BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀ O TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---------
LÊ THỊ NGA
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
SỰ TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP:
NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ TÂN AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀ O TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---------
LÊ THỊ NGA
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
SỰ TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP:
NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ TÂN AN
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số
: 60340403
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
1.3. Câu hỏi nghiên cứu. ..........................................................................................2
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. ...................................................................2
1.5. Phương pháp nghiên cứu. .................................................................................2
1.6. Ý nghĩa của nghiên cứu. ...................................................................................3
1.7. Kết cấu của luận văn. .......................................................................................3
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
VỀ TUÂN THỦ THUẾ ..............................................................................................4
2.1. Cơ sở lý thuyết về tuân thủ thuế. ......................................................................4
2.1.1. Nghĩa vụ thuế. ...............................................................................................4
2.1.2. Tuân thủ thuế. ................................................................................................5
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp. .....................7
2.2.1. Nhân tố kinh tế: .............................................................................................7
2.2.2. Nhân tố chính sách thuế. ...............................................................................9
2.2.3. Nhân tố nhận thức giá trị xã hội. .................................................................11
2.2.4. Nhân tố tâm lý cảm nhận. ............................................................................12
2.3. Lược khảo các nghiên cứu liên quan. ............................................................13
2.3.1. Các nghiên cứu nước ngoài.........................................................................13
2.3.2. Các nghiên cứu trong nước. ........................................................................17
Kết luận chương 2. ................................................................................................20
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.........................21
3.1. Các giả thuyết của mô hình. ...........................................................................21
3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất. ..........................................................................24
3.3. Quy trình thực hiện nghiên cứu. .....................................................................26
3.3.1. Nghiên cứu sơ bộ.........................................................................................26
3.3.2. Nghiên cứu chính thức. ...............................................................................27
3.4. Xây dựng thang đo sơ bộ các nhân tố của mô hình. ......................................30
3.5. Phương pháp chọn mẫu và xử lý số liệu. .......................................................31
3.5.1. Phương pháp chọn mẫu. ..............................................................................31
PHỤ LỤC 6: KẾT QUẢ HỒI QUY
PHỤ LỤC 7: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH
PHỤ LỤC 8: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ANOVA
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1
NNT
Người nộp thuế
2
CQT
Cơ quan thuế
3
NSNN
Ngân sách nhà nước
4
GTGT
Giá trị gia tăng
XH
Nhân tố nhận thức giá trị xã hội
11
TL
Nhân tố tâm lý cảm nhận
12
TT
Sự tuân thủ thuế
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Hình 2.1. Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế ................ 14
Hình 2.2. Mô hình các nhân tố tác động đến sự tuân thủ thuế tại Malaysia ....... 16
Hình 2.3. Các nhân tố kinh tế và phi kinh tế ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế ... 17
Bảng 2.4. Tóm tắt các nghiên cứu liên quan ....................................................... 19
Hình 3.1. Mô hình khảo sát ................................................................................. 26
Bảng 3.2. Mô tả các nhân tố dự kiến ................................................................... 27
Bảng 3.3. Tóm tắt quy trình thực hiện nghiên cứu .............................................. 31
Bảng 3.4. Thang đo các nhân tố trong mô hình nghiên cứu ................................ 32
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, thông qua nguồn thu
này để Chính phủ chi tiêu cho các công trình công cộng, cải thiện hệ thống an sinh
xã hội. Để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước hệ thống chính sách thuế đã
được từng bước cải cách, hoàn thiện. Từ khi thực hiện chính sách đổi mới kinh tế,
mở cửa và hội nhập, Nhà nước luôn tạo ra môi trường và hành lang pháp lý để thúc
đẩy phát triển sản xuất và kinh doanh cho mọi thành phần kinh tế và cá nhân, nhằm
ổn định, phát triển kinh tế nâng cao đời sống nhân dân và tăng nguồn thu cho ngân
sách nhà nước. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của
mọi tổ chức, cá nhân.
Ý thức tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế ngày được nâng cao.
Vai trò của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác quản lý thuế từng bước
được tăng cường. Nhiều doanh nghiệp hoàn thành tốt nghĩa vụ nộp thuế đã được
các cơ quan Nhà nước tôn vinh. Bên cạnh đó, cũng còn không ít người nộp thuế
chưa tuân thủ chấp hành tốt nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước trong quá trình tổ
chức hoạt động sản xuất kinh doanh.
Từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 thực hiện theo Luật Quản lý thuế hệ thống
thuế Việt Nam đã chuyển sang thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế. Theo cơ chế
này, người nộp thuế có thể tự khai, tự tính, tự nộp thuế vào ngân sách nhà nước mà
không cần căn cứ vào thông báo nộp thuế của cơ quan thuế. Việc thực hiện cơ chế
này là phát huy tính tự chủ và ý thức tự giác thực hiện pháp luật về thuế của người
nộp thuế. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà người nộp thuế đã kê khai không
chính xác và nộp thuế không đầy đủ, không đúng hạn số thuế phải nộp. Thực tế,
Chi cục Thuế thành phố Tân An đang quản lý trên 1.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ
trong năm 2015 kiểm tra thuế tại 128 doanh nghiệp đã truy thu thuế 2 tỷ 537 triệu
đồng (Chi cục Thuế thành phố Tân An, 2015). Ngoài ra, tình hình nợ thuế của
mục đích khám phá, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát dùng để đo lường các
khái niệm nghiên cứu từ đó xây dựng bảng câu hỏi khảo sát.
Phương pháp định lượng được thực hiện để phân tích dữ liệu thu thập được từ
phỏng vấn chính thức 265 doanh nghiệp trên địa bàn do Chi cục Thuế thành phố
3
Tân An tỉnh Long An quản lý với sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0. Cụ thể như
sau:
- Đánh giá sơ bộ thang đo và độ tin cậy của biến đo lường bằng hệ số
Cronbach’s Alpha và độ giá trị (factor loading), tiến hành phân tích Exploratory
Factor Analysis (EFA) để tìm ra các nhân tố đại diện cho các biến quan sát tác
động đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn do Chi cục Thuế thành
phố Tân An tỉnh Long An quản lý.
- Sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
về tác động của các nhân tố đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp.
1.6. Ý nghĩa của nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu giúp cơ quan thuế thấy được nhân tố nào ảnh hưởng
mạnh nhất đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp để cơ quan thuế hoàn thiện chính
sách, pháp luật về thuế; tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong việc
thực hiện tuân thủ pháp luật thuế và có thể là tài liệu tham khảo cho các bạn đang
học sau đại học chuyên ngành quản lý công.
1.7. Kết cấu của luận văn.
Luận văn này ngoài chương 1 giới thiệu được trình bày với bốn chương tiếp
theo: Chương 2: Lược khảo lý thuyết và các nghiên cứu trước, chương này giới
thiệu khái quát các lý thuyết phục vụ cho nghiên cứu. Tác giả cũng tiến hành lược
khảo các nghiên cứu liên quan đến đề tài này trong chương 2, làm cơ sở để đề xuất
mô hình nghiên cứu phù hợp với thực tế. Chương 3: Mô hình và phương pháp
nghiên cứu, chương này trình bày khung phân tích, mô hình nghiên cứu, cỡ mẫu,
của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc
tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế. Chấp hành
quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế
theo quy định của pháp luật. Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy
định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện
theo ủy quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định”.
Theo Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 2004), nghĩa vụ thuế
bao gồm bốn nghĩa vụ sau: (i) Đăng ký thuế; (ii) Khai thuế kịp thời và nộp các
thông tin cần thiết về hồ sơ thuế; (iii) báo cáo đầy đủ, chính xác các thông tin (kết
5
hợp lưu giữ hồ sơ); (iv) nộp thuế đúng hạn.
Nghĩa vụ thuế theo Luật Quản lý thuế của Việt Nam và theo Tổ chức hợp
tác và Phát triển kinh tế không hoàn toàn giống nhau nhưng về cơ bản có những
điểm chung đều liên quan đến nội dung như: đăng ký thuế, kê khai thông tin, nộp
tờ khai và nộp tiền thuế đúng hạn.
2.1.2. Tuân thủ thuế.
Tuân thủ thuế là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu.
