra những giống đậu xanh có năng xuất cao, phẩm chất tốt, có khả
năng chống chịu sâu bệnh, sinh trưởng tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của
địa phương để giới thiệu sản xuất.


3

1.3. Ý nghĩa của đề tài

kết quả tin cậy cần phải thực hiện thí nghiệm ở nhiều thời vụ.
Các kết quả nghiên cứu về thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình thái,
khả năng chống chịu, năng suất… của các giống đậu xanh làm thí nghiệm là
cơ sở lựa chọn giống phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng.
2.2. Vai trò của cây đậu xanh trong đời sống con ngƣời
2.2.1. Giá trị dinh dưỡng của cây đậu xanh
Theo Khatik K.L., Vaishnava C.S.; Lokesh Grupta (2007) [28], đậu
xanh là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao, trong 100g bột đậu xanh chưa
tách vỏ có 24g protein; 1,3g lipid; 59,7g hydratcarbon; 3,5g khoáng; 123mg
Ca; 326mg P; 7,3g Fe;94mg caroten; 0,47mg B1; 0,39mg B2 và 334 kcalo.
Protein đậu xanh chứa đầy đủ các axit amin không thay thế và tương đối trùng
hợp với tiêu chuẩn dinh dưỡng dành cho trẻ em do tổ chức Nông - Lương và
Y Tế Thế Giới đưa ra.


5

Bảng 2.1. Thành phần axit amin trong bột đậu xanh
và tiêu chuẩn của FAO/WHO
(Đơn vị :% protein)
Thành phần
axit amin
Isoleicine

3,5

Thực phẩm tiêu chuẩn
FAO/WHO - 2007
3,6


Tryptophan

1,8

1,0

Valine

4,1

5,0

Bột đậu xanh

Nguồn: Khatik et al (2007); FAO năm 2007
Hạt đậu xanh được chế biến thành nhiều sản phẩm như: Các loại bột
dinh dưỡng, làm bánh, nấu chè, đồ xôi, làm thực phẩm, đồ uống… (Trần Văn
Lài và CTV, 1993) [7]. Sản phẩm được sản xuất ra từ đậu xanh chủ yếu là bột
và protein đậu xanh. Người ta có thể pha trộn bột ngũ cốc với bột đậu xanh
hoặc protein của nó để nâng cao chất lượng của thương phẩm, đảm bảo cung
cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho nhu cầu cơ thể. Có sự pha trộn này là do
thiếu hụt nguyên tố S trong đậu xanh được bổ sung bằng S có trong axit amin
ngũ cốc và ngược lại sự thiếu hụt lycine trong ngũ cốc được bổ sung bằng
lycine của đậu xanh. Sự bổ sung cho nhau này đã làm cho thành phần dinh
dưỡng của sản phẩm được nâng lên và cân đối hơn, phù hợp với sức khỏe
người sử dụng (Đường Hồng Dật, 2006) [4].
Hạt đậu xanh còn là nguyên liệu của ngành công nghiệp chế biến thực
phẩm, chế biến thành bánh kẹo như đặc sản bánh đậu xanh Hải Dương với
chất lượng thơm ngon. Bên cạnh đó rau mầm làm từ đậu xanh (giá đậu xanh)


đạm tăng lên, hệ vi sinh vật hảo khí được tăng cường rất có lợi cho các cây
trồng vụ sau, nhất là đối với các loại cây trồng có nhu cầu cao về đạm dễ tiêu.


