BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
LÊ ĐÔNG HIẾU
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, PHÂN BỐ VÀ
THÀNH PHẦN HÓA HỌC TINH DẦU CỦA CÁC LOÀI TRONG
HỌ HỒ TIÊU (PIPERACEAE) Ở BẮC TRUNG BỘ
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 62.42.01.11
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Trần Minh Hợi
2. GS. TS. Trần Đình Thắng
HÀ NỘI – 2017
Luận án được hoàn thành tại Học viện Khoa học và Công Nghệ
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. Trần Minh Hợi
2. GS. TS. Trần Đình Thắng
Người phản biện 1:
Người phản biện 2:
hướng hiện nay của các nhà khoa học trên thế giới đang tập trung nghiên cứu không
chỉ về mặt hình thái mà đặc biệt là các hợp chất hóa học có ở trong họ này nhằm ứng
dụng trong y dược học.
Kinh nghiệm dân gian cho thấy có nhiều loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae)
được đồng bào các dân tộc sử dụng các bộ phận khác nhau để làm thuốc, làm rau
ăn,... Do vậy, nghiên cứu họ Hồ tiêu (Piperaceae) để có cơ sở khoa học nhằm khai
thác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thực vật đã và đang là mối quan tâm lớn
của nhân loại. Trong số các nhóm tài nguyên thực vật thì nhóm cây chứa tinh dầu
chiếm vị trí rất quan trọng. Đây là nguồn nguyên liệu thiết yếu cho nhiều ngành công
nghiệp như mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm... Hiện nay, hầu hết các loài trong họ
Hồ tiêu (Piperaceae) đều có khả năng sinh tổng hợp và tích luỹ các hợp chất tự nhiên,
đặc biệt là tinh dầu.
Bắc Trung Bộ là một trong những trung tâm đa dạng sinh học không chỉ ở Việt
Nam mà còn của thế giới. Nơi đây, có thể còn nhiều loài động, thực vật mới; trong đó,
họ Hồ tiêu (Piperaceae) có thể tiềm ẩn nhiều loài mới và là nguồn tài nguyên vô cùng
phong phú và đa dạng.
Những kết quả điều tra, nghiên cứu, thu thập các dữ liệu về các đặc điểm hình
thái, sinh học, sinh thái, hóa học nhằm đánh giá đầy đủ tiềm năng về nguồn tài
2
nguyên đa dạng của họ Hồ tiêu (Piperaceae) là lý do mà tác giả luận án đã chọn đề
tài: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, phân bố và thành phần hoá học tinh
dầu của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ.
2. Mục tiêu
Đánh giá được tính đa dạng thành phần loài, một số đặc điểm sinh học, phân
bố và thành phần hóa học trong tinh dầu của một số loài trong họ Hồ tiêu
(Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
được sử dụng của cùng một loài. Công dụng phổ biến nhất của chi này theo kinh
nghiệm dân gian là để chữa các bệnh về đường tiêu hóa (bệnh dạ dày, đầy hơi, tiêu
chảy, táo bón), giảm đau (bệnh thấp khớp, đau lưng, đau răng) và kháng khuẩn,
chống viêm (viêm phế quản, vết thương phần mềm, viêm đường tiêu hóa).
Những chế phẩm khác trong thành phần có chứa dịch chiết từ một số loài thuộc
chi Piper L. được sử dụng để chữa bệnh như: Eupolin (chứa cao đặc lá Trầu không và
cao đặc Cỏ lào có tác dụng chữa viêm lợi, viêm chân răng); Sakantin có chứa dịch
chiết từ quả của hai loài Piper nigrum L., Piper longum L. và gừng giúp kích thích
tiêu hóa; sản phẩm Armorex T (chứa hạt tiêu, tinh dầu tỏi, tinh dầu mè…, có tác dụng
kháng khuẩn, chống oxy hóa, giảm co thắt, chữa tiêu chảy). Đặc biệt, một số sản
phẩm chứa dịch chiết từ rễ loài Piper methysticum G. Forst (có tên gọi khác là kava)
có tác dụng an thần, giảm lo âu. Tuy nhiên, gần đây có một số báo cáo về những tác
dụng phụ trên gan khi sử dụng những sản phẩm này, vì thế, cần thận trọng khi sử
dụng chúng.