Quan điểm truyền thống cho rằng hầu hết người nộp thuế không tự nguyện tuân thủ
thuế, họ chỉ chấp hành nghĩa vụ thuế khi có sự cưỡng chế của cơ quan thuế (CQT)
hoặc khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế. Vì vậy, cách tiếp cận tuân thủ thuế theo luật
thuế chỉ có thể làm giảm mức độ trốn thuế chứ không thể hướng đến việc tăng
cường tuân thủ thuế. Khái niệm tuân thủ thuế còn thu hút nhiều nhà nghiên cứu
tham gia tranh luận về phương diện tuân thủ tự nguyện hay không tự nguyện. Một
trong những mục tiêu được xem là cao nhất của quản lý thuế là tăng tính tuân thủ
tự nguyện của người nộp thuế, thay vì đưa ra những hình thức xử phạt các đối
tượng trốn thuế và tránh thuế. Hầu hết quan điểm nghiên cứu hiện nay đều tập
trung xem xét tính tự nguyện chấp hành thuế. James và Alley (1999) đã đặt ra câu
khai, báo cáo, nộp thuế. Bất kỳ sự vi phạm nào xuất hiện ở một trong các khâu trên
đều dẫn đến sự không tuân thủ ở các mức độ khác nhau.
Theo James và Alley (1999) các định nghĩa trên, tuân thủ pháp luật thuế của
NNT về cơ bản là thể hiện ở việc chấp hành đầy đủ, kịp thời các quy định của pháp
luật thuế, cụ thể là việc chấp hành các tiêu chí thời gian, mức độ chính xác trung
thực và đầy đủ của các hoạt động đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và các nghĩa vụ
khác về thuế của NNT. Khi tuân thủ pháp luật thuế của NNT được nâng cao, rõ
ràng, chính sách pháp luật thuế đã được ban hành và thực thi có hiệu quả, đạt được
các mục tiêu mong muốn. Suy cho cùng, tính đúng đắn hay tiên tiến của chính sách
thuế, tính hiệu quả của công tác quản lý thuế thể hiện rất rõ ở thực trạng chấp hành
pháp luật thuế của NNT.
Như vậy, tuân thủ thuế là thực hiện đầy đủ và kịp thời nghĩa vụ thuế theo
đúng các quy định tại các luật thuế, NNT tự giác và có ý thức tuân thủ hoàn thành
tốt nghĩa vụ thuế của mình, CQT chỉ tuyên truyền, giáo dục, theo dõi, giám sát,
kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ thuế, ngăn chặn xử lý các hành vi không tuân thủ
7
thuế.
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp.
2.2.1. Nhân tố kinh tế:
Nhân tố kinh tế liên quan đến tuân thủ thuế đề cập đến hành động có liên
quan đến chi phí và lợi ích của việc thực hiện các hành động (Loo, 2006).
Hasseldine (1993), và Song và Yarbrough (1978) giả định rằng người nộp thuế là
trốn kinh tế hợp lý, người có khả năng sẽ đánh giá chi phí và /hoặc lợi ích trốn. Các
nhân tố quyết định sự tuân thủ thuế gắn liền với các nhân tố kinh tế như kiểm toán
thuế và nhận thức của chi tiêu Chính phủ, khả năng tài chính, chi phí tuân thủ sẽ
được tìm hiểu chi tiết hơn.
Kiểm toán thuế.
yếu tố cản trở hành vi tuân thủ tích cực.
Người nộp thuế, và đặc biệt là những người phải trả số tiền thuế cao, sẽ nhạy
cảm với những gì mà Chính phủ chi tiền của họ vào. Nếu Chính phủ là một cách
khôn ngoan chi tiêu thu nhập quốc gia, ví dụ, đối với phương tiện cơ bản như giáo
dục, y tế, an toàn và giao thông công cộng, có khả năng là tự nguyện tuân thủ sẽ
tăng lên. Ngược lại, nếu người nộp thuế nhận thức rằng Chính phủ đang chi tiêu
quá nhiều vào một cái gì đó được coi là không cần thiết, sau đó người nộp thuế sẽ
cố gắng né tránh.
Khả năng tài chính.
Dường như có một mối quan hệ giữa số tiền thuế còn nợ và các hành vi tuân
thủ. Ví dụ, nếu một chủ DN có trách nhiệm pháp lý về thuế mà có thể dễ dàng được
thanh toán thì họ sẽ sẵn sàng tuân thủ. Tuy nhiên, nếu các trách nhiệm pháp lý lớn
có khả năng đe dọa sự sống còn của DN thì người chủ sở hữu có thể sẽ né tránh
phải nộp tất cả hoặc tìm biện pháp điều chỉnh các số liệu báo cáo để giảm nghĩa vụ
thuế (OECD, 2004).
Chi phí tuân thủ.