7

Đậu xanh là cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, thích ứng với
nhiều loại đất và kiểu khí hậu khác nhau, đậu xanh có thể trồng nhiều vụ
trong năm (trừ mùa đông lạnh) nên có thể đưa vào nhiều công thức luân canh
cây trồng như trồng thuần, trồng xen, trồng gối góp phần nâng cao giá trị sử
dụng đất (Đường Hồng Dật, 2006) [4]. Trong hệ thống gối vụ, đậu xanh được
trồng chủ yếu với vai trò cây trồng phụ. Sử dụng đậu xanh trong hệ thống gối
vụ mang lại những lợi ích như sau:
- Diện tích đất được tận dụng triệt để giữa các giai đoạn sinh trưởng của
cây trồng chính (Bohuah A.R., Hazarica B.D và Paul A.M.,1984) [25];
- Nhu cầu sử dụng lao động được phân bố đều trong năm (Bohuah
A.R., Hazarica B.D và Paul A.M.,1984) [25];
- Tạo được khối lượng sản phẩm hạt đậu xanh giàu Protein;
- Lượng đạm trong đất được cải thiện và cây trồng sau cho năng suất
cao hơn (Reddy K.C., Soffer A.R. và Prine G.M., 1986) [33].
Đậu xanh có thể trồng xen với sắn, mía, ngô, lạc, cây ăn quả…
Trồng đậu xanh xen sắn cho thu nhập gấp 2,88 lần và lượng đất bị mất đi
trong quá trình canh tác giảm 26,29% so với trồng sắn thuần (Nguyễn Thanh
Phương và cs, 2010) [14]. Trồng xen canh đậu xanh với mía, đậu triều, bạc
hà, cây ăn quả… năng suất đậu xanh có thể đạt 0,7 - 1,0 tấn/ha mà không làm
suy giảm năng suất cây trồng chính (S. Shanmugasundaran, G. Singh và H.S.
Sekhon, 2004) [34].
Cây đậu xanh trong cơ cấu luân canh, xen canh vừa có tác dụng cải tạo
đất vừa có hiệu quả kinh tế cao nên đã phù hợp với xu hướng sử dụng đất hiện
nay, nhưng giống phải có cỡ hạt lớn màu xanh bóng mới đáp ứng được yêu

lấp mất ánh sáng.
Độ dài chiếu sáng cũng có ảnh hưởng nhiều đến việc ra hoa của cây
đậu xanh. Trong một thí nghiệm chiếu sáng nhân tạo từ 12-16 giờ/ngày cho
1273 mẫu giống đậu xanh tại AVRDC đã cho thấy: chỉ có 47% giống là nở
hoa bình thường, 10% nở hoa chậm hơn 10 ngày, 32% nở hoa khi được chiếu
sáng 16 giờ, còn lại 8% không có biểu hiện rõ rệt.


9

Hiệu suất quang hợp của cây đậu xanh kém hơn một số cây như ngô,
mía… cho nên thiếu ánh sáng là năng suất giảm. Sản phẩm của quang hợp là
kết quả tổng hợp của diện tích lá và lượng bức xạ mặt trời. Cũng vì thế mà
năng suất của đậu xanh vụ hè thường cao hơn vụ xuân và vụ thu đông. Năng
suất cây đậu xanh của các tỉnh phía Nam cao hơn phía Bắc một phần cũng là
do nhiều ánh sáng so với các tỉnh phía Bắc. Các giống có bộ lá màu xanh
đậm, diện tích lá lớn, cuống ngắn, không che lấp nhau, cứng cây, không bị đổ
và các bệnh hại lá… sẽ cho năng suất cao.
2.3.3. Yêu cầu về nước
Do có bộ rễ kém phát triển nên khả năng chịu úng và hạn của cây đậu
xanh đều kém hơn đậu tương và lạc.
Độ ẩm thường xuyên cho cây đậu xanh mọc tốt nhất là từ 70 - 80%, khi độ
ẩm xuống dưới 50% thì năng suất sẽ giảm. Có 2 thời kỳ không thể thiếu ẩm là khi
mọc và khi ra hoa, đậu quả. Thời gian này độ ẩm của đất cần phải từ 80 - 90%.
Ở thời kỳ cây con, nếu gặp hạn, cây và cành phát triển kém, lá bé, ít lá
và sau này hoa quả ít. Ngược lại nếu gặp độ ẩm cao quá rễ rất dễ bị thối, lá
vàng và rụng, nếu ngập úng nhiều cây chết hàng loạt, cho nên đậu xanh rất
cần chú ý chống hạn và chống úng kịp thời mới đảm bảo năng suất cao (Phạm
Văn Thiều, 1999) [18].
Bảng 2.2. Bảng diễn biến thời tiết khí hậu vụ thu đông năm 2014