1.3. Tinh dầu
Phần này nêu lên khái niệm về cây tinh dầu, Trạng thái tự nhiên và phân bố,
Đặc tính và thành phần hoá học của tinh dầu, Giá trị sử dụng, tầm quan trọng của tinh
dầu và nguyên liệu chứa tinh dầu.
1.4. Nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu họ Hồ tiêu (Piperaceae)
Phần này tác giả đã tổng hợp các công trình nghiên cứu về tinh dầu của họ Hồ tiêu
(Piperaceae) ở trên thế giới và ở Việt Nam.
4
1.5. Điều kiện tự nhiên xã hội ở Bắc Trung Bộ
Phần này nêu lên vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, đặc điểm khí hậu, đặc điểm
kinh tế xã hội, đặc điểm hệ thực vật của khu vực nghiên cứu.
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ VQG Bạch Mã: tuyến Trung tâm Vườn - Thác Thủy Điện - thác Đá Dựng;
tuyến Trĩ Sao - Đỉnh Bạch Mã - Đỗ Quyên; tuyến Hương Phú - Thị trấn Khe Tre,
Thượng Nhật - Hưng Lộc).
+ Khu BTTN Xuân Liên: tuyến Xuân Liên - Vạn Xuân, tuyến Yên Nhân – Bát Mọt.
+ Khu BTTN Pù Luông: tuyến Phú Lệ - Thung Hang; tuyến Cổ Lũng – Lũng Cao.
+ Khu BTTN Pù Huống: tuyến Châu Thái - Nam Sơn – Bắc Sơn – Bình Chuẩn;
tuyến Châu Hoàn – Diên Lãm – Quang Phong.
+ Khu BTTN Pù Hoạt: Tri Lễ - Nậm Giải; Hạnh Dịch - Thông Thụ - Đồng Văn.
+ Khu BTTN Kẻ Gỗ: Trung tâm du lịch đến các khu vực chạy theo phía Nam – Bắc.
2.3.1.3. Phương pháp thu mẫu và định loại
Mỗi cây ít nhất thu 2-3 mẫu tiêu bản ở cùng 1 địa điểm. Sau khi thu mẫu ghi số
hiệu mẫu. Khi thu mẫu thì ghi chép tỉ mỉ ngay những đặc điểm dễ bị mất khi mẫu khô
như: màu sắc, hình dạng tự nhiên của hoa, quả, lá ... Ngoải ra còn chụp ảnh tổng thể
và chi tiết từng bộ phận của cây bằng máy ảnh kỹ thuật số Canon.
Sau khi mẫu được xử lý sơ bộ ở ngoài thực địa, tiếp tục xử lý khô tại phòng mẫu
Dược liệu, Bộ môn Dược liệu, Trường Đại học Y Khoa Vinh.
Phương pháp dùng để nghiên cứu phân loại là phương pháp hình thái so sánh.
Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống nhưng vẫn là phương pháp thông dụng
được sử dụng hiện nay. Trong phương pháp này dựa trên các đặc điểm của cơ quan
sinh dưỡng và cơ quan sinh sản để nghiên cứu trong đó chủ yếu dựa vào cơ quan sinh
sản như vị trí cụm hoa, cấu tạo của hoa, đặc điểm của lá bắc, đài hoa, cấu tạo của nhị
và đầu nhụy khi tạo thành quả. Bởi vì đây là những đặc điểm ít thay đổi dưới tác
động của điều kiện sống.
Tổng số mẫu thu được là hơn 500 mẫu, số mẫu đã phân tích và xác định tên khoa
6
học hơn 300 mẫu. Mẫu hiện được lưu trữ ở phòng mẫu Dược liệu, bộ Môn Dược liệu,
Trường Đại học Y Khoa Vinh.