Theo OECD (2004), đối tượng nộp thuế phải bỏ ra một số khoản chi phí
thông thường để tuân thủ các nghĩa vụ thuế, do đó, làm cho số thuế phải chịu cao
hơn số thuế thực nộp. Các chi phí này bao gồm thời gian phải bỏ ra để hoàn tất các
thủ tục yêu cầu, các chi phí trả cho kế toán và các chi phí gián tiếp do sự phức tạp
của Luật thuế. Các chi phí này có thể bao gồm cả các chi phí về mặt tâm lý như
9
căng thẳng thần kinh do không biết chắc họ đã đáp ứng toàn bộ các quy định về
thuế hay chưa hoặc thậm chí do không biết các quy định về thuế. Thực hiện các
nghĩa vụ thuế tốn nhiều thời gian, công sức ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của
doanh nghiệp.
2.2.2. Nhân tố chính sách thuế.
sách duy nhất có tiềm năng để ngăn cản việc trốn thuế nhưng thuế suất là một yếu
tố quan trọng trong việc xác định hành vi tuân thủ thuế mặc dù mức độ tác động
chính xác vẫn còn chưa thật sự được rõ ràng và gây nên tranh cãi (Kirchler, 2007).
Clotfelter cũng cho thấy rằng có mối quan hệ giữa thuế suất và trốn thuế do
mức thuế suất được sử dụng như là một công cụ có thể được thao tác cho mục tiêu
chính sách đặc biệt. Nâng cao mức thuế suất cận biên có khả năng khiến NNT trốn
thuế (Whitte và Woodbury, 1985; Ali, Cecil và Knoblett, 2011; Torgler, 2007)
nhưng khi hạ thấp mức thuế suất không nhất thiết sẽ tăng cường tuân thủ thuế
(Trivedi, Shehata và Mestelmen, 2004; Kirchler, 2007). Allingham và Sando kết
luận rằng NNT có thể chọn: báo cáo đầy đủ thu nhập hoặc báo cáo ít hơn, không
phân biệt mức thuế suất. Tăng mức thuế suất không nhất thiết là luôn luôn giảm
hành vi tuân thủ (Allingham và Sandmo, 1972).
Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế.
Theo OCED (2004), kinh nghiệm cho thấy rằng phần lớn đối tượng nộp thuế
muốn tuân thủ nghĩa vụ thuế của họ (trong khuôn khổ quy tắc xã hội và văn hoá).
Do đó, sự phản ứng thích hợp từ phía cơ quan thuế chính là giúp cho đối tượng nộp
thuế dễ dàng thực hiện nghĩa vụ đó. Cơ quan thuế tạo điều kiện dễ dàng cho đối
tượng nộp thuế tuân thủ bằng cách tư vấn một cách rõ ràng cho họ về nghĩa vụ thuế
ngay từ khi họ bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình. Về lâu dài, làm cho tuân
thủ dễ dàng có thể bao gồm toàn bộ các sáng kiến mà cơ quan thuế có thể thực hiện
để cải thiện việc cung cấp dịch vụ. Cơ quan thuế mở rộng việc cung cấp dịch vụ
điện tử để tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp và cải thiện độ tin cậy
của thông tin mà cơ quan thuế nhận được.
Thực hiện thủ tục hành chính thuế.
Nguyễn Thị Thanh Hoài và các thành viên (2011) cho rằng các quy trình
nghiệp vụ quản lý thuế, các thủ tục về thuế (thủ tục đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế,
hoàn thuế,…) có tính ổn định, minh bạch rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi tối đa và
11
12
trong một cộng đồng xã hội.
Xử lý vi phạm hành chính về thuế.
Theo OECD (2004), những cuộc điều tra về tác động của những biện pháp
ngăn ngừa như phạt hành chính và đe dọa khởi tố cho thấy đây là các biện pháp
khống chế về thời gian đối với hành vi tuân thủ của đối tượng nộp thuế. Tuy nhiên,
các nghiên cứu cho thấy rằng những người tuân thủ muốn những người không tuân
thủ phải bị trừng phạt. Các hình thức trừng phạt nghiêm khắc sẽ có hiệu quả nhất
khi được sử dụng cùng với một hệ thống trừng phạt nhẹ hơn. Về lý thuyết, các hình
thức trừng phạt càng lớn hơn và càng đa dạng hơn thì các nhà quản lý càng thành
công rực rỡ hơn khi truyền đạt một cách nhẹ nhàng. Sự trừng phạt là quan trọng,
nhưng không phải là một cái rào chắn mà là một cơ chế để thuyết phục đối tượng
nộp thuế rằng những người khác cũng đang tuân thủ.