Tháng 11

22,1

82

58,5

93

Tháng 12

16,5

70

12,2

106

Tháng
Tháng 8

Tổng lƣợng mƣa
(mm)
329,5

Số giờ nắng
(giờ chẵn)

sớm tạo thành nốt sần.
Lân cũng cần như đạm, là yếu tố sinh trưởng, yếu tố tạo ra protein, tổng
hợp ATP, mỡ, các enzym và nhiều thành phần khác. Nó tham gia trực tiếp
vào các hoạt động sinh lý của cây. Khi thiếu lân thì cây lớn chậm, bộ rễ phát
triển kém, lá có màu xanh tối, các cành lá úa vàng và khô giống như thiếu
đạm,… cây ra hoa kết quả kém và chín muộn.


11

Kali (K) giúp cho quá trình quang hợp, sự hoạt động của các enzym,
làm tăng hàm lượng tinh bột trong hạt, tăng cellulose, giúp cho cây chống
được bệnh và chống đổ…
Canxi (Ca) là chìa khóa trong sự tăng trưởng của cây đậu xanh, nó giữ
vai trò quan trọng trong việc tạo ra năng suất, điều chỉnh độ pH và cải tạo đất.
Magiê (Mg) cũng là một nguyên tố quan trọng để cây tạo diệp lục và có
vai trò rất quan trọng trong việc tăng năng suất đậu xanh. Thiếu Mg có thể
làm suy giảm năng suất đậu xanh đến 14%.
Lưu huỳnh (S) tham gia vào việc cấu tạo lá và aminoacit chủ yếu trong
hạt, là yếu tố cấu thành quan trọng của phần lớn các protit. Cây họ đậu có nhu
cầu sinh lý đặc biệt quan trọng về lưu huỳnh. Các nguyên tố vi lượng như
đồng (Cu) tham gia vào thành phần của diệp lục, Mo giúp cho nốt sần hình
thành sớm và thúc đẩy quá trình cố định đạm. Mn và B giúp cho quá trình ra
hoa, tạo quả… (Phạm Văn Thiều, 1999) [18].
2.4. Nghiên cứu đánh giá các mẫu giống đậu xanh trên cơ sở thực vật học
+ Rễ
Bộ rễ cây đậu xanh chủ yếu gồm rễ chính và các rễ phụ. Rễ chính ăn
sâu 20 - 30cm, trong điều kiện đủ ẩm, đất tơi xốp, tầng canh tác dày rễ chính
có thể ăn sâu 70 - 100cm. Rễ phụ thông thường gồm 30 - 40 cái, dài 20 25cm phân bố chủ yếu ở tầng đất ≤ 25cm. Trên rễ phụ xuất hiện nhiều lông
hút với nhiệm vụ trực tiếp hấp thụ dinh dưỡng từ đất. Các điểm giao nhau

lá mầm suất hiện. Sau khi lá mầm xuất hiện 3 - 5 ngày hai lá lớn (lá sò) hình
thành mọc đối nhau ngay trên mặt đất. Khoảng một tuần sau lá kép (3 lá chét
xuất hiện). Lá kép đậu xanh ngoài mọc trên thân với số lượng trung bình 7 - 8
lá, còn mọc khá nhiều trên các cành cấp một. Diện tích của các phiến lá tăng
dần từ lá đầu tiên đến các lá nằm trong vùng giữa thân rồi giảm dần ở các lá
phía trên. Chiều dài phiến lá thường dao động lớn và phụ thuộc vào kiểu gen
hay điều kiện ngoại cảnh nhưng thông thường từ 10 - 12cm, rộng 7 - 8cm. Lá