Các tài liệu chính được sử dụng trong quá trình nghiên cứu mẫu là: Phạm Hoàng
Hoặc theo công thức
a
X(%) =
x 100%
b
(khi d>1)
7
Trong đó: a là thể tích của tinh dầu (ml); b là khối lượng của mẫu (gam).
Tinh dầu được làm khô bằng Na2SO4 khan, đựng trong các lọ tiêu chuẩn đậy
kín, bảo quản ở 0-5oC trước khi đem phân tích.
2.3.2.3. Phương pháp phân tích thành phần hoá học tinh dầu
Chuẩn bị mẫu phân tích cho sắc ký khí : Hoà tan 1,5 mg tinh dầu đã được làm
khô bằng Na2SO4 khan trong 1ml hexan tinh khiết loại dùng cho phân tích sắc ký.
Sắc ký khí (GC) với đầu dò FID: Được thực hiện trên máy Agilent Technologies
HP 6890N Plus với detectơ FID, cột mao quản HP-5MS chiều dài 30 m, đường kính
trong (ID) = 0,25 mm, lớp phim mỏng 0,25m với khí mang là hydro. Nhiệt độ
buồng bơm mẫu là 250oC. Nhiệt độ Detectơ là 260oC. Chương trình nhiệt độ 60oC (2
min), tăng 4oC/phút cho đến 220oC, dừng ở nhiệt độ này trong 10 phút.
Sắc ký khí-khối phổ (GC/MS): Được thực hiện trên hệ thống thiết bị sắc ký khí
khối phổ liên hợp Agilent Technologies HP 6890N/ HP 5973 MSD với cột tách và
các điều kiện vận hành sắc ký như nêu ở trên và với Heli làm khí mang.
Việc xác định định tính các thành phần của tinh dầu được thực hiện bằng các
phương pháp sau:
- Dựa trên giá trị của chỉ số lưu giữ (Retention Index), xác định với một dãy các
đồng đẳng n-alkan trong cùng một điều kiện sắc ký.
- Dựa trên sắc ký nội chuẩn (co-injection) với các chất chuẩn thương mại (của
khi mọc ở đỉnh cành và cũng hiếm khi tạo thành cụm gồm nhiều bông mọc ở nách lá.
Cụm hoa có dạng vươn thẳng hoặc uốn cong nhẹ và có thể bị rủ xuống khi chín. Hoa
trần, thường đơn tính (đa số khác gốc, ít khi cùng gốc) hoặc lưỡng tính, không có
cuống. Cánh hoa có thể có màu hồng, màu hạt dẻ, màu xanh xám, màu vàng xanh,
màu trắng đục… Lá bắc nhỏ; mọc đối diện với hoa, đôi khi dính với trục cụm hoa;
hình khiên, hình tam giác hoặc hình tròn; thường nhẵn hoặc có lông mịn. Bộ nhị có
2-6 nhị, chỉ nhị ngắn; bao phấn 2, 2-4 thùy. Bộ nhụy có bầu nhụy rời hoặc đôi khi ôm
lấy trục, 1 ô, 1 lá noãn; đầu nhụy 2-5.
+ Quả: Hạch, có hoặc không có cuống; hình trứng, hình cầu, hình trứng ngược hoặc
có mặt cắt hình tam giác, hiếm khi hình bầu dục; khi chín thường có màu đỏ hoặc
vàng. Quả thường nhẵn hoặc đôi khi có lông tơ; mỗi quả có 1 hạt. Hạt gần hình cầu,
9
vỏ hạt mỏng; phôi nhỏ, ngoại nhũ dạng bột và cứng.
3.1.2. Đặc điểm sinh thái, mùa hoa, mùa quả của các loài trong họ Hồ tiêu
(Piperaceae)
+ Nơi sống: Các loài chủ yếu leo trườn trên đá hoặc bám lên các loài cây khác như: Tiêu
gắt (Piper acre Blume), Tiêu thượng mộc (Piper arboricola C. DC.), Tiêu ba vì (Piper
bavinum C. DC.), Trầu không (Piper betle L.), Tiêu cam bốt (Piper cambodianum C.
DC.), Tiêu chó (Piper cf. caninum Blume), Tiêu châu đốc (Piper chaudocanum C.