2.2.4. Nhân tố tâm lý cảm nhận.
Một số nghiên cứu cho thấy đây là một nhân tố giải thích quan trọng nhất
đối với hành vi không tuân thủ. Tuy nhiên, việc cố tìm kiếm những cơ hội có khả
năng không tuân thủ chưa được nghiên cứu một cách rõ ràng – ví dụ việc lựa
chọn giữa tự kinh doanh và chế độ làm công ăn lương (OECD, 2004).
Tuyên dương doanh nghiệp khi thực hiện tốt nghĩa vụ thuế.
Một số biện pháp khuyến khích đối tượng nộp thuế có thể có tác động tích
cực đến hành vi tuân thủ (có nghĩa là các đối tượng nộp thuế trở nên tuân thủ hơn),
mặc dù điều này cần phải được tìm hiểu hơn nữa (OECD, 2004).
Cảm nhận về rủi ro khi không tuân thủ thuế.
Nếu một đối tượng nộp thuế có cơ hội không tuân thủ và nghĩ rằng chỉ có rủi
ro không đáng kể nếu bị phát hiện thì đối tượng nộp thuế đó có thể chấp nhận rủi ro
này. Điều này có thể dẫn đến việc kê khai thấp một số loại thu nhập nào đó. Ví dụ,
thu nhập từ tiền lương và tiền công thường là các khoản thu nhập mà cơ quan thuế
kinh doanh; Tập trung - trong nước hay quốc tế; Số liệu tài chính – đầu tư cơ bản;
Trung gian kinh doanh.
Nhân tố ngành như: Quy mô ngành; Các đối tác trong ngành; Tỷ lệ lãi; Cơ
cấu chi phí; Các điều tiết của ngành; Phác đồ kinh doanh; Các vấn đề ngành nghề
như mức độ cạnh tranh; Các nhân tố mùa vụ và cơ sở hạ tầng.
Nhân tố xã hội học như: Chuẩn mực văn hóa; Tính thiểu số; Thái độ đối với
Chính phủ; Tuổi; Giới tính; Trình độ giáo dục.
Nhân tố kinh tế như: Đầu tư; Tỷ lệ lãi suất; Hệ thống thuế; Chính sách
Chính phủ; Ảnh hưởng quốc tế; Lạm phát; Thị trường.
Các nhân tố tâm lý như: Tham lam, rủi ro, sợ hãi, tin tưởng; Các giá trị; Tính
công bằng; Cơ hội trốn.
Nghiên cứu của Mohd Rizal Palil (2010) về “Kiến thức thuế và
những nhân tố quyết định sự tuân thủ thuế trong hệ thống tự đánh giá tại
Malaysia”.
Nghiên cứu được Mohd Rizal Palil (2010) thực hiện tại Malaysia tập trung
vào nghiên cứu sự hiểu biết về kiến thức thuế của người nộp thuế và tìm kiếm bằng
chứng thực nghiệm về các nhân tố quyết định sự tuân thủ thuế tại Malaysia. Kết
quả của nghiên cứu thực nghiệm này cho thấy bằng chứng thực nghiệm và cung
cấp chiến lược cải thiện cho cơ quan thuế bằng cách nghiên cứu các điểm yếu cố
hữu của hệ thống thực thi thuế hiện nay và tìm ra mô hình toàn diện về các nhân tố
quyết định sự tuân thủ thuế cho Malaysia.
15
KHẢ NĂNG BỊ KIỂM
TOÁN THUẾ
NHẬN THỨC VỀ CHI
TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ
chịu thuế, khả năng bị kiểm toán thuế, sự kiểm toán thuế, thuế suất, lợi ích từ việc
đóng thuế, hình phạt và tiền phạt vi phạm. Nhóm nhân tố phi kinh tế bao gồm các
nhân tố như thái độ đối với các loại thuế, những nhân tố cá nhân, chuẩn mực xã hội
và quốc gia, sự công bằng của hệ thống thuế.
Sự kiểm
toán thuế
Thuế suất
Lợi ích từ
việc đóng
thuế
Hình phạt
Khả năng bị
kiểm toán thuế
Mức thu
nhập chịu
thuế
Tiền phạt
vi phạm
Nhân tố
kinh tế
Sự tuân thủ
thuế
Nhân tố