13

chét có thể có những hình dạng khác nhau từ oval, thuôn dài, thuôn tròn, lưỡi
mác. Độ dày phiến lá phụ thuộc vào giống hay điều kiện chăm sóc. Số lá trên
thân chính trung bình có 7 - 8 lá, đôi khi có 9 lá trên thân.
+ Hoa
Hoa đậu xanh thuộc loại hoa lưỡng tính mọc thành từng chùm trên trục
hoa. Chùm chính mọc trên đỉnh thân, các chùm phụ mọc các đốt 4, 5, 6. Mỗi
chùm dài 2 - 10cm khi mới hình thành hoa có dạng cong cánh bướm, màu xanh
hay tím, khi nở chuyển thành màu vàng. Mỗi hoa có 9 nhị đực và 1 nhụy cái.
+ Quả
Quả đậu xanh có thể hình thành từ phía trên hay bên trong các vòm lá.
Quả thường có dạng thuôn dài 8 - 14cm. Thiết diện ngang quả có hình tròn
hay dẹt với đường kính 4 - 6mm. Màu sắc quả khi chín có thể là màu đen hay
nâu, đôi khi có màu trắng. Phần vỏ quả tiếp giáp với hạt thường chia thành
nhiều vách ngăn tương ứng với số hạt trên quả. Mỗi cây trung bình có 8 - 35
qủa tùy giống, mùa vụ và điều kiện chăm sóc (Lawn R.J và cs, 1970) [31].
+ Hạt
Hạt đậu xanh thông thường có dạng hình tròn, trụ, trống, elip. Trọng
lượng nghìn hạt có thể dao động từ 15 - 70g nhưng chủ yếu phụ thuộc vào
giống. Màu vàng rơm, vàng xanh, xanh đậm, nâu, xanh nhạt, hỗn hợp là các

chuyên canh lúa nhằm phá vỡ thế độc canh của cây này trong vùng. Các kết
quả của Viện IRRI đã đưa ra một số kết luận sau:
- Cần xây dựng cơ cấu luân canh hợp lý giữa cây lúa với cây đậu đỗ.
- Các cây họ đậu (chủ yếu là cây đậu xanh và đậu tương) có thể trở
thành cây trồng trước hoặc cây trồng sau vụ lúa, do đó cần phải có các bộ
giống thích hợp đối với các mùa vụ này. Từ các định hướng ban đầu như vậy,
Viện IRRI đã chọn được một giống đậu xanh năng suất cao thích hợp với vụ
hè là giống Green Taiwan (K.L.M Kim S.C., 1984) [29].
Nghiên cứu về các đặc điểm nông sinh học của đậu xanh, Lantican R.M.
(1982) [30] nhận xét: “Đối với cây đậu xanh phải quan tâm đến sức sống cây


15

con, nó tương quan trực tiếp chặt đến năng suất, ngoài ra thời kỳ cây con còn có
mối tương quan thuận và chặt với số quả/cây, số hạt/quả, số cành/cây, trọng
lượng hạt”. Tác giả còn cho rằng chỉ số diện tích lá và trọng lượng chất khô cũng
tương quan rất chặt với năng suất đậu xanh trồng vụ sau lúa (Lantican R.M.,
1982) [30].
Đậu xanh là cây đậu đỗ được trồng nhiều vào vụ hè, vụ đông ở Ấn Độ.
Các giống được chọn có loại hình sinh trưởng trung bình, cây khỏe, mập, phát
triển nhanh chống chịu tốt với điều kiện khó khăn và có tiềm năng năng suất
cao, ổn định.
Thái Lan là nước trồng đậu xanh lớn ở Đông Nam Á và là nước xuất khẩu
đậu xanh lớn nhất trên thế giới. Thời vụ gieo trồng đậu xanh ở Thái Lan khác
nhau tùy theo vùng sinh thái, vùng Bắc và Đông Bắc trồng 3 - 4 vụ đậu xanh
trên năm, chủ yếu gieo trong mùa mưa. Vụ sớm gieo tháng 2 đến tháng 3 (đầu
mùa mưa), ngoài ra còn gieo đậu xanh từ tháng 8 đến tháng 11 (đầu đến giữa
mùa khô). Mùa vụ đậu xanh gần như không có giới hạn ở vùng chủ động tưới
tiêu nước (Chiềng Mai, Đông Bắc, Thái Lan) (Chang Soon Ahn, 1985) [26].