DC.), Tiêu griffithi (Piper griffithii C. DC.), Tiêu maclure (Piper cf. maclurei Merr.),
Hồ tiêu (Piper nigrum L.),… Một số loài mọc ở dưới đất hoặc trong hốc núi đá vôi
như: Rau càng cua (Peperomia pellucida (L.) Kunth.), Càng cua ba lá (Peperomia
parcicilia C. DC.), Tiêu lá gai (Piper boehmeriifolium Wall. ex Miq.), Tiêu lá gai bắc
bộ (Piper boehmeriifolium var. tonkinensis C. DC.), Lá lốt (Piper lolot L.), Lốt (Piper
sarmentosum Roxb.), Tiêu rận (Zippelia begoniifolia Blume ex Schult. & Schult. f.)…
+ Mùa ra hoa, mùa quả: Tùy vào từng loài mà có mùa ra hoa, mùa quả khác nhau
nhưng chủ yếu ra hoa từ tháng 2(3) - 5(6), có quả từ tháng 4 - 8, điển hình là các loài
Rau càng cua (Peperomia pellucida (L.) Kunth.), Càng cua ba lá (Peperomia
Peperomia parcicilia C. DC.
Càng cua ba lá
Th
ĂNĐ
3
Piper acre Blume*
Tiêu gắt
L
CTD
4
Piper albispicum C. DC.*
Tiêu gié trắng
Th
CTD
5
Piper betle L.
Trầu không
L
THU, CTD
9
Piper boehmeriifolium (Miquel)
Tiêu lá gai
Th
THU, CTD
Tiêu lá gai bắc bộ
Th
THU, CTD
Wallich ex C. de Candolle in A. de
Candolle
10
Piper boehmeriifolium var.
CTD
14
Piper cf. caninum Blume*
Tiêu chó
L
CTD
15
Piper carnibracteum C. DC.*
Tiêu lá hoa mập
L
CTD
16
Piper chaudocanum C. DC.
Tiêu châu đốc
L
CTD
20
Piper hainanense Hemsl.*
Tiêu hải nam
L
CTD
21
Piper harmandii C. DC.*
Tiêu harmand
L
CTD
22
Piper hymenophyllum Miq.*
Tiêu lá mỏng
L
THU, CTD
26
Piper cf. maclurei Merr.*
Tiêu maclure
L
CTD
27
Piper majusculum Blume*
Tiêu to
L
CTD
11
28
Piper mutabile C. DC.*
Tiêu biến thể
Th
CTD
32
Piper pubicatulum C. DC.*
L
CTD
33
Piper retrofractum Vahl*
Tiêu dội
L
THU, CTD
34
Piper sarmentosum Roxb.*
Lốt
Th
Bảng 3.2. So sánh số loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ với tổng số
loài đã biết ở Việt Nam
Chi
(2)
Bắc Trung Bộ (1)
Việt Nam (2)
Tỷ lệ % giữa (1) và (2)
Chi
3
4
75,00
Loài và thứ
36
50
72,00
theo Nguyễn Kim Đào (2003).
Các kết quả trình bày trong bảng 3.2 cho thấy, thành phần loài của họ Hồ tiêu ở
C. DC.), Tiêu to (Piper majusculum Blume), Lốt (Piper sarmentosum Roxb.).
3.1.5. Đa dạng về giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) được xác định dựa theo
các tài liệu trong và ngoài nước. Trong số 36 loài và thứ được ghi nhận có mặt ở Bắc
Trung Bộ thì tất cả đều có giá trị sử dụng chiếm 100% tổng số loài và thứ, thuộc 3 nhóm
giá trị sử dụng khác nhau. Nhóm cây cho tinh dầu chiếm tỷ lệ lớn nhất với 34 loài và
thứ, chiếm tỷ lệ 94,4%; tiếp theo là nhóm làm thuốc với 14 loài và thứ (chiếm 38,89%)
so với tổng số loài nghiên cứu; nhóm cây ăn được và làm gia vị với 4 loài (11,11%).
- Nhóm cây cho tinh dầu (CTD)
Hầu như tất cả các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) đều có chứa tinh dầu. Tuy
nhiên, tùy vào từng loài, từng chi mà sự tích lũy hàm lượng tinh dầu khác nhau. Tinh
13
dầu của các loài trong 2 chi Piper, Zippelia có giá trị cao nên được ứng dụng làm mỹ
phẩm, dược phẩm, y học,.... Đã thực hiện nghiên cứu tinh dầu đối với 18 loài thuộc
chi Hồ tiêu – Piper, chưng cất được 48 mẫu và phân tích được 36 mẫu tinh dầu.
- Nhóm cây làm thuốc (THU)
Với 14 loài và thứ, các loài cây làm thuốc chủ yếu là chữa các bệnh thường gặp
trong đời sống người dân như về bồi bổ sức khỏe, bệnh tiêu hóa,... điển hình như:
Rau càng cua (Peperomia pellucida (L.) Kunth.), Tiêu thượng mộc (Piper arboricola
C. DC.), Trầu không (Piper betle L.), Tiêu lá gai (Piper boehmeriifolium (Miquel)
Wallich ex C. de Candolle in A. de Candolle), Tiêu lá gai bắc bộ (Piper
boehmeriifolium var. tonkinensis C. DC.), Tiêu châu đốc (Piper chaudocanum C.
DC.), Tiêu thất (Piper cubeba L. f.), Lá lốt (Piper lolot L.), Tiêu lá tím (Piper longum
L.), Tiêu biến thể (Piper mutabile C. DC.), Tiêu (Piper nigrum L.), Tiêu dội (Piper
retrofractum Yahl), Lốt (Piper sarmentosum Roxb.), Tiêu rận (Zippelia begoniifolia
Blume ex Schult. & Schult. f.).
- Nhóm cây ăn được và cây làm gia vị: (ĂNĐ & GV)
Với 4 loài được người dân sử dụng từ trước đến nay là Lá lốt (Piper lolot),
thành phần chính của tinh dầu là benzyl benzoat (20,5%), sabinen (17,9%), βeudesmol (13,8%), β-phellandren (3,6%).
Ở thân đã xác định được 46 hợp chất chiếm 93,6% tổng lượng tinh dầu. benzyl
benzoat (32,5%), sabinen (13,5%), β-eudesmol (8,4%), farnesol (5,9%) là các thành
phần chính của tinh dầu. Đây là loài lần đầu tiên được nghiên cứu tinh dầu.
3. Thành phần hóa học tinh dầu loài Tiêu cam bốt (Piper cambodianum)
Mẫu loài được thu ở VQG Pù Mát, Nghệ An vào tháng 5 năm 2013 (LĐH 393).
Hàm lượng tinh dầu đạt 0,23 và 0,18% so với trọng lượng tươi. Tinh dầu có màu vàng
nhạt, nhẹ hơn nước. Trong tinh dầu lá được đặc trưng bởi các hợp chất sesquitecpen
chiếm hơn 70%; trong đó các sesquitecpen chứa oxy chiếm 64,1%, các hợp chất
monotecpen chiếm tỷ lệ không đáng kể. Thành phần chính của tinh dầu là δ-cadinen
(10,3%), bicyclogermacren (9,7%), bicycloelemen (8,4%), α-humulen (8,1%), α-pinen
(7,4%). Ở tinh dầu thân cũng được đặc trưng bởi các sesquitecpen chứa oxy chiếm
51,6%; các hợp chất khác chiếm tỷ lệ không đáng kể. β-pinen (11,7%), α-pinen (8,8%),
bicyclogermacren (7,8%), β-caryophyllen (6,4%), α-humulen (6,3%) là các thành phần
chính của tinh dầu. Đây là loài lần đầu tiên được nghiên cứu tinh dầu.
15
4. Thành phần hóa học tinh dầu loài Tiêu chó (Piper cf. caninum)
Mẫu lá và thân được thu ở Khu BTTN Kẻ Gỗ vào tháng 7 năm 2013. Số hiệu mẫu
(LĐH 364). Hàm lượng tinh dầu đạt 0,2 : 0,18 : 0,15 và 0,30% so với trọng lượng tươi;
tinh dầu có màu vàng nhạt, nhẹ hơn nước. Tinh dầu ở 4 bộ phận (lá, thân, rễ và quả) đều
được đặc trưng bởi các sesquitecpen hydrocacbon chiếm từ 45,1% đến 65,6% tổng
lượng tinh dầu; các monotecpen chiếm từ 10,1% đến 17,3%; các thành phần khác chiếm
tỷ lệ không đáng kể. Thành phần chính của 4 mẫu tinh dầu là 4-allyl-1,2diacetoxybenzen (6,4%-24,6%), bicyclogermacren (9,4%-17,1%), bicycloelemen (2,5%8,4%), β-elemen (3,7%-7,3%), β-caryophyllen (2,8%-7,2%), α-humulen (2,5-6,7%).
Khi so sánh với công trình của Salleh ở Malaysia thì ở lá được đặc trưng bởi
safrol (17,1%); trong mẫu nghiên cứu thì không thấy; β-pinen (8,9%), ở mãu nghien
cứu thì rất thấp (0,6%); linalool (7,0%) trong mẫu nghiên cứu là 1,6%. Trong thân
cũng được đặc trưng bởi safrol (25,5%), β-caryophyllen (9,8%), đối với mẫu nghiên
cứu thì không có hoặc rất thấp. Như vậy, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đã ảnh hưởng
dầu. Đây là loài lần đầu tiên được nghiên cứu tinh dầu.
8. Thành phần hóa học tinh dầu loài Tiêu hải nam (Piper hainanense)
Mẫu lá và thân được thu ở Khu BTTN Kẻ Gỗ vào tháng 7 năm 2013. Số hiệu
mẫu (LĐH 359). Hàm lượng tinh dầu đạt 0,30 và 0,25% so với trọng lượng tươi; tinh
dầu có màu vàng nhạt. Trong tinh dầu được đặc trưng bởi sesquitecpen hydrocacbon
(31,0%), monotecpen hydrocacbon (12,0%), sesquitecpen chứa oxy (10,0%), các hợp
chất khác (17,2%). Thành phần chính của tinh dầu là β-caryophyllen (16,7%), 2tridecanon (4,6%),sabinen (4,4%).
Ở thân đã xác định được 55 hợp chất chiếm 86,6%. Tinh dầu với các hợp chất
điển hình là sesquitecpen hydrocacbon (37,6%), các hợp chất khác chiếm từ 3,6-13,5%.
β-caryophyllen (10,5%), 2-decenal (7,4%), germacren D (4,6%),limonen (4,5%) là các
thành phần chính của tinh dầu. Đây là loài lần đầu tiên được nghiên cứu tinh dầu.
9. Thành phần hóa học tinh dầu loài Tiêu harmand (Piper harmandii)
Lá và thân của loài Tiêu harmađ (Piper harmandii) được thu ở VQG Pù Mát,
Nghệ An vào tháng 8 năm 2013(LDH 343). Hàm lượng tinh dầu tương ứng đạt
0,20% và 0,17% trọng lượng tươi, tinh dầu có màu vàng, nhẹ hơn nước.
Thành phần chính được xác định từ lá và thân là các monotecpen hydrocarbon
(21,6% và 25,2%), các sesquitecpen chứa oxy (20,2% và 11,2%) và các hợp chất
17
thơm (34,1% và 53,7%). Thành phần chính chung của 2 mẫu tinh dầu là sabinen
(14,5% và 16,2%), benzyl benzoat (20,0% và 29,4%) và benzyl salicylat (14,1% và
24,3%). Đây là loài lần đầu tiên phân tích tinh dầu.
10. Thành phần hóa học tinh dầu loàiTiêu lá tím (Piper longum)
Lá của loài Tiêu lá tím (Piper longum) được thu ở VQG Pù Mát, Nghệ An vào
tháng 8 năm 2013 (LDH 342). Hàm lượng tinh dầu đạt 0,20% và 0,15% so với trọng
lượng tươi, tinh dầu có màu vàng, nhẹ hơn nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong
tinh dầu chủ yếu là các sesquitecpen chiếm 89,5% và 90,3% tương ứng với lá và
thân; trong đó các sesquitecpen chứa oxy chiếm 48,6 và 67,2%; các thành phần khác
chiếm tỷ lệ không đáng kể.
tiên được nghiên cứu tinh dầu.
14. Thành phần hóa học tinh dầu loài Tiêu gié thòng (Piper pendulispicum)
Mẫu lá và thân được thu ở VQG Vũ Quang vào tháng 8 năm 2013(LĐH 381).
Hàm lượng tinh dầu đạt 0,28 và 0,21% trọng lượng tươi; tinh dầu có màu vàng nhạt.
Trong tinh dầu lá được đặc trưng bởi các sesquitecpen chiếm (75,2%); các
sesquitecpen chứa oxy chiếm 71,9%; các sesquitecpen hydrocacbon chiếm 3,3%; các
hợp chất khác chiếm tỷ lệ không đáng kể. Tinh dầu thaanh chủ yếu là các sesquitecpen
chiếm (59,8%); trong đó các sesquitecpen chứa oxy chiếm 32,4% và các sesquitecpen
hydrocacbon chiếm 27,4%. Đây là loài lần đầu tiên được nghiên cứu tinh dầu.
15. Thành phần hóa học tinh dầu loài Tiêu pierre (Piper pierrei)
Mẫu lá và thân được thu ở VQG Pù Mát vào tháng 5 năm 2014 (LDH 305). Hàm
lượng tinh dầu từ lá và thân Tiêu pierre (Piper pierrei C. DC.) đạt 0,15% và 0,12%
theo nguyên liệu tươi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trên cùng 1 cây thì sự tích lũy
tinh dầu trong ở các bộ phận cũng khác nhau; thành phần chính cũng biến đổi đáng
kể ở 2 bộ phận, trong lá α-gurjunen chiếm 18,5% còn ở thân là 10,0%; ngược lại βcaryophyllen ở thân lại chiếm 14,0% còn ở lá là 10,1%; ngoài ra các hợp chất khác
cũng tương tự như α-copaen và cis calamenen. Các thành phần chung của 2 mẫu tinh
dầu là α-gurjunen (18,5% và 10,0%), β-caryophyllen (10,1% và 14,0%), α-copaen
(8,0 và 10,2%) và cis calamenen (6,7% và 6,8%).
16. Thành phần hóa học tinh dầu loài Tiêu sóng có lông (Piper pubicatulum)
Mẫu lá và thân được thu ở Khu BTTN Kẻ Gỗ vào tháng 7 năm 2013 (LĐH 358).
Hàm lượng tinh dầu đạt 0,25 và 0,2% so với trọng lượng tươi; tinh dầu có màu vàng
19
nhạt. Các thành phần đặc trưng cho mẫu lá và thân gồm: bicyclogermacren (11,5%11,9%), β-caryophyllen (6,5%-11,8%),germacren D (6,6%-8,1%), α-humulen (5,3%10,7%), β-elemen (9,8%-11,0%). Đây là loài lần đầu tiên được phân tích tinh dầu.
17. Thành phần hóa học tinh dầu loài Tiêu dội (Piper retrofractum)
Lá của loài Tiêu dội (Piper retrofractumVahl) được thu ở Khu BTTN Kẻ Gỗ,
Hà Tĩnh vào tháng 8 năm 2012(LDH 334). Hàm lượng tinh dầu đạt 0,2% so với trọng
lượng tươi, tinh dầu có màu vàng, nhẹ hơn nước. Trong tinh dầu chủ yếu là các
0,20
49
Lá
0,15
49
Thân
0,12
40
Lá
0,22
47
Thân
0,17
46
Tỷ lệ % một số thành phần
chính của tinh dầu
Lá
0,23
45
Thân
0,18
50
Lá
0,20
50
Thân
0,18
50
Quả
0,30
36
Lá
0,15
60
Piper cf. caninum
Piper
carnibracteum
Piper
chaudocanum
Piper
gymnostachyum
(13,5%), β-eudesmol (8,4%),
farnesol (5,9%)
δ-cadinen
(10,3%),
bicyclogermacren
(9,7%),
bicycloelemen
(8,4%),
αhumulen (8,1%), α-pinen (7,4%)
β-pinene
(11,7%),
α-pinen
(15,5%), germacren D (12,2%),
β-caryophyllen (10,1%)
bicycloelemen
(17,2%),
bicyclogermacren (14,3%), βmyrcen (16,3%), (E)-β-ocimen
(10,8%)
bicyclogermacren
(11,8%),
cuparen (15,8%), bicycloelemen
(8,3%), β-myrcen (8,2%), βcaryophyllen (7,5%), (E)-βocimen (7,3%)
bicyclogermacren
(10,7%),
bicycloelemen (9,9%) và muurolol (6,8%)
21
8
9
10
11
14
15
0,10
43
Thân
0,15
35
Lá
0,25
40
Thân
0,20
21
Lá
0,15
36
Lá
0,25
Piper longum
Piper cf. maclurei
12 Piper majusculum
13
Thân
Piper mutabile
Piper
pendulispicum
Piper pierrei
limonen (33,6%), α-phellandren
(27,8%) và α-pinen (18,6%)
β-caryophyllen
(16,7%),
2tridecanon (4,6%), sabinen (4,4%)
β-caryophyllen
(10,5%),
2decenal (7,4%), germacren D
(4,6%), limonen (4,5%)
benzyl benzoat (20,0%), α-cadinol
(17,0%), sabinen (14,5%), benzyl
salicylat (14,1%)
(10,4%), β-caryophyllen (7,1%),
germacren D (6,9%), sabinen
(6,4%), α-terpinolen (6,1%)
α-gurjunen
(18,5%),
βcaryophyllen (10,1%), α-copaen
22
(8,0%), cis calamenen (6,7%)
Thân
0,12
40
Lá
0,25
39
Thân
0,20
14
16 Piper pubicatulum
bicycloelemen (10,3%)
benzyl benzoat (14,4%), myrcen
(14,4%), bicycloelemen (9,9%),
bicyclogermacren, (7,0%) và βcaryophyllen (5,3%)
benzyl benzoat (49,1%), benzyl
alcohol (17,9%), 2-hydroxybenzoic acid phenylmethyl ester
(10,0%), 2-butenyl-benzen (7,9%)
Kết quả phân tích 36 mẫu tinh dầu ở các bộ phận lá, cành thuộc 18 loài trong
họ Hồ tiêu (Piperaceae) thì hàm lượng tinh dầu biến động từ 0,10%-0,30% so với
trọng lượng tươi. Tinh dầu có màu vàng đến màu nhạt và nhẹ hơn nước. Số hợp chất
xác định được từ 14 đến 65 hợp chất chiếm từ 73,9%-99,4% tổng lượng tinh dầu. Các
thành phần chính trong tinh dầu của các loài cũng khác nhau và rất đa dạng. Tuy
nhiên, trong các loài được nghiên cứu thì tinh dầu được đặc trưng bởi các
monotecpen và các sesquitecpen.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, thành phần hoá học trong tinh dầu của một
số loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ đã rút ra một số kết luận sau:
1. Xác định được 36 loài và thứ thuộc 3 chi, trong đó chi Piper là đa dạng nhất với
33 loài và ghi nhận vùng phân bố mới của 28 loài cho khu hệ Thực vật Bắc Trung Bộ.
2. Đã mô tả một số đặc điểm sinh học (hình thái, sinh thái, phân bố) của các loài
được nghiên cứu; mùa ra hoa chủ yếu từ tháng 2 đến tháng 6, mùa quả từ tháng 5 đến
tháng 9; các loài chủ yếu sống ở rừng thứ sinh, nơi ẩm.
23
3. Hầu hết các loài được nghiên cứu trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) đều có giá trị
sử dụng; cây cho tinh dầu với 34 loài, cây làm thuốc 14 loài, cây làm gia vị và cây ăn
được với 4 loài.