Kết quả nghiên cứu và phát triển đậu đỗ giai đoạn 2001 - 2005 của tác
giả Trần Đình Long và cs (2006) [8] đã tiến hành đánh giá 2024 lượt mẫu
giống trong đó có 150 mẫu giống địa phương. Đề tài đã xác định được 9 mẫu
giống đạt năng suất từ 18 - 22 tạ/ha, thời gian sinh trưởng 70 - 75 ngày là đậu
xanh Quảng Bạ, đậu xanh mỡ Hải Dương, VC6193B, Chainat 72, Chainat 36,
SEL8, MN19, VC3890. Đặc biệt là các giống Chainat 72, Chainat 36 có
nguồn gốc từ Thái Lan có thể sử dụng trực tiếp để nghiên cứu hoàn thiện các
biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp và mở rộng sản xuất.
Kết quả nghiên cứu chọn lọc giống đậu xanh NTB01 của tác giả Tạ
Minh Sơn và cs (2006) [16] cho thấy giống đậu xanh NTB01 là giống nhập
nội thuộc dạng đậu mỡ thích nghi với thị hiếu người tiêu dùng trong cả nước.
Giống NTB01 có thời gian sinh trưởng 78 ngày trong vụ đông xuân và 72
ngày trong vụ hè thu, thuộc giống ngắn ngày tương đương thời gian sinh


17

trưởng so với đối chứng. Năng suất cao biến động từ 17,3 - 23,6 tạ/ha tuỳ thời
vụ và địa điểm sản xuất.
Nghiên cứu về đậu xanh của Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam từ
những năm 1991, Viện đã tiến hành thu thập và khảo sát tập đoàn 88 mẫu
giống qua các vụ: Đông xuân, hè thu và thu đông. Từ những năm 1992 - 1994
tại Trung tâm Hưng Lộc, Trung tâm Trâu sữa và Đồng cỏ Sông Bé đã tuyển
chọn và giới thiệu những giống triển vọng năng suất cao và thích ứng với điều
kiện vùng Đông Nam Bộ (Lê Xuân Đính, 1991) [5].
Với tầm quan trọng của các cây họ đậu trong sản xuất nông nghiệp ở nước
ta và đáp ứng nhu cầu sản xuất đậu xanh trong nước, từ nhiều năm nay việc
nghiên cứu và đánh giá các mẫu giống nhập nội và thu thập ở trong nước đã
được tiến hành ở các cơ sở nghiên cứu (Viện, Trường, Trạm, Trại,...) với số
lượng 2596 lượt mẫu giống. Kết quả nghiên cứu đã tuyển chọn được một số

dụng ở công thức luân canh sau:
- Luân canh 3 vụ/năm: Lúa xuân - Đậu xanh - Ngô thu đông (trên đất bãi).
- Luân canh 4 vụ/năm: Lúa xuân - Đậu xanh - Lúa mùa muộn - Khoai tây.
Kết quả nghiên cứu chọn tạo ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam của Lê
Khả Tường (2000) [19] cho thấy đậu xanh trồng được 3 vụ/năm (vụ xuân, vụ
hè và vụ thu đông). Giống đậu xanh KP11 là giống tính thích ứng rộng trồng
được cả 3 vụ trong năm và trồng được ở nhiều vùng sinh thái, từ Quảng Bình
đến các tỉnh phía Bắc. Trong vụ thu đông chiều cao cây lúc ra hoa, số
cành/cây lúc thu hoạch, tích luỹ chất khô, số quả/cây, số hạt/quả và khối
lượng 1.000 hạt đều có tương quan thuận chặt với năng suất kinh tế, vì vậy có
thể sử dụng mối tương quan này để định hướng công tác chọn tạo giống đậu
xanh cho vụ thu đông trong tương lai.
Theo Phan Thị Thanh (2004) [17] khi nghiên cứu về thời vụ gieo trồng
và thâm canh đậu xanh cho các tỉnh Bắc Trung bộ, để thâm canh cây đậu
xanh đạt năng suất cao > 20tạ/ha cần gieo đậu xanh ở mật độ 20 - 30 cây/m2,
thời vụ gieo trồng thích hợp trong vụ hè từ 25/6 - 5/7 và sử dụng phân bón



